- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Giáo sư Kê

21 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 61543)

motmotoi-1-ngmannhien-content
  Ảnh Nguyễn Man Nhiên


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu. Nhà văn Trần Thanh Cảnh sống và làm việc tại Việt Nam. Truyện ngắn " Giáo sư Kê" như " tiếng chuông cảnh tỉnh" cho tầng lớp "Trí thức đểu" mà hàng ngày họ góp phần lừa mị người dân trên các báo trong nước hiện nay. Đây là một truyện khá tâm đắc của tác giả gởi đến Hợp Lưu như một chia sẻ cùng quí văn hữu và bạn đọc.
TCHL

Hôm nay, Giáo sư Kê phải sang làng Ao Xá dự lễ tế thành hoàng, nên ngài dậy từ sớm. Mới khoảng năm giờ sáng, mà ngài đã lục đục chuẩn bị đầu tóc, quần áo, giày tất…Ngài đóng bộ comple chỉnh tề, đứng trước gương soi. Tự cảm thấy hài lòng với mình. Vẫn phong độ lắm! Ngài xịt tí keo lên mái tóc thường xuyên được nhuộm đen nhức, rồi dùng lược chải hất ra đằng sau, bóng mượt. Ngài ngắm nghía dung nhan lần nữa và lẩm bẩm một mình: “ Kính thưa ngài Giáo sư Kê, à không, ngài Giáo sư Gà! Thay mặt toàn thể dân làng Ao Xá, nhiệt liệt chúc mừng và cám ơn ngài…”.

 Thật ra, họ và tên đầy đủ của ngài là: Giáo sư Tiến sĩ Giang Đình Kế. Có điều, ngay từ buổi đầu tiên đến lớp vỡ lòng của thày giáo Hà, ngài giáo sư tương lai đã bị nhầm tên, Kế thành Kê. Kể ra thì cái sự nhầm ấy cũng dễ giải thích, hai chữ ấy khác nhau mỗi dấu sắc. Mà tay thư ký, khi làm giấy khai sinh cho con ông chủ tịch uỷ ban, lại hứng khởi sao đó, viết kiểu chữ “phăng-tê-ry”. Nên dấu má chả đâu vào đâu, khiến các thầy cô ở các lớp học sau này, nhầm loạn hết cả lên, cứ Kê mà gọi!

 Nhưng ở nhà thì không có nhầm nhọt gì hết. Kế là con thứ sáu, út của ông chủ tịch Giang Đình Khánh. Khi Kế sinh, thì ông Khánh đã nắm chức chủ tịch uỷ ban. Dân làng Ngọc quen miệng, gặp Kế cởi truồng tồng ngồng chơi với đám trẻ con ngoài đường, hay sờ chim Kế và khen: “Cu Kế con mõ Khánh chim to đáo để”. Chả là, hồi còn phong kiến, họ Giang trong làng Ngọc truyền đời làm mõ.

 Chuyện làm mõ làng thì có rất nhiều người kể rồi. Đến cả trong chèo “Quan Âm Thị Kính”, cũng tả một hồi dài về cái sự làm mõ. Dân làng Ngọc hay có câu cửa miệng là “tham như mõ”, để nói về cái sự ăn tham, ăn bẩn…Nói tóm lại là, không vẻ vang gì. Chủ tịch Khánh nghe dân làng cứ xách mé mõ Khánh, mõ Khánh…thấy nóng mắt. Mặc dù, chính cái lý lịch ba đời làm mõ ấy, nó đã đưa Khánh lên chức to nhất làng. Chủ tịch Khánh liền ra lệnh cho “quân, dân, chính, đảng”, tiến hành một đợt học tập xây dựng đời sống văn hoá mới, đi đứng, nói năng cho phép tắc, văn hoá cao… Mấy tay chậm tiến bộ trong làng, quen thói nói năng bạt mạng, bị chủ tịch Khánh cho dân quân điệu ra uỷ ban, bắt thức đêm làm bản kiểm thảo, muỗi đốt cho sưng chân to như chân voi. Khiếp quá! Cạch đến già. Từ sau đó trở đi, cả làng, không ai dám gọi mõ…mõ…nữa.

 Kế - ra đời lúc đất nước đã thanh bình, lại là con ông chủ tịch uỷ ban nên cũng sướng. Tuy có hay bị nhầm lẫn Kế với Kê, nhưng đấy chỉ là tình tiết nhỏ nhặt không đáng lưu tâm. Vấn đề chính là, Kế học cũng khá. Năm nào cũng học sinh tiên tiến, cũng được phát thưởng. Chủ tịch Khánh mát mặt lắm. Hết phổ thông, Kế thi vào đại học nông nghiệp, theo sự áp đặt của bố, mặc dù Kế khá văn, muốn thi vào tổng hợp: “Mày ngu lắm con ạ, nước ta bây giờ, nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, học trường ấy ra mới có nhiều cơ hội phát triển. Mày học tổng hợp văn ra để định đi cạo giấy mà ăn à?”.

 Thế là Kế đi học Trường Đại Học Nông Nghiệp.

Cũng lạ là, ở nhà trường đại học hẳn hoi, nhưng vẫn nhầm Kế thành Kê. Cứ phải đính chính mãi đâm chán, thì Kê cũng chả sao! Tốt nghiệp, Kê được phân công về “Viện Nghiên Cứu Súc Vật Trung Ương”. Chuyện tình yêu rồi chuyện gia đình của Kê cũng chả có gì đáng nói. Nó cũng bình thường như mọi câu chuyên tình thời xưa thôi. Có nghĩa là, một hôm đẹp giời, Kê về nhà thì bố bảo: “ Nhà ông Bôi, bạn cùng hoạt động với tao, có cô con gái làm ở tài chính, nghe hợp với mày. Đến đó mà tìm hiểu rồi cưới vợ”.

 Ba tháng sau, Kê cưới vợ.

 Sáu năm sau ngày cưới, vợ chồng Kê đẻ đủ hai đứa con, theo đúng qui định về sinh đẻ kế hoạch.

 Bây giờ Kê chỉ còn tập trung vào lo phát triển sự nghiệp. Ông bố Kê bảo : “Làm cái thằng đàn ông thì phải có công danh, sự nghiệp”.

 Sự nghiệp của Kê ở Viện Nghiên Cứu, nghe chừng cũng không khá lắm. Lần thì được trên giao cho chủ trì đề tài lai giống giữa dưa lê và bí ngô. Kết quả, là một loại cây nửa dưa nửa bí, quả không ra tròn không ra méo, nhưng mà năng xuất cao cực! Có điều là cái thứ cây quả ấy, nông dân chả nơi nào dám trồng, vì, ăn vào, đến trâu cũng đau bụng mà chết. Một lần khác, Kê lại được giao làm chủ đề tài lai giống giữa chó và lợn. Định tạo ra một giống khôn như chó mà lại chóng lớn như lợn, nuôi không cần chuồng và người trông nom. Kết quả, một giống súc vật trông như yêu tinh ra đời, ba đầu, sáu chân với mười hai con mắt… Kê buồn quá, nghĩ mình chả làm nên cái sự nghiệp gì. Mình con nhà thành phần cơ bản, cũng tốt nghiệp trường lớp chính quy như ai, lại rất thấm nhuần đường lối nghiên cứu khoa học của tổ chức, phục vụ công nông…Thế mà sao, chả ra cái kết quả gì. Đúng lúc đó, viện có một chỉ tiêu đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô, thế là Kê chạy vạy, xin đi.

 

 

 Từ làng Ngọc sang làng Ao Xá phải đi qua một cánh đồng rộng. Mọi hôm, ngài giáo sư vẫn đi xe máy. Hôm nay, nhân tiết thu mát mẻ, công việc thì đã xong xuôi, ngài quyết định đi bộ cho thư thái và tranh thủ hít thở chút không khí đồng quê trong lành. Cánh đồng lúa đang chuẩn bị vào vụ gặt, rực một màu vàng tươi trong nắng sớm. Những làn hơi sương lập lờ, lan man, bồng bềnh trong không gian tinh khiết của buổi sáng. Hương thơm của lúa chín tràn ngập mọi nơi, ấm áp và thanh bình. Vừa đi, vừa ngắm cảnh đồng lúa chín vàng, ngài giáo sư chợt nhớ tới hồi du học ở Liên Xô. Trong một lần cùng chiến hữu đánh hàng từ “Mát” về một thành phố nhỏ miền trung nước Nga. Xe chạy qua một vùng bình nguyên mênh mông đang chín rực lúa mì. Cảnh tượng đẹp đến nao lòng, khiến cho mấy tay con buôn chuyên nghiệp cũng phải hò nhau dừng xe ngắm cảnh. Cả biển lúa mì đầy ắp, lao xao như một biển vàng, sóng sánh xa tít tắp về phía chân trời. Cả bọn như mê đi trước vẻ đẹp hoành tráng của cánh đồng lúa mì Nga bát ngát. Rồi cả bọn lại la cà ra chỗ mấy ông nông trang viên, đang chuẩn bị máy móc gặt lúa tán chuyện. Đã qua mấy năm lăn lộn cùng chiến hữu khắp các xó xỉnh của nước Nga, thì, Kê mới có chút tiếng Nga “giả cầy” mà chuyện gẫu với mấy ông “Mugic” bên chai “Lúa Mới”. Chứ lúc mới sang, Kê thấy hốt lắm. Vốn tiếng Nga lõm bõm từ hồi đại học, đã rơi rụng gần hết. Vào giảng đường, nghe các giáo sư Nga giảng, như vịt nghe sấm. Nản quá, đang định tính mua vé về nước. Thì gặp ngay được mấy đại ca sang trước, bày vẽ cho: “Chú mày ngu lắm, đã sang được đến đây rồi thì làm đéo gì mà phải về. Kiểu gì cũng phải có mảnh bằng đút đít. Không học được thì nhờ anh Vodka nó học cho! Chú cứ theo bọn anh đi buôn áo bay, bàn là, xe cuốc, quần bò mà kiếm tiền. Lâu lâu vác một két Vodka đến nhà mấy ông giáo sư Nga trình bày, rồi vì tình hữu nghị, các ông ấy cho qua hết!”. Quả rất hiệu nghiệm. Sau mấy năm bôn ba buôn lậu khắp nước Nga, Kê về nước với tấm bằng phó tiến sĩ xịn! Mấy đại ca bày vẽ đường đi nước bước cho Kê, giờ đã lên đến chức “soái” trong ngành buôn lậu bên SNG, chả thèm về, tiễn Kê ra sân bay, bảo: “Chú mày về nước, lý lịch ngon thế, thể nào cũng phất. Kiếm lấy cái ghế to to mà ngồi, đợi bọn anh bên này về, mang tiền đá một trận san phẳng khung thành đội bạn nhé!”. Gia thế nhà Kê lúc ấy ngon thật. Sau mấy chục năm hoạt động cách mạng, ông Khánh, bố đẻ Kê, đã lên đến chức bí thư tỉnh uỷ. Còn ông Bôi, bố vợ, phát mạnh hơn: bộ trưởng Bộ Súc Sản.

 Về nước, vì là thuộc diện hạt giống, lại có “bằng đỏ”, Kê được cơ cấu ngay chức viện phó. Mấy năm sau thì lên viện trưởng.

 Vài năm sau, nhà nước bỏ cái “phó tiến sĩ” đi, để hội nhập, thế là Kê đỗ ngay ông nghè. Thỉnh thoảng, mấy ông bạn “đồng môn” hồi bên Nga. Giờ đang ở trường đại học, mời sang giảng vài tiết về những vấn đề bí hiểm, cao siêu của khoa học, ví dụ như: “Ngỗng và thiên nga làm tình thì khác nhau thế nào?”. Tuần tự nhi tiến, mấy năm sau Kê được phong giáo sư. Giáo sư Tiến sĩ Giang Đình Kê, đọc lên nghe sang sảng! Ông Khánh hãnh diện lắm, ngày xưa, ông bổ túc mãi mới có cái bằng cấp ba, nay con ông, giáo sư tiến sĩ! Oách nhất làng!

 Nhưng mà quy luật của tạo hoá thì “phấn đấu” cũng không chống lại được. Vòng đời “ sinh-lão-bệnh- tử” không chừa một ai. Sau mấy chục năm “công tác”, Giáo sư Kê nghỉ hưu, về ở tại làng Ngọc.

 

 

 Đi bộ trên con đường từ làng Ngọc sang làng Ao Xá, Giáo sư Kê chợt nhận thấy sự khác biệt giữa hai làng. Thường ngày, ngài phóng xe máy đi về giữa hai nơi nên không có dịp nhìn kĩ. Hôm nay, đi bộ chậm rãi nên ngài mới có dịp quan sát. Bên làng Ngọc, hầu như không còn tồn tại chút gì của “Làng”, theo nghĩa xưa. Đứng ngoài nhìn vào, thấy toàn nhà cao tầng, bê tông lô nhô xám xịt. Cả làng không còn một cây tre nào, mà, thay vào đó, mỗi nhà có một vài thứ cây thời thượng của cánh nhà giàu mới nổi như: lộc vừng, sanh, cau vua…Xa lạ và hãnh tiến. Thế nhưng, chỉ cách một quãng đồng, bên làng Ao Xá, thì lại khác hẳn. Có cảm tưởng như mọi ảnh hưởng của “thế giới văn minh”, cứ mon men đến luỹ tre xanh rì bao quanh làng là bị bật ra hết. Trong làng, vẫn là những cây trái xum xuê: mít, bưởi, xoan…phủ bóng lên mái nhà cũ kĩ xám nâu. Từ xa xưa đến nay, những ngôi làng ở nước Việt đã là một thực thể văn hoá, kinh tế, chính trị rất kỳ lạ. Hình như không có ở nơi đâu trên trái đất này lại tồn tại một cộng đồng những ngôi làng như ở nước ta. Có một nhà nghiên cứu văn hoá dân gian lớn, sau nhiều năm khảo cứu về làng xã, đã thốt lên “Làng Việt còn thì Nước Việt còn!”. Thật chí lý và uyên thâm. Cũng nhà văn hoá lớn đó còn nói “Mỗi làng của Nước Việt đều có bản sắc văn hoá đậm đà, riêng biệt”. Rất có tính khái quát! Chỉ tính riêng cái tục thờ thành hoàng của các làng, thấy đầy “bản sắc, đậm đà, riêng biệt” rồi. Loanh quanh vùng Kinh Bắc, dân các làng cũng đã “tôn vinh” nhiều vị thành hoàng độc đáo, nói theo ngôn ngữ bây giờ là rất “pờ rồ”! Làng Ngọc thì thờ bà Cái và bộ “sinh thực khí” trứ danh của bà. Làng Thượng thì thờ một ông sinh thời làm nghề “thu phục nhân tâm” (nói nhỏ, tức là đi gắp…phân!). Bên làng Bùi thì thờ ông Lý Phật Tử, một tay bị cụ Ngô Sĩ Liên ghi lại trong sử là: Hèn nhát, giặc nhà Lương đến, chưa đánh trận nào, nghe nó doạ đã đầu hàng. Mới đây, có một tay quan chức hồi hưu, nhân dịp hội làng, ra đình đề nghị các cụ trên thôi không thờ kẻ “bán nước” ấy nữa, bị cụ tiên chỉ vả cho một dùi trống, rụng sạch cả hàm răng. Nhưng dân làng Bùi thì bảo rằng, là do tay ấy ra đình nói nhảm, bị thánh quở, ngài vặn răng cho hết nói láo. Thế nhưng làng Bùi lại kết nghĩa với làng Cờ, là làng thờ Đức Ngài Triệu Việt Vương ở đình. Hai làng ấy, không biết từ bao đời nay, đi lại khăng khít lắm, kể cũng lạ…Nhưng có lẽ lạ nhất là làng Ao Xá, bên cạnh làng Ngọc, lại có tục thờ “Ngài Kê” - Tức là một con gà trống làm thành hoàng! Năm ngoái, nhân dịp hội làng Ao Xá, lại đang lúc về hưu rỗi rãi, Giáo sư Kê sang bên làng ấy chơi hội. Khi sang đến đình làng Ao Xá, vào trong hậu cung ngắm “Ngài Kê”, đẹp đẽ, uy nghiêm, sơn son thiếp vàng đỏ chót. Tự nhiên, Giáo sư Kê cảm thấy có một điều gì rất lạ trong người…

 Tối hôm ấy, Giáo sư Kê về nhà, cứ nằm trằn trọc mãi, không ngủ được. Hình ảnh “Ngài Kê”, với cái mào đỏ chót oai vệ, bộ lông tô điểm đủ màu bảy sắc cầu vồng rực rỡ, cái mỏ nhọn hoắt và đôi chân hùng dũng với những cái cựa vàng ươm…Thật kì vĩ. Từ hôm đó trở đi, không hiểu sao, Giáo sư Kê cứ hay nghĩ vẩn vơ về “Ngài Kê” oai hùng ấy. Thật ra từ rất lâu đời, bên làng Ao Xá, có giống Gà Ao nổi tiếng. Giống gà ấy rất to, toàn cỡ từ bốn, năm ki lô trở lên. Đặc biệt, những con trống, to, cao, mào đỏ chót, lông đuôi cong vút, óng ánh sắc đỏ, sắc tím, sắc lam…Nhìn những con gà trống cai quản đám gà mái, thấy thật là trật tự kỉ cương. Nó đĩnh đạc dạo bước vòng quanh đàn thê thiếp của mình đang cắm cúi kiếm ăn. Thỉnh thoảng, nó mổ vài con sâu hay con giun đất trong vườn lót dạ. Rồi nó vươn cái cổ bảy sắc cầu vồng lên cao, ngó nghiêng con mắt sáng rực, tia vào một ả mái tơ, mặt đang đỏ lên vì tới kì chịu trống. Nó vỗ cánh phành phạch, nghiêng người đảo một vòng đầy chất nghệ quanh ả mái tơ, rồi bất thần nhảy phắt lên lưng cô nàng …Xong việc, bao giờ nó cũng nhảy lên đỉnh đống rơm, cất tiếng gáy oai hùng ò ó o o o…Càng ngắm đàn gà làng Ao Xá, Giáo sư Kê càng thấy hay. Với “chuyên môn sâu” của mình, ngài giáo sư nhận thấy gà Ao Xá có rất nhiều ưu điểm vượt trội. Đặc biệt là khả năng “đạp mái” của bọn gà trống Ao Xá thì vô song. Thông thường, các nhà ở làng hay nuôi một đàn gà vài chục con gà mái, giao cho một con trống đầu đàn cai quản trong vườn. Con gà trống này thực thi nhiệm vụ của mình rất xuất sắc. Hàng ngày, nó “ghẹ” đều cả đám gà mái son dưới quyền. Thỉnh thoảng, nó còn dở trò ba trợn, “hiếp dâm” cả mấy mụ mái nạ dòng đang nuôi con nhỏ, khiến cho lũ gà con chạy tán loạn, vừa chạy vừa kêu thất thanh: “khiếp, khiếp, khiếp…”. Giáo sư Kê bất giác cười thầm. Vì, ngài tự liên hệ, thấy mình cũng hơi giống con gà trống! Ngày còn đương chức viện trưởng, ngài cũng hay tốc váy em thư kí, đè ngửa vào cạnh bàn làm luôn một “nháy”. Nhưng lát sau, sang phòng em kế toán trưởng, nhìn cặp chân trần trắng muốt của em, thò ra khỏi cái váy ngắn cũn, cứ ngó ngoáy, ngó ngoáy… Ngài lại nổi hứng, tốc váy em nó lên, đè sấp vào bàn, làm “nháy” nữa!...Về hưu rồi, nhưng cái “thằng em nhỏ” của ngài vẫn sung lắm, nên ngài vẫn phải kết bạn với một em ngoài phố, để lấy chỗ “đi lại”. Chứ mình bà vợ già, không đủ tải… Quả thật, càng quan sát đàn gà làng Ao Xá, càng thấy hay. Thế mà bao nhiêu năm, không có ai biết quảng bá cái giống Gà Ao này ra nhỉ? Ngài giáo sư hồi hưu quyết định sẽ lập một “dự án”, nghiên cứu về cái giống gà nổi tiếng Nước Việt của làng Ao Xá.

 

 Ngài bèn sang bên đó, gặp gỡ các cụ cao niên cùng với đám chức dịch để phân tích cho họ hiểu về, những cái lợi to lớn mà việc nghiên cứu, quảng bá giống gà của làng mang lại. Ngài còn hứa sẽ xin kinh phí “tài trợ” cho dự án ấy. Việc này đối với ngài dễ ợt, bởi, nó thuộc về chuyên môn chính của ngài hồi còn đương chức viện trưởng “ Viện Nghiên Cứu Súc Vật Trung Ương”. Tay viện trưởng kế nhiệm ngài, vốn là một thằng nhân viên rửa ống nghiệm trong la bô. Nghe thầy cũ xin kinh phí tài trợ nghiên cứu về giống gà nổi tiếng, thầy lại nói nhỏ là: “Tao cắt lại cho riêng mày hai mươi phần trăm”, hắn kí cái xoẹt! Có tiền rồi, lập tức đề tài nghiên cứu được triển khai cực kì rầm rộ. Địa phương cũng muốn nhân dịp này, phát huy quảng bá một sản phẩm của quê hương. Thời buổi kinh tế thị trường mà lại.

 Sau này, khi công trình đã nổi tiếng rồi, ngài giáo sư có tâm sự ở một buổi thuyết giảng là, hình như có một mối liên hệ thần bí, không giải thích nổi. Một cái “duyên” giữa ngài và “Ngài Kê” bên Ao Xá. Chả thế mà, ngày xưa ngài giáo sư tên khai sinh là Kế, nhưng từ lớp vỡ lòng đến đại học, đều gọi ngài là Kê. Dân làng Ao Xá và dân làng Ngọc thì, từ lúc ngài chủ trì “Công trình nghiên cứu và phát huy giá trị kinh tế, văn hoá, tâm linh của gà Ao”, toàn gọi ngài là giáo sư gà. Ngài Giáo sư Gà!

 Theo Giáo sư Gà, về mặt kinh tế, gà Ao là một giống gia cầm chất lượng cao, thịt ngon. Đặc biệt, cặp chân con trống làm món Kê Cân thì tuyệt cú mèo - Kê Cân là tên một bài thuốc cung đình phục vụ vua chúa, gồm cặp chân gà trống, được chế biến đặc biệt, hầm với các vị thuốc cường dương đại bổ - Đích thân ngài giáo sư đã thử món này. Nhắm xong món Kê Cân, cả tuần đó, vợ ngài đuổi sang nhà bồ, bồ ngài lại đuổi về nhà vợ, vì ngài sung quá, không bà nào chịu nổi. Như vậy, ngài kết luận, gà Ao còn có giá trị lớn trong y học.

 Về mặt văn hoá mà nói, gà Ao đã đi vào ca dao tục ngữ, thơ văn… thậm chí là làng Đông Hồ gần đấy, đã lấy làm nguyên mẫu để vẽ bức tranh gà, rất nổi tiếng. Nghe đâu những bức tranh gà đó, đã được khách du lịch nước ngoài mua về, bán lại cho những bảo tàng nổi tiếng bên Paris, London treo, người xem rất tán thưởng.

 Dân làng Ngọc, quê hương của Giáo sư Gà thì lại chả coi cái công trình ấy của ngài ra gì. Có mấy tay quen thói châm chọc còn bảo, thằng cha ấy rồ, thừa thời gian, không biết làm gì, lại đi sang cái làng “âm lịch” ấy nghiên cứu cái trò vớ vẩn, thi gà với cả chọi gà. Nhưng có mấy tay ra vẻ “hiểu đời” thì nói: “Các ông toàn loại ngu lâu khó đào tạo! Không biết cái đinh là gì! Cái tay “gà sống thiến sót Giang Đình Kê” làng mình, sang bên đó, khuấy nước để “cá kiếm” đấy, khá lắm!”… Ngài giáo sư cũng chả chấp nê mấy tay người làng ít học ấy. Cứ hàng ngày, ngài sang bên Ao Xá nghiên cứu. Vào dịp hội làng, bên Ao Xá có lệ thi gà to, gà đẹp vui lắm. Con gà nào đạt giải nhất liền được cắt tiết, luộc chín, đưa lên mâm, mỏ ngậm một bông hoa hồng, cúng thành hoàng là… “Ngài Kê”!Thật là một nét phong tục lạ lùng, cần nghiên cứu, lý giải cặn kẽ… Ở làng Ngọc thì có cái quái gì mà nghiên với chả cứu nữa. Mà có thì cũng chả nghiên cứu nổi. Ai đời, thành hoàng làng lại đi thờ cái bà vú to như cái rổ, bướm thì như cái gầu sòng tát nước. Đã thế, lúc nào cũng phải kè kè bộ “sinh thực khí” - Tức con chim, hay như bọn teen nó gọi là “ hàng”- bên người! Chả có tí văn hoá cao nào, toàn chất phồn thực. Dân làng Ao Xá chuyên làm ruộng, nên các cụ trên, cùng với mấy tay chức dịch trong làng, bảo gì cũng nghe. Bảo mang gà ra thi là mang, bảo đóng góp tiền của để phát huy văn hoá quê mình là đóng góp ngay, không phải nghĩ. Chả như dân làng Ngọc, ra ngoài học hành, làm quan, buôn bán…Nên tay nào tay nấy khôn như cáo, chỉ bo bo là vun vào nhà mình, cấm có bỏ ra làm việc công bao giờ.

 Nhưng ngài Giáo sư Gà thì xác định rất rõ ràng rồi, ngài coi đây là “công trình để đời” của mình. Khi còn công tác, ngài mải đấu đá để lên chức lên quyền. Có chức có quyền rồi, thì ngài còn bận đi xin phê duyệt các“dự án nghiên cứu”. Sau đó, tổ chức thực hiện, sao cho tiêu hết tiền nhà nước cấp một cách gọn ghẽ…Về hưu, có thời gian ngẫm ngợi, ngài điểm lại thấy, thật ra là mình có công danh nhưng chả có sự nghiệp gì cả. Mang danh là giáo sư tiến sĩ, viện trưởng nghiên cứu. Nhưng cả đời, chả để lại được một cái “tác phẩm” gì cho ra hồn. Mấy cái gọi là “công trình nghiên cứu khoa học”, mà ngài đứng tên chủ đề tài, nghiệm thu xong, là cho vào tủ khoá kĩ. Chả tay nào tham dự vào mà dám khoe ra, vì, tay nào cũng biết, đấy chẳng qua là cái trò moi tiền nhà nước… Chả hiểu nước ta, kêu nghèo, mà xài tiền cứ như đốt mã ấy nhỉ? Thế nên, ngài Giáo sư Gà, cũng muốn làm một cái gì đấy “để lại cho đời sau”. Vả lại, khi về hưu rồi, không có công việc gì làm thì, thấy cũng bứt rứt lắm. Nhân một dịp nhà nghiên cứu văn hoá dân gian nọ lại về Kinh Bắc, qua Ao Xá chơi. Giáo sư Kê gặp và đàm đạo. Hai tay “trí thức lớn” khá là tâm đầu ý hợp. Đặc biệt là ý tưởng phát huy giá trị văn hoá tâm linh của tục thờ “Ngài Kê” làng Ao Xá. Sau một chầu rượu nhắm với món Kê Cân, hai tay “trí thức lớn” quyết định hợp tác chặt chẽ, để khuếch trương cái giá trị văn hoá, tâm linh của “Ngài Kê” ra tầm quốc gia quốc tế. Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian sẽ làm“cố vấn văn hoá” cho Giáo sư Kê, chủ đề tài. Điều này thì, các em tiếp viên của nhà nghỉ Hương Nhài trên phố biết rất rõ. Chả là sau chầu rượu Kê Cân, hai ngài đi nhà nghỉ. Chủ nhà nghỉ Hương Nhài là chỗ quen biết, cho treo biển hết phòng, huy động nhân viên chỉ phục vụ hai ngài…Hôm ấy, một ngài nguyên là tiến sĩ súc vật học bên Nga về, và một nhà nghiên cứu văn hoá dân gian lớn, đã giáo hoá mấy em tiếp viên một buổi chiều, về “văn hoá gà” đặc sắc của quê hương…

 Sau đó, ngài giáo sư tổ chức thực hiện dự án “Công trình nghiên cứu và phát huy giá trị kinh tế, văn hoá, tâm linh của Gà Ao” rất bài bản.

 Đầu tiên, ngài tổ chức vài buổi hội thảo. Mời rất nhiều chuyên gia học hàm, học vị sáng loè quanh người về dự. Lại cho mời cơ man nào là phóng viên đài báo các kiểu về đưa tin, viết bài. Một số đài truyền hình còn làm hẳn vài trường thiên phóng sự, hết sức đặc sắc về “Ngài Kê”, làng Ao Xá và những “truyền thuyết” phi phàm của ngài. Tất nhiên, như thông lệ, ở nước ta đến dự hội thảo hay đưa tin, viết bài, đều có “ kinh phí bồi dưỡng” cả. Mà, tiền cho việc nghiên cứu này không thiếu. Giáo sư Gà, chủ đề tài xin được từ Viện Súc Vật Trung Ương. Lại còn dân làng đóng góp, các doanh nghiệp tài trợ…vân vân và vân vân. Cái phần ấy, giờ hay gọi một cách thời thượng là “kinh phí xã hội hoá”.

 Kết thúc các buổi hội thảo, Giáo sư Gà - giờ đây ngài rất hãnh diện với danh xưng này - luôn luôn đọc một bản tổng kết do ngài cùng với nhà nghiên cứu văn hoá dân gian nọ đã dày công chắp bút. Trong đó, ngài đưa ra mấy kết luận khoa học hùng hồn sau đây:

 Thứ nhất, “Ngài Kê” làng Ao Xá, chính là “Ngài” đã có công giúp An Dương Vương diệt trừ yêu quái để xây nên thành Cổ Loa xưa. Điều này đã được rất nhiều nhà khoa học lịch sử và không lịch sử, dự hội thảo chứng minh từ các bằng chứng hùng hồn, trích dẫn trong các bộ sử rất xưa và các đạo sắc phong khá mờ ảo tại đền thờ Cao Lỗ Đại Vương gần đấy. Thế nên, “Ngài Kê” làng Ao Xá, có một giá trị văn hoá tâm linh không thể chối cãi.

 Thứ hai, từ điều thứ nhất mà suy ra thì thấy rằng, “Ngài Kê”, chính là bản sắc, là tâm hồn của làng Ao Xá nói riêng, cũng là tiêu biểu cho cả văn hoá Nước Việt nói chung.

 Thứ ba, từ hai điều trên, rút ra kết luận rằng, “Ngài Kê” làng Ao Xá chính là bảo vật quốc gia, cần phải nghiêm cẩn giữ gìn cho con cháu mai sau. Cần phải cho dòng giống của ngài nảy nở sinh sôi khắp Nước Việt và quảng bá ra toàn thế giới.

 Nghe đâu, lúc viết cái bản kết luận khoa học trứ danh trên, giữa ngài giáo sư gà và nhà nghiên cứu văn hoá có một chút bất đồng nhỏ. Chả là, ngài giáo sư muốn đưa thêm một điều khẳng định nữa, về giá trị y học và dinh dưỡng của “Ngài Kê” vào. Nhưng nhà văn hoá bảo, đưa ra kết luận như thế nó làm giảm giá trị tâm linh của ngài đi. Mà thế kỉ hai mốt này, tâm linh mới là vấn đề đấy…Ngài giáo sư nghĩ một lúc, thấy cũng phải. Tâm linh là một vấn đề rất trừu tượng, đã tiêu tốn không biết bao nhiêu trí tuệ của nhân loại vào đó. Nhưng hầu như tới giờ, đã mấy ai hiểu gì. Và tất nhiên, nhân loại sẽ còn tốn nhiều thời gian, nơ ron thần kinh và cả tiền của nữa, vào vấn đề hóc búa này. Hiển nhiên, “Ngài Kê” làng Ao Xá, là thuộc về phạm trù tâm linh rồi. Thậm chí, Giáo sư Gà còn đề xuất với chức dịch trong làng, cấm dân không được gọi là gà…gà… nữa, mà phải gọi là ngài …ngài…cho thể hiện hết sự cung kính với bậc thần linh có công lao giúp nước.

 Từ đó trở đi, dân làng Ao Xá vô cùng hãnh diện vì làng mình có bảo vật tầm cỡ quốc gia, quốc tế là “Ngài Kê”. Họ cũng vô cùng biết ơn ngài Giáo sư Gà, đã khai mở tâm trí cho cả làng biết những điều vô cùng cao siêu của tiền nhân để lại, mà bao năm qua, không một kẻ phàm phu tục tử nào hiểu nổi. Cả làng Ao Xá, từ đấy trở đi, luôn nghĩ đến “Ngài Kê” với sự trân kính rưng rưng. Thậm chí, nếu trên đường có gặp hậu duệ của “Ngài Kê”, họ cũng nhường các ngài đi khuất rồi mới bước tiếp. Dân các làng quanh vùng thì quên luôn tên làng Ao Xá, mà gọi làng Gà! Dân Gà! Dân làng cũng chả lấy thế làm điều. Bởi, họ đã được nhà “trí thức lớn” của đất nước, chỉ cho thấy niềm tự hào vĩ đại của cái làng “ngàn năm văn vật…”

 

 

 

 Giáo sư Kê đến đình làng Ao Xá, cũng là lúc dân làng tập trung đông cả. Mọi người nhìn thấy ngài đều hân hoan hỉ hả, lại gần bắt tay cảm ơn khôn xiết. Thật là nhờ có ngài Giáo sư Gà, hôm nay dân làng mới có được cái vinh hạnh to lớn. Đình và “Ngài Kê”, được đón bằng công nhận “di tích…”. Trong niềm hân hoan, phấn khích của cả làng, ngài giáo sư nhớ lại cái buổi ban đầu, thật cơ man nào là gian khó. Lọ mọ ngồi viết mấy trăm trang “dự án”. Rồi họp dân để đả thông tư tưởng ( may, cái dân Ao Xá này “âm lịch” lắm, ngài lấy tích xưa ra loè, nên họ nghe ngay ). Thậm chí, ngài đã xây dựng cả một chiến lược “pi-a”(PR) cẩn thận. Riêng cái vụ PR này, ngài phải nói trẹo cả lưỡi thì, các cụ trên và đám chức dịch trong làng mới lờ mờ hiểu. Thế nên, ngài thấy tự khâm phục mình thật! Mình quá giỏi! Vụ này, được cả “danh” lẫn “lợi”! Tối qua, ngài đem sổ sách ghi chép của mình ra đối chiếu với quyết toán mà làng vừa thông qua, thấy quỹ riêng của ngài dôi ra được dăm trăm…Có lẽ, kỳ này, xây lại cho “em nó” ngoài phố cái nhà, lấy chỗ đi lại cho đàng hoàng…

 Đã tới giờ “hoàng đạo” để làm lễ tế thành hoàng, nhân dịp đón bằng “di tích…” và khánh thành bức tượng “Ngài Kê” mới, to, đẹp. Chả là, tượng cũ, ngày xưa làm bằng đất sét trộn mùn cưa, lâu ngày bở ra hết. Nay, có điều kiện, ngài giáo sư đề nghị trích kinh phí dự án ra làm lại, lần này bằng gỗ mít cẩn thận… Giáo sư Gà, giờ đây đã được coi như công dân danh dự của làng. Cùng với các cụ trên, chức dịch trong làng vào đình làm lễ rất chi là trọng thể. Ông chủ tế cất giọng sang sảng, đọc văn tế vào micro truyền ra cho cả làng nghe : “Kính ư ư ư! Nhất đẳng thượng thần Ngài Kê ê ê ê…”. Bộ Ampli cũ của đài truyền thanh làng, không được tốt lắm. Thành thử, khi truyền ra loa, vang vọng khắp làng Ao Xá âm cuối, nghe như là : Mê ê ê ê…….

 

 

9.2013

 T.T.C.


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 145061)
Em Người đàn bà sống dậy lúc nửa đêm icon bật sáng Lang thang trong thế giới ngôn từ Đi về bằng đôi chân giả Dối gạt nhau qua lũ hình nhân sặc sỡ Sắc màu
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 99632)
Một cái chết tức tưởi, phi lí như thân phận con người trên cõi đời, như Albert Camus đã nhận xét trước kia. Ở tuổi 46, hai năm sau ngày lãnh giải Nobel. Trong túi xách của ông có đựng bản thảo cuốn tự sự hư cấu còn dang dở Le Premier Homme (Người đầu tiên), kí ức tặng mẹ, “người sẽ không đọc được nó’’. Cây ngô đồng (không hiểu sao) nay không còn nữa, chỉ có đài tưởng niệm dựng ở ven làng. (1)
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 125647)
Sự thật là tôi không khóc khi chị cướp mất người đàn ông của tôi. Chị trơ trẽn mơn trớn anh ngay trước mắt tôi, rồi lại giả đò lúng túng vì những hành động ấy. Giá tôi có thể đẩy chị về nơi thật xa. Đẩy chị vào khoảng không vô chừng của bóng tối, trong sa mạc, cát bụi.
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 113416)
Thật trơ trẽn, chúng nó hít hà, giá mà bóp vú em - dù chỉ qua lớp áo bà ba và áo nịt - được cái thì dù tử thần bảo phải nhượng cho mươi tuổi thọ, chúng cũng ký cả hai tay. Chàng cười diễu, bọn mày chẳng biết thế nào là tình ái. Chẳng chịu khó tìm phương đến đích. Nếu chinh phục được họ, sá gì hai quả đào mưng sữa kia chứ, bao nhiêu hầm mỏ ruộng nương mà các cô không dâng sạch cho tình lang?
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 126032)
...Cô y tá nựng tôi! Tôi chồm lên ngang vai rồi liếm vào mồm, cô ngã ngửa ra, tôi tiếp tục vồ lấy. Tôi hôn cô. Tôi hít cô. Tôi xé quần áo cô. Tôi kiên quyết không rời cô. Tôi không có ý thức, mà cũng chẳng biết đạo đức là gì? Tôi đã tấn công cô y tá, đấy là họ bảo tôi thế, có người bàn thiến hai hạt dái của tôi...
17 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 120289)
Nơi nào mùa xuân bắt đầu? Mùa Xuân bắt đầu từ những mầm cây non còn ngủ sâu dưới lòng đất giữa mùa Đông giá buốt. Chúng là những đứa con của các cây bố cường tráng, khỏe mạnh; và những cây mẹ dẻo dai, sum suê kết quả suốt mùa Hạ thơm lừng; sau những đêm ấm nồng lửa nhiệt đới và mặt trời không bao giờ tắt giữa đôi tay. Các bố mẹ cây gửi tình yêu của họ trong bọc lụa theo gió, để những đứa con mang mùa Xuân đến cho mặt đất và muôn loài.
15 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 125950)
Chuyên đề Tạp chí Văn : Nhiều Tác Giả (văn hóa) Sau chuyên đề về Tập san văn chương Ý THỨC, Văn Chương Việt hân hạnh được giới thiệu chuyên đề về Tạp chí Văn và chân dung những người đã dựng nên tờ tạp chí một thời vang bóng này.
14 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 149144)
Cũng chẳng cần mầu xanh của lá mầu đỏ của hoa hồng chỉ thấy trong veo như nước lọc nước tan trên môi nước hòa trong mắt làm thế nào mà tách được nước ra
14 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 153869)
Tháng sáu bắt đầu bằng cành hoa mong manh Trưa nắng chói chang lấp lánh mảnh thuỷ tinh vỡ Theo vòng tay buông lơi Mùa hè trở lại ở góc 360 Những cánh phù du trĩu nặng mắt chiều
14 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 146923)
Sông như lọn tóc dài cầu gầy như cánh tay Sa Lung ga chờ anh vời vợi con tàu qua rất vội như là trốn chạy nhau
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3824)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13288)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19655)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18628)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1625)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1774)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2296)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2408)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1448)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2208)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1947)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1993)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1367)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2403)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2613)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2370)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 243)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 800)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 996)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1110)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6403)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15885)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32145)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38858)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1477)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6901)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10680)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9880)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10008)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10810)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3451)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11151)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10352)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi