- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Vết cắt

08 Tháng Chín 201412:00 SA(Xem: 57378)


thai_bao_1-_chan_dung-content
Nhà văn Thái Bảo- Florida 2014

LTS : Đọc truyện Thái Bảo đưa người đọc vào những bất ngờ và con đường đưa đến những bất ngờ đầy những lôi cuốn đưa đẩy với các chi tiết được bố trí khéo léo xung quanh nhiều khúc mắc hấp dẫn.Thái Bảo viết phong phú, trải rộng từ Đông sang Tây, đi ngược về quá khứ, trở về hiện tại, đi sâu vào những giấc mơ ác mộng rồi quay về thực tại. Có lẽ điều thích thú lớn là những truyện hay này đến từ một người mà sự nghiệp, môi trường sinh hoạt của người đó và những đòi hỏi khó khăn cho thành công trong môi trường đó đã không thể kềm chế được một trí tưởng tượng văn chương phong phú.Thái Bảo tốt nghiệp bác sĩ tại Việt Nam và hiện nay đang nghiên cứu khoa học, lãnh vực nano sinh hóa tại tiểu bang Florida, Hoa Kỳ. Hợp Lưu trân trọng giới thiệu các truyện ngắn đặc sắc của Thái Bảo đến quí độc giả và văn hữu.

Tạp Chí Hợp Lưu






Vừa chớm tháng 12 mà tuyết đã rơi hết lớp này đến lớp khác dày đặc, phủ một màu trắng lạnh lên thị trấn Patterson, tiểu bang Iowa. Tôi ngồi bất động, lẩm bẩm đếm tuyết rơi. Hai giờ sáng. Đêm lặng. Dăm ba phút, bà chủ nhà Munro lại mở cửa ngóng ra. Sao con không chịu vào nhà. Trời lạnh chừng 36 độ F, nhưng tim tôi đã đóng băng. Vài tiếng đồng hồ trước, tôi mơ màng, hi vọng, háo hức khi hình dung căn nhà này như một chốn dừng chân. Thế mà… Trên tay tôi, một bức thư nhàu nát, không biết đã đọc bao lần. Tôi không muốn vào nhà nữa. Mong trời mau sáng, tôi lái xe quay lại thủ phủ Iowa, rồi bay về Minneapolis.

Ánh đèn ngoài sân hắt lên mặt tôi vàng èo ọt. Khác hẳn khuôn mặt hồng hào của ông già Noel treo ngay cửa chính. Mới ngưỡng bốn mươi, mặt tôi đã đầy nếp nhăn - dấu ấn thời gian hai mươi lăm năm rong ruổi khắp nước Mỹ hòng lý giải góc khuất cuộc đời. Ngày chia tay, tôi hứa với Thắm nếu không tìm được cha tôi sẽ về. Bao mùa Giáng sinh, tin cha vẫn mịt mù. Thư viết cho Thắm rồi để đó, đã đầy hộc tủ, và lớp bụi thời gian phủ trên những mảnh vụn khốn khó đời tôi.

Nhíu chân mày, có lẽ tôi lạnh, hằn rõ năm nếp nhăn vắt ngang vầng trán. Đôi giày boot nhà binh đầy vết dầu mỡ ngọ nguậy trong tuyết. Mới nửa tiếng, tuyết đã mon men từ ngoài sân lên thềm bậc cửa. Trời nắng hay mưa, tôi đều mang giày cao cổ. Chút di truyền gì đó từ người cha cựu chiến binh? Không hề. Chẳng qua tôi muốn khác người và ngầu hơn.

Trời lạnh mà người tôi nóng ran. Chết tiệt, sốt thật rồi. Tôi mở túi y tế cá nhân. Nuốt vội vài viên giảm sốt Tylenol. Lúc nào tôi cũng uống thuốc gấp đôi liều chỉ dẫn. Hãng thuốc tây Jonhson & Jonhson chỉ tính liều theo cân nặng mà quên mất bản tính lì lợm kháng thuốc của tôi. Rời bậc thềm, tôi nện gót giày trên ván gỗ rồi ngả mình trên chiếc xích đu trắng đã loang lổ vết sơn. Trong cơn mê, tôi biến thành thiên thần có cánh bay theo chiều không gian thứ tư, chiều thời gian. Tôi lướt qua cơ thể mình đầy vết sẹo hữu hình và vô hình. Luồn qua lớp áo dạ dày cộp, bàn tay tôi mân mê các vết sẹo. Bản thân mỗi vết cắt là hiện thân một câu chuyện buồn. Tôi nhớ NÓ của thời trẻ ham chơi. NÓ lúc nào cũng hiện diện trong tôi, trong giấc mơ, cả những lúc ngồi một mình rít thuốc...

*

* *

Nó gần như mồ côi. Mà mồ côi thật. Mới ba ngày tuổi, nó đã nằm bơ vơ một góc trong chánh điện chùa Phước Hưng. Nó ở với mẹ nuôi. Bà cũng chẳng khá gì. Nó tự bươn chải tất cả ngay từ những bước chân đầu tiên. Cuộc đời nó là chuỗi ngày hoảng loạn và vô vọng trốn chạy quá khứ, đi tìm hạnh phúc. Mẹ nuôi chết. Nó lại trôi dạt, lúc Sông Bé, khi Tây Ninh. Ngạc nhiên, bàn tay phải của nó lúc nào cũng ngửa. Dị tật? Hay thói quen xin ăn từ lúc nhỏ.

Ông trời thương nó. Dù lang thang cơ nhỡ nhưng nó có vóc dáng khác người. Trong đám trẻ nghèo xơ xác ấy, nó nổi bật nhất. Mái tóc vàng mềm như lụa từng lọn thả dài (nghèo, tiền đâu cắt tóc), khuất khuất che che đôi mắt màu xanh ve chai, tương phản nước da trắng như tuyết, dù suốt ngày giang nắng. Nó, một sản phẩm tuyệt hảo nhưng bị ruồng bỏ người mẹ Việt và cha Mỹ. Như bao đứa trẻ lai, người ta gọi nó bằng cái tên mĩ miều nhưng khinh miệt, thằng Mỹ. Nó luôn năn nỉ bọn trẻ trong xóm gọi nó là Phương, Trần Phương. Họ Trần chính là họ mẹ nuôi. Nó chẳng biết mẹ ruột là ai, họ gì. Nhưng nó luôn bênh vực mẹ.

Thằng nào, con nào trong xóm dám mỉa mai mẹ nó làm đĩ, lấy Mỹ đẻ ra nó, coi như số đứa đó đã tận. Nó phùng má, mặt đỏ như tượng Quan Công, gân máu nổi hằn lên hai bên cổ, rồi đè đứa hỗn hào xuống đất đánh tưng bừng. Đánh đã xong, nó khóc. Mẹ tao không phải như vậy. Bọn trẻ nhao nhao, sao mày biết. Nó im lặng lườm bọn nhóc. Cởi nút áo trên cùng, lấy ra khỏi cổ chiếc đồng hồ quả quýt hiệu Charles Hubert. Mặt ngoài khắc chạm tinh xảo hình chú chim đại bàng đang sải cánh. Phía dưới chạy lượn dòng chữ Kenneth Munro. Lật nắp bên trong, bên phải là mặt đồng hồ, bên trái lồng tấm hình mẹ và cha. Mẹ nuôi kể lại, nhà chùa nhặt được nó cùng chiếc đồng hồ. Nó qúy lắm, nâng niu đồng hồ như báu vật. Ai gạ bán cũng lắc đầu, dù có lúc nó đói tới gần chết, nằm tã tượi bên đường như chiếc mền rách. Nó phải giữ chiếc đồng hồ để tìm cha mẹ. Ngắm mẹ, mắt nó sáng rực, rồi bảo, mẹ tao nhìn hiền và thánh thiện như vậy mà tụi bay dám... Nói xong nó bỏ đi một mạch.

Mười bốn tuổi nó đã dậy thì. Vỡ giọng và biết nhìn lén con gái. Cách ngày nó lại lẻn vào căn nhà hoang cuối xóm. Người ta đồn có ma trong nhà đó. Nó chả sợ. Nó vô đó để bắn cái hoan lạc qua cửa sổ, vút qua vườn trái cây. Phiêu lắm. Nhưng xong rồi nó lại có cảm giác lạc lõng ê chề. Ước gì có Thắm... Một lần đang đê mê, nó hấp tấp rụt lại bởi thoáng mái tóc dài màu vàng hoe lướt qua cửa cùng nụ cười khanh khách. Nó biết ngay con Thắm. Trong xóm này chỉ có hai đứa trẻ tóc vàng. Nó, do di truyền. Và con Thắm, do giam nắng. Từ đó nó cạch bén mảng căn nhà hoang.

Đôi khi nó đi đây đó vài tháng. Chờ chực, bưng, húp tô phở thừa của khách. Rồi lại về xóm nghèo. Gặp lại Thắm, chẳng biết mừng hay vui. Con Thắm cười nhạo: Mẹ tao nói, giang hồ như mày chỉ giang hồ vặt, nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà...

Thời đó, đám trẻ suốt ngày quần xà lỏn tòn ten chạy rông từ đầu đến cuối xóm. Và cung đường rầy xe lửa cắt ngang làng hiển nhiên thành điểm chơi kì vĩ. Cứ nhắc đến đường ray, mắt tụi nó sáng như đèn pha. Nó, thủ lĩnh bày đủ trò cho đám con nít. Cả bọn thi nhau đặt đồng tiền kẽm trên đường rầy. Tàu chạy qua nghiến ren rét, chà nát đồng tiền. Bọn chúng lao nhao, tiền tao hình chữ C, tiền tao hình chữ L… Người lớn không biết gì vội mắng tụi bây con nít ranh nói bậy. Một tay chống nạnh, tay kia giơ đồng tiền bị uốn cong, nó cãi cho bằng được.

Chơi trò đồng xu chán, nó liền bày trò chổng mông trên đường ray lắng nghe tiếng tàu chạy từ xa. Đoán thử tàu hàng hay tàu chợ. Lúc nào nó cũng thắng cuộc. Lỗ tai nó thính lạ thường. Mỗi lần chổng mông, vành tai nó vểnh lên đung đưa, rồi hướng về hướng tàu chạy. Thảo nào, nó đoán trúng chóc. Tàu hàng, nặng, nghe âm đùng đục, chắc nịch. Tàu khách, nhẹ hơn, nghe âm rất thanh, cứ bong bong hẳn lên.

Nó thích thú chiêm ngưỡng cái đám chổng mông hai bên đường rày. Mông con Thắm lúc nào cũng nổi bật, tròn trịa, to nhất đám. Mới mười lăm tuổi con Thắm đã lớn phổng phao. Mỗi khi con Thắm ngúng nguẩy, dường như trái đất đang quặn mình trong cơn động đất.

Đột nhiên nó đứng dậy hớt hải. Đường rầy bị lệch hoặc con ốc lung lay. Bọn trẻ chia thành hai nhóm chạy về phía tàu đang vào ga. Nó chạy như bay trên đường ray. Mồ hôi nhễ nhại. Mặt trời trên đầu đỏ như máu. Những hạt đá xanh to bằng trứng gà bật tới tấp vào chân. Mặc kệ, nó vẫn chạy. Ngã, đứng lên, rồi chạy tiếp, hai đầu gối tứa máu. Cuối cùng nó đã thấy ga xe lửa. Chẳng ai tin một thằng nhóc mười mấy tuổi dùng tai mà biết đường rầy bị hư. Ba toa tàu ngã nhào. Rất may, tàu hàng…

Chán cảnh chổng mông, bọn trẻ lại thi nhau ngồi lì trên đường rày khi tàu đang đến. Nó bạo gan nhất. Bọn trẻ mới nghe tàu hú đã chạy vãi hồn. Nó ung dung nhìn đầu máy xe lửa đến thật gần mới dọt. Nhưng khi tàu đến quá gần, nó cuống không thể bật dậy. Những tiếng rú đồng thanh xé trời. Thằng Mỹ nguy rồi! Chợt con Thắm nhảy ào vô đường ray. Đoàn tàu vun vút lướt qua. Không ai thấy gì dưới thân tàu, chỉ nghe tiếng khóc thét của tụi nhóc đang đứng lố nhố. Tiếng thắng tàu rin rít ghê hồn.

Tàu dừng hẳn. Hai thân hình bất động rồi... ngọ nguậy. Trên lưng nó hằn vết cắt sâu, dài chừng gang tay, máu vẫn chảy. Con Thắm chỉ xây xước nhẹ. Thắm không liều mình nhảy vô kéo nó lọt xuống giữa hai thanh đường ray, có lẽ nó đã theo ông bà luôn. Nó muốn đứng dậy nhưng không thể chống bàn tay phải xuống đất. Tội cho nó, bàn tay dị tật lóng ngóng, luôn ngửa. Chiếc quần xà lỏn của nó biến mất tiêu. Gầm tàu lửa vuốt ngang lưng nó và kéo phăng luôn chiếc quần.

Nó chỉ kịp lột áo che mông. Thắm cõng nó ào vô trạm y tế. Hồn nó vẫn còn lâng lâng đâu đó. Điều duy nhất nó biết, nó vẫn tồn tại. Mười ba toa tàu hầm hập, vồ, ghì, nghiền hai đường ray chả khác gì đang tra tấn. Tiếng ồn dã man ấy ám nó trong vòng hai mươi lăm giây, rồi kéo dài mãi… hai mươi lăm năm sau. Có ai hỏi, nhớ gì không, nó cười. Nó chỉ biết mùi da thịt con Thắm khi hai đứa nằm sát bên nhau dưới đường ray. Nhớ cảm giác âm ấm khi ngồi trên lưng Thắm. Bọn con trai choai choai mới lớn nhớ gì ngoài mùi khác giới.

Thả nó xuống nền xi măng lạnh lẽo trạm xá, Thắm ngồi bệt thở dốc. Máu đỏ tươi, chẳng biết từ đâu, thấm ra đáy quần Thắm. Nó lặng câm há hốc nhìn. Thắm khóc. Chị y tá kéo Thắm vào trong phòng giải thích. Thắm đã thành thiếu nữ mà không hay. Thắm hù nó, thiên hạ biết chuyện này là mày đi tong. Từ đó, nó chẳng chơi đường tàu, chơi với Thắm thôi. Thằng Nhân cùng xóm ghét nó ra mặt. Nhân tuy xấu trai, bù lại hiền, làm việc hùng hục. Nhân mê Thắm nhưng còn ngại ngùng. Giáp mặt Thắm, Nhân chỉ biết nhìn trời nhìn mây, ngẩn tò te.

Một lần bạo gan, nó kéo Thắm vào căn nhà hoang. Thắm do dự. Rồi khe khẽ bước vào. Chợt hai đứa giật bắn mình. Chiếc cửa sút đinh bỗng cọt kẹt. Tiếng cưa sắt xoèn xoẹt như cứa vào da thịt hai đứa. Vài chú dơi hốt hoảng bay ra. Khói từ đâu bắt đầu lan nhẹ trên nền nhà đất. Rồi mịt mù các cánh cửa. Mùi nồng nặc như mùi phân bò khô đốt cháy. Hai đứa ù chạy.

Hôm sau hai đứa lại đứng tần ngần trước nhà hoang. Khi vừa dợm bước vào thì tiếng cọt kẹt, xoèn xoẹt lại bất ngờ vang lên. Rồi hai đứa nghe tiếng chân người hốt hoảng chạy quanh nhà. Và lửa lan tứ bề. Cánh cửa đỏ rực đổ sập cắt gót chân nó. Căn nhà hoang cháy trụi...

Trước ngày nó đi Mỹ diện con lai, Nhân kéo nó vào ngôi đình cuối xóm, nghe đâu thờ thần cẩu linh thiêng lắm. Nhân nghiêm nghị như ông già hỏi: Mày có gì với con Thắm hả? Nó thề: Tao chẳng có gì. Nhân dò: Mày có cưới Thắm không? Nó cười nhạt: Tao không muốn thêm một thằng không cha không mẹ như tao. Chưa giải mã cuộc đời này, tao không thèm lấy vợ. Nhân chộp con thằn lằn trên vách đưa cho nó bảo: Mày phải thề rồi nuốt sống thì tao mới tin. Nó quả quyết với lấy trái chuối trên bàn thờ. Nhét con thằn lằn vào giữa. Nó nuốt ực. Mày tin chưa? Nhân cười giả lả: Hôm đó, căn nhà hoang không cháy thì mày có thề một vạn lần tao cũng chẳng tin. Nó nhìn sững thằng Nhân: À, thì ra… mày...

Trước khi đi phỏng vấn tại lãnh sự quán Hoa Kỳ, nó tìm Thắm. Hai đứa nhìn nhau mãi nó mới ấp úng mở lời: Thắm... có chê thằng này... mồ côi không? Thắm trả lời ngay: Phương mồ côi... Nhưng trái tim của Phương đâu có mồ côi.

Nó nhìn Thắm bằng đôi mắt chan chứa biết ơn. Điều Thắm vừa nói chỉ đúng với Thắm, với bọn trẻ thôi. Chứ còn với người lớn... Mẹ Thắm luôn cấm cửa nó. Cứ thấy nó, bà lẩm bẩm, lại thằng con lai. Bà chỉ thích Nhân. Mà thằng Nhân có gì hơn nó ngoài một điều có đủ cha đủ mẹ.

Đến Mỹ dịp vào Đông. Lạnh. Hiu quạnh. Buồn tê tái. Mới vài tuần, nó gầy rộc hẳn. Nó nhớ Thắm quay quắt. Tay cầm phone, nó hồi hộp lắm. Nhà Thắm không có điện thoại. Mỗi lần gọi phải gọi nhờ vào trạm điện thoại gần nhà Thắm. Nó chờ người ta chạy đi gọi Thắm. Dăm phút chờ sao dài đằng đẵng. Có tiếng hello. Nó căng tai nghe. Hồn nó lắng lại như chiếc lá vàng đang lìa cành trước gió đông. Giọng thằng Nhân. “Thắm đang tắm”, giọng Nhân mừng khôn xiết. Nó biết không phải Nhân vui vì gặp nó. Mà Nhân mừng vì không còn đối thủ. Nó và Nhân chuyện trò gượng gạo cả chục phút. Đến khi Thắm bắt máy, không hiểu vì lí do gì nó buột miệng nói ngay: Phương đã tìm được cha... Phương sẽ ở lại Mỹ làm lại cuộc đời... Sau câu đó, cả nó và Thắm cùng chết lặng. Nó nghe tiếng tút tút vang dài. Nó ngồi thừ. Một chút gì mằn mặn trên nếp má mũi, lăn dài xuống cằm. Nó đã khóc. Một đời trốn chạy quá khứ, nay nó phải trốn chạy tình yêu.

*

* *

Chiều. Đường vào thị trấn Patterson mơ hồ như ý thức của tôi. Tuyết lấp muôn lối. Con đường hẹp lại. Tôi lái xe như trong hư vô. Đến nhà cha hay không? Câu hỏi cứ xoáy mãi trong tâm trí. Bà Munro - vợ chính thức cha tôi - đón tôi ngay cửa. Tôi đã nói chuyện với bà dăm ba lần qua phone. Bà đã ngoài sáu mươi. Bà đưa tôi xem những tấm ảnh trắng đen nhòe nhoẹt thời cha tôi ở Việt Nam. Có một tấm y hệt tấm hình trong chiếc đồng hồ quả quýt của tôi. Tiện tay bà mở nhạc cho thời gian trong căn phòng bớt nặng nề. Tôi rùng mình khi bản nhạc Đêm Giáng sinh trắng vang lên:

Anh đang mơ về một Giáng sinh trắng

Có thiệp Giáng sinh anh viết

Viết tặng người thân chúc vui tươi...

- Cha con thường nghe bài này - Bà Munro nói.

- Tôi cũng vậy - Tôi đáp.

Bài hát này là mật hiệu cho cuộc di tản người Mỹ năm bảy lăm xa xưa. Nghe bài hát tôi khóc ngon lành. Khóc vì hận người mẹ Việt cha Mỹ đã bỏ rơi tôi. Hận luôn cuộc chiến tranh này. Dù tôi biết rằng nhờ cuộc chiến ấy tôi mới đến Hoa Kỳ. Trong cuộc đời có những điều mà tôi không thể định đoạt, nơi sinh ra và giới tính, cũng như chủng tộc. Tôi đâu muốn được sinh ra để rồi bơ vơ trong cõi đời này.

Tôi thường mơ về cha. Không phải người cha cường tráng trong ký ức bọn trẻ. Tôi chỉ thấy người đàn ông với nước da xanh mét, cặp mắt cũng xanh, hàm râu lởm chởm, tóc lưa thưa. Nhìn cha có vẻ không sạch sẽ và nhủn nhủn. Lúc nào cha cũng đói và cáu gắt. Tôi cố gắng đưa cha về nhà, nhưng vạn vật đều ngăn cản tôi. Tôi nổ máy xe. Xe chết máy cứ lì ra đó. Xách vali lên, vali rách tả tơi. Áo quần trên người cha rộng thùng thình quá khổ. Đôi khi tôi mơ, tôi đang đi trên con đường vô tận đầy ánh hào quang. Cha bên tôi. Người luôn nhắc nhở. Con phải giữ lưng thẳng, không buông xuôi vai. Ngẩng cao đầu quan sát thế giới này. Hãy đi như con muốn. Cơn mơ cứ lặp đi lặp lại. Có lẽ mơ trái ngược cuộc đời. Tôi an ủi. Tôi tự lý giải giấc mơ. Có thể ba tôi đã chết trong cuộc chiến hoặc hai cha con không bao giờ đoàn tụ....

... Merry Christmas, my son!

Những câu cuối của bài hát vừa dứt, giọng trầm ấm, bà Munro đưa tôi trở về đời thực:

- Ba con đã chết một tuần...

Bà Munro nói và đưa cho tôi lá thư. Mắt bà nhìn tôi ấm áp nhưng vẫn không giấu nổi nỗi cô đơn ẩn sâu vời vợi.

Con thương yêu của cha.

Xin lỗi con vì cha không hề biết tên con. Cha viết lá thư này từ khi bắt đầu tìm con. Nếu cha con mình gặp nhau, cha sẽ hủy lá thư. Nếu con đọc thư này tức là cha không còn trên dương thế.

Đã hơn một ngàn đêm cha trằn trọc, không ngủ được khi nghĩ về đứa con mà cha đã để lại ở Việt Nam. Cha luôn nghĩ con có đủ áo quần và có chịu cảnh đói khát không?

Ngày đó cha đóng quân ở Long Bình, Đồng Nai với nghề lái xe tải. Mẹ con tên là Nguyễn Thị Thúy. Cha thường đến nhà mẹ con để mua nước giải khát rồi quen nhau. Đến cuối năm 71, hết hạn phục vụ, cha về Hoa Kỳ. Cha không hề biết mẹ con có thai. Mấy tháng sau, cha nhận được thư của mẹ con báo tin, cha rất vui và muốn quay lại Việt Nam. Nhưng đời binh nghiệp đâu phải muốn là được. Cha lại nhận nhiệm vụ ở châu Âu. Rồi cuộc chiến kết thúc. Mọi con đường liên lạc Việt Nam đều đóng băng.

Rồi cha lập gia đình. Nhưng cha và bà Munro đã không thể có con. Có lẽ đó là định mệnh. Cha có quay về Long Bình tìm con và mẹ. Mọi thứ ở đây khác xưa nhiều. Tất cả con lai đều đến Mỹ. Cả gia đình mẹ con đã di tản năm 75. Cha tuyệt vọng. Và đăng chuyện của chúng ta trên trang web “Tìm cha” dành cho những đứa con lai...

Cha và bà Munro quyết định để lại tiệm sửa xe cho con. Bà Munro rất quý con và xem con như con trai vậy. Con có quyền ở lại căn nhà này nếu con thích.

Đừng bao giờ nghĩ cuộc đời con không có ý nghĩa gì. Chính con mới là người đem lại ý nghĩa cho đời con.

Tha thứ cho cha tất cả.

Cầu chúc con trai của ta luôn hạnh phúc.

Gấp lại lá thư. Đời tôi đã được giải mã. Những mật mã buồn. Biết tìm mẹ tôi ở đâu? Tôi xin phép bà Munro ra về dù bà không hề muốn tôi đi.

Sáng sớm hôm ấy, người dân thị trấn Patterson ngạc nhiên nghe tiếng xe thắng gấp bên đường. Chiếc Mustang hai cửa màu đỏ quay một vòng 180 độ. Xe băng ngang, trượt trên tuyết. Tấp vào đường rầy xe lửa chạy song song con phố. Đầu tôi nóng hầm hập. Ký ức tuổi thơ chợt ùa về...

TÔI bước ra xe, chổng mông trên đường rầy lắng nghe tiếng tàu chạy. Hình như cả tiếng Thắm từ bên kia đại dương. Tàu đến gần lắm. TÔI thấy NÓ mờ mờ ảo ảo. Mặt NÓ tái mét. NÓ la. Cầu cứu Thắm đi. Thắm đã một nách ba con, cứu gì nổi. NÓ hoảng. Làm sao chống tay để đứng lên. TÔI la NÓ: Mày ngu quá. Bàn tay phải của tao hết dị tật rồi. Úp, ngửa được nè...

Có người trễ chuyến bay về Minneapolis.

Một tháng sau, Thắm và Nhân hồi hộp mở thùng quà của Phương gởi từ Mỹ. Dưới lớp giấy lụa, lấp ló chiếc đồng hồ quả quýt năm xưa. Bên trong nắp hình, Phương đang cười mỉm. Thắm chợt lặng người. Một vết cắt ngọt xớt trên sợi dây đeo đồng hồ. Hay là… bánh xe lửa cắt? Tối qua Thắm nằm mơ Phương đang giẫy giụa dưới đường tàu, thân hình bê bết máu.

Thắm hét: Kh.ô.ng!!! Tiếng la làm rung các cửa kiếng trong nhà. Thắm ào ra ngoài. Chạy như dại trong cơn mưa. Sấm, chớp nổi đằng đông. Thắm chạy đằng tây. Nhân chẳng biết chuyện gì. Lục hết thùng quà, đọc lá thư. Nhân lại ùa ra đường. Tay vẫy vẫy lá thư gào to: Không có chuyện gì đâu. Thằng Phương hứa sẽ về đây mở tiệm sửa xe hơi. Rồi mời bọn trẻ xóm nghèo ngày xưa về làm việc.

Hai vợ chồng bá vai nhảy vòng vòng dưới mưa, cười nắc nẻ.

Mưa chắc nhiều a xít. Lá thư nhòe nhoẹt hết. Kỳ lạ, chỉ một câu vẫn còn rõ.

Phương vẫn nhớ lời Thắm lúc chia tay. Nếu qua bên ấy, không tìm được tình thương, Phương cứ về lại đây ở với tụi này nha.

Nhân vuốt vội những giọt nước mưa đọng trên mặt. Nhìn xa xăm cung đường tàu lửa cuối xóm, lòng chợt lo lo, Nhân tự hỏi, có khi nào hai đường rầy xe lửa cắt nhau không?

Và câu trả lời của TÔI hôm nay, NÓ ngày xưa là KHÔNG!


THÁI BẢO
Ý kiến bạn đọc
14 Tháng Chín 20171:39 SA
Khách
Lời văn ngắn gọn nhưng súc tích và giàu hình ảnh, giàu tình cảm. Nghề tay trái nhưng như là nghề tay phải vậy. Cảm ơn nhà văn- BS Thái Bảo
22 Tháng Mười Hai 20144:28 SA
Khách
Van cua Thai Bao rat hay co tinh co nghia va co hau . Doc van Thai Bao ko thay chan ,no loi cuon nguoi doc ....Cam on Me Phuong da sinh Thai Bao ::mot con nguoi co hai nhiem vu vua thoa diu tinh than vua chua lanh the xac .....
11 Tháng Mười Một 20149:47 CH
Khách
Phai noi la doc di doc lai van hay khong thay chan ,dung nhu loi gioi thieu tac gia Thai Bao that da tai da nghe,anh chang nhung la bac si ma con la nha van da cho ra doi nhung tac pham da dang hau nhu cau chuyen nao cung deu khien nguoi doc cam thay nhu chinh tac gia viet ve cuoc doi cua minh ,cam on tac gia ,cam on doi da sinh tao ra nha van Thai Bao
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
15 Tháng Mười Một 20152:36 SA(Xem: 66831)
Tác phẩm được chọn để mở đầu hoạt động của Nhà Xuất Bản Hợp Lưu là biên khảo mới nhất của Tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu và Bà Hoàng Đỗ Vũ, về một đề tài sôi động dư luận suốt bốn thập niên qua, tức vấn đề “tranh chấp biển đảo” Đông Nam Á.
15 Tháng Mười Một 20152:00 SA(Xem: 41023)
Nhạc sĩ Anh Bằng, sinh ngày 5 tháng năm 1926, tại Nga Sơn, Thanh hóa. Ông đã đóng góp rất nhiều cho nền âm nhạc. Nhạc của ông đa dạng phong phú với đủ mọi giai điệu khác nhau. Ông định cư ở Hoa Kỳ từ năm 1975, và kể từ đó cho đến nay, ông đã tiếp tục hăng say sáng tác nhạc. Cả cuộc đời ông gắn bó với âm nhạc, ông đã để lại hơn 650 nhạc phẩm trong kho tàng văn học nghệ thuật Việt Nam.
05 Tháng Mười Một 201511:57 CH(Xem: 58453)
Aviva Imhoff, nguyên giám đốc truyền thông Mạng Lưới Sông Quốc Tế / IRN, đưa ra nhận định: Trung Quốc đang hành xử một cách hết sức vô trách nhiệm. Chuỗi đập Vân Nam sẽ gây ra những tác hại vô lường nơi hạ lưu, gây rối loạn toàn hệ sinh thái con sông Mekong xa xuống tới Biển Hồ, nó như một chuông báo tử cho ngư nghiệp và nguồn cá vốn là thực phẩm của ngót 70 triệu cư dân sống ven sông.
02 Tháng Mười Một 201510:03 CH(Xem: 53510)
Nhớ, cho đến khi không còn nhớ được / Cho đến khi nheo mắt nhìn mây / Vẫn thấy tóc em môi em trong đó /
01 Tháng Mười Một 20155:00 CH(Xem: 57702)
Đêm trước khi ông chết, vợ ông để ý nghe có tiếng chim trên cây bên hông nhà kêu gù gù mấy tiếng. Bà thì thào với mấy con: “Đây là điềm xấu cho ba con rồi. Người ta nói chim cú đến nhà kêu ba tiếng là trong nhà có người sắp chết”. Cậu con trai nói với mẹ là cậu đã nhiều lần thấy mấy con chim nầy lúc chập choạng tối thường bay về đậu nghỉ trên cây bên nhà chốc lát rồi bay đi mất.
01 Tháng Mười Một 20154:44 CH(Xem: 54362)
miền tây không có mùa nước nổi / nhớ bông điên điển rực vàng / thôi rồi đồng tháp an giang /
01 Tháng Mười Một 20154:09 CH(Xem: 56954)
Bấy lâu nói về Nguyễn Du ta quen nhìn ông dưới góc độ một nhà thơ, một “nhà nho tài tử”, cho rằng ông chuyên chú nhiều cho văn chương, cuộc đời ông chủ yếu là văn chương, bàng bạc trong văn chương ông là một nỗi suy tư, nỗi buồn dằng dặc (?!). Thực ra khi hữu thời cũng như khi sa cơ ông luôn là một “nhà nho hành đạo”, một nho quan ôm chí lớn và văn chương chỉ là một phương diện an ủi tâm sự thầm kín.
01 Tháng Mười Một 20152:45 CH(Xem: 54216)
Một trăm hành giả trên đồi Thấy con sông chảy giữa trời gió reo Nắng vàng hay áo tỳ kheo Bao nhiêu sắc tướng bay vèo qua sông Hư không bát ngát trong lòng Ô hay, thiên địa một vòng tinh khôi.
01 Tháng Mười Một 20151:44 CH(Xem: 48360)
chúng ta ăn bằng quá khứ. đừng buồn. quá khứ bao giờ cũng khó nhai chúng ta ăn bằng tương lai. đừng khóc. tương lai lúc nào cũng khó nhá / chúng ta ăn bằng hiện tại. đừng vui mừng. hiện tại chỉ là con số 0
01 Tháng Mười Một 20151:27 CH(Xem: 49346)
tạ ơn Chúa tặng con thu rực rỡ / rực rỡ muôn mầu ân sủng Chúa ban / con chợt hiểu vì sao thu vàng úa / vì thế gian này còn lắm đau thương
16 Tháng Tám 2025(Xem: 6973)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13925)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12794)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13338)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 227)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 220)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 256)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 473)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 259)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 554)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2620)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2766)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 483)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 550)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3434)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3845)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 289)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 384)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 505)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2793)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9567)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26032)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32376)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32712)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7338)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9711)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2384)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2401)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2478)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2816)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 5020)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4323)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3955)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5074)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.