- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Bí mật trên du thuyền

01 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 59773)



lynhaky_2-content
 Lý Nhã Kỳ- ảnh Internet
 

Lời người dịch. Bí mật trên du thuyền là một truyện ngắn trích ra từ tập truyện Bảy Người Đàn Bà Vòng Quanh Thế Giới tiếp theo truyện Đứa Con Gái Đồng Hoang của Arnaldo Fraccarol đã được đăng trong Hợp Lưu số Xuân tháng Hai 2013.

Bùi Ngọc Khôi

 

 

  Nàng trông cũng như bất cứ một người phụ nữ nào, như bao phụ nữ khác, một người đàn bà như bao người đàn bà đẹp khác.

 Thế nhưng …

 *

 Du thuyền đang hải hành trên biển Hồng Hải. Một ngày thật nóng bức. Thuyền trưởng tuyên bố thế nào trời sẽ mát khi tàu eo biển Bab-el-Mandeb.

 Và thật vậy, đúng thế, vào eo biển tàu liền gặp gió, thật là may. Nhưng chỉ hai ngày sau khi đã vào Ấn độ dương thì cái nóng trở lại, dí nặng hơi ẩm lên thân người, dán những giọt mồ hôi lên da. Mặt biển lặng như tờ không khác gì mặt ao. Ai cũng có cảm giác mình nằm trong một cái đầm nước sôi xùng xục. Không khí nóng nực bao trùm cả con tàu, trong các phòng ngủ, các cabin các cánh quạt máy bóng loáng quay tít nhìn muốn chóng cả mặt với ảo tưởng là chúng sẽ đem lại được một tí gì mát mẻ.

 Hành khách ai cũng đều chán nản. Ngay cả các tay chơi bài bridge có tiếng là cứng cỏi luôn có sẵn bộ bài trong tay suốt ngày vùi đầu chơi không màng gì đến biển cả, cảnh hoàng hôn, đêm đầy trăng, cũng phải nao núng chịu thua trước cái nóng.

 -Nhưng khi mình đến Xích đạo thì xong vì sẽ có thay đổi, viên thuyền trưởng nói như để an ủi đám hành khách.

 Lời an ủi chẳng có hiệu lực vì khi tàu ghé Colombo vài người đã xuống bến bỏ cuộc đi.

 Một hành khách Úc đứng ra tổ chức những cuộc vui như dạ hội hóa trang nhưng đám hành khách chuyên đi du lịch như lũ chúng tôi không màng mấy chuyện đó. Trong khi đó chúng tôi giết thì giờ bằng cách xem mấy con cá heo bơi đua hai bên hông tàu, mấy con cá bay người như các mũi tên bạc phóng lên từ mặt nước, đêm đến thì chiêm ngưỡng những ánh trăng ánh sao lấp lánh phản chiếu trên mặt nước.

 

*

 Một chiều nọ sau khi ăn xong, tôi ra đứng dựa lên lan can phiá đuôi tàu đứng một mình trong bóng đêm ngắm nhìn mặt biển lấp lánh ánh sáng, những dợn sóng dậy lên rồi gập mình xuống phóng ra các tia sáng lên xuống theo thủy triều.

 Bất thần tôi nghe một giọng nói mềm mại đàn bà thì thầm vào tai mình:

 -À, anh đó à! Em ra trễ tìm anh khắp nơi nhưng không thấy.

 Rồi tôi có cảm giác một cánh tay trần luồn xuống dưới tay mình, một khuôn mặt dịu hiền và dễ thương đưa sát đến mặt mình. Sự ngạc nhiên trên mặt tôi không to bằng nét ngạc nhiên của người thiếu phụ.

- Ậy! xin lỗi ông, tôi đã lầm.

 Và nàng vội quay lưng đi, chạy thật nhanh lên trên cầu thang. Tôi chỉ kịp thấy một khuôn mặt trắng trẻo bị nuốt chửng bởi vùng ánh sáng bị cắt đứt bởi bóng tối dưới chân cầu thang.

 Nửa tiếng sau, tôi gặp viên thuyền trưởng trên boong tàu và kể lại cho ông ta nghe chuyện ngộ nhận đó. Ông ta ném cho tôi cái nhìn đầy hiếu kỳ:

 - Ông cũng bị nữa sao?

 - Ông nói cái gì mà "ông cũng bị nữa sao"? Bộ đó là thói quen của bà đó là ...

 - Thôi bỏ qua đi, mà ông có đi theo bà ta lên cầu thang không?

 - Không.

 - Tiếc thay.

 - Tại sao?

 - Biết đâu có một cuộc mạo hiểm nho nhỏ.

 - Thuyền trưởng, ông tin rằng cái bà đó đi tìm mạo hiểm?

 - Tôi không dám tự cho phép mình phán đoán một người đàn bà mà mình không biết rõ.

 - Thuyền trưởng, nghe kỹ này. Ông có vẻ biết "tai tiếng" của bà ta.

 - Không, nhưng thôi đi. Bà đó là một loại người khá ly kỳ. Tôi thì không biết cách tìm tòi hiểu về mấy loại người đó. Đời sống trên tàu như một cuốn phim. Cứ mỗi cuộc hành trình là một loạt người đủ loại khác nhau lên tàu và tôi tập thói quan sát nghiên cứu họ nhưng cái bà đó thì tôi vẫn chưa biết xếp vào hạng nào.

 - Tôi để ý thấy bà đó không đi một mình.

 - Không, có một ông đi chung với bà ta.

 - Cái ông mà đi theo bà này đến bàn ăn và vài lần đi dạo chung, đúng vậy, tôi đã thấy ông đó. Chồng của bà ta hả?

 - Ậy!

 - Sao lại ậy? Ông thấy sổ thông hành của họ rồi thì phải biết chứ.

 - Người đàn ông đó là chồng của người đàn bà đó một cách chính thức, theo như sổ thông hành.

 - Thì sao lại đâm nghi ngờ?

 - Thói quen cố hữu của thủy thủ mà.

 - Họ lên tàu ở bến nào vậy?

 - À, cái này thì ... họ không lên cùng một lúc. Bà này lên tàu ở Napoli, còn ông đó lên tàu ở Porto Said.

 - Nhưng bà đó lên rồi thì đợi chồng vì biết ông ta sẽ lên tàu chứ? Ông có thấy là bà ta vui khi gặp chồng không?

 - Ông bạn thân, một phụ nữ có chồng khi đi cạnh chồng thì luôn ra vẻ hạnh phúc là bên cạnh chồng.

 - Tên bà ta là gì?

 - Stella Harwing.

 - Người Anh?

 - Mỹ, theo như sổ thông hành.

 - Chồng bà đó thuộc loại người gì?

 - Ông ta ít khi ló mặt lắm.

 - Không được khoẻ?

 - Hắn làm việc trong ca-bin, bà vợ nói vậy.

 - Làm việc? Trong ca-bin? Làm gì?

 - Có lẽ nghiên cứu, thiết kế, viết lách gì đó, tôi không rõ. Hắn là kỹ sư, dường như thế. Họ đi Melbourne vì chuyện làm ăn, một nhà máy gì đó tôi không biết cho một trong mấy cái áp-phe gì đó tôi cũng chẳng biết. Nhưng từ đây cho đến Melbourne còn xa, ông bạn có đủ thì giờ để làm quen với họ. Nếu ông chồng muốn thì ...

 - Thôi, cám ơn.

 - ... ông bạn có thể làm quen với bà đó. Tôi thấy hình như ông chồng không lo lắng gì nhiều về vợ mình.

 - Nhưng vợ thì lo nhiều cho chồng. Bộ ông không tin là bà ta đi tìm chồng mà lãm với tôi sao?

 - Tôi không tài nào biết. Nhưng nếu ông bạn không có gì làm thì có thể bắt đầu học cách nghiên cứu những bí mật trên tàu.

 - Tôi không có ý định làm thám tử.

 - Không phải vậy. Ông chỉ làm gì đó để tiêu khiển thôi. Nghiên cứu một phụ nữ đẹp đẽ và trẻ trung và duyên dáng luôn là một cái nghề thích thú. Làm đi!

 

*

 

Ừ nhỉ, sao lại không?

 Sáng hôm sau tôi khởi sự kín đáo quan sát từng cử chỉ của người đàn bà và nhận thấy mình bắt đầu thích làm việc này. Trong sự nhàm chán của hải hành, bỏ thì giờ nghiên cứu một phụ nữ đẹp đúng là chuyện thích thú. Viên thuyền trưởng có lý.

 Người đàn bà đẹp đó thường ra nằm phơi nắng cạnh hồ bơi trên boong trong giờ dành cho trẻ con. Đây là chuyện lạ đối với một phụ nữ đẹp thích thiên hạ chiêm ngưỡng mình. Mấy bà mấy cô đẹp thích đi tắm vào khoảng trưa khi có nhiều người xung quanh. Nếu không thì lý do nào khiến phải tô mày vẽ mặt?

 Một tiếng đồng hồ sau nàng trở lại chỗ tản bộ trên boong tàu, khoác trên người một bộ quần áo nhẹ và hở hang nhưng rất trang nhã khiến nàng trông khêu gợi một cách kín đáo, một áo khoác không cánh tay hơi hở ngực và quần lụa ống rộng trông tựa như váy. Nàng không nhìn ai hết, nằm dài xuống ghế mở sách ra đọc.

 Viên thuyền trưởng thật là quá quắt nếu dám kết luận xấu về người đàn bà tốt tính giản dị, tránh xa mấy đám đông lắm chuyện ngồi lê trong phòng nhạc hoặclãng phí thì giờ trong mấy sơn quần vợt hay bar rượu.

 Những cử chỉ thật hồn nhiên của bà Stella Harwing với tôi là gì tinh khiết và hiển nhiên làm tôi thấy nên bỏ ngang cuộc điều tra. Rõ ràng đây là một phụ nữ phúc hậu chỉ muốn tiêu khiển thì giờ cạnh những người tốt.

 Nhưng ngay đúng lúc tôi đang có những ý nghĩ tốt về bà thì một người đàn ông đến ngồi xuống ghế cạnh bà ta. Tôi biết gã này: một người Hòa Lan đến từ vùng Java, khi gặp tôi đã khoe mình là chủ đồn điền cao su và ruộng lúa với lợi tức rất cao. Bây giờ vì cơn khủng hoảng làm giảm thu nhập, nhưng hắn vẫn còn giàu kếch sù, hắn quay sang buôn bán nữ trang và đá quý, đi đi về về giữa Viễn Đông và Amsterdam. Tên này vào độ sáu chục, khỏe mạnh và to lớn.

 Bà Harwing vẫn đọc sách, không buồn nhìn người mới đến. Tên Hòa Lan to lớn ngồi xuống bên cạnh cũng không để ý gì đến bà, hắn mở một bản đồ lớn ra xem.

 Sự nghi hoặc của tôi phải tan biến đi. Tìm đâu ra hai người du khách vô tội hơn hai người này?

 Bất chợt tôi vô cùng ngạc nhiên khi khám phá ra hai người đang nói chuyện với nhau dù không nhìn nhau không trao đổi bất cứ một dấu hiệu gì với nhau. Họ chỉ mấp máy môi, nói rất nhỏ nhưng rõ là họ đang nói chuyện.

 Rồi tôi thấy gã Hòa Lan trong cử chỉ gập lại tấm bản đồ đã kín đáo để gần bàn tay người đàn bà một mảnh giấy nhỏ. Bà này nhanh nhẹn cầm lấy nhét vào trong quyển sách. Ối trời! Sự vô tội của hai người bàng quan tan biến thật nhanh.

 Gã Hòa Lan gập bản đồ xong, thấy tôi, gã đứng lên đi lại chào và bắt đầu gợi chuyện nói tào lao về thời tiết biển cả và cái nóng. Tôi biết hắn nói chỉ là để ra vẻ, xong hắn mời tôi đi bar uống một ly.

 Khi tôi một mình trở lại chỗ cũ trên boong tàu, bà Harwing đang đứng tựa tay trên lan can ngắm biển và trời. Một người đàn ông Nhật đi ngang qua.

 Trên tàu có hai người Nhật với hai bà vợ nhỏ thó. Họ rất lịch sự, luôn chào mọi người, cười với mọi người và gợi chuyện một cách tế nhị. Nghe họ nói chuyện thì biết họ đi du lịch nhiều, luôn để ý đến những gì khác lạ để quan sát và học hỏi. Phải chăng đó là thói quen của họ là luôn quan sát? Họ thật sự là ai? Một điều bí hiểm. Khó mà biết được một người Nhật đi du lịch vòng quanh thế giới là một du khách, kỹ sư, viên chức hay người bán hạt trai. Sổ danh bạ trên tàu thì ghi họ là doanh nhân nhưng buôn bán gì thì không đề.

 Ông Nhật này cũng bị nét đẹp của biển lôi kéo về lan can đứng chiêm ngưỡng. Ông lơ đãng đi lại gần bà Harwing, bà dường như không thấy ông này.

 Không thấy? Cái cảnh gã Hòa Lan và người đàn bà này lúc nãy tôi thấy khiến tôi lần này chú ý hơn. Đúng thế, tôi thấy bà Harwing xoải ta ydài trên lan can và vô tình đụng vào bàn tay ông Nhật.

 - Xin lỗi ông, bà lên tiếng và rụt tay về.

 Nhưng trong cử chỉ thật nhanh lẹ đó bà đã đút vào tay ông Nhật một tờ giấy trắng nhỏ. Tờ giấy của gã Hòa Lan?

 Tôi bắt đầu tin viên thuyền trưởng đã không quá quắt như tôi tưởng một tiếng đồng hồ trước.

 

*

 Tối đến, sau bữa ăn, cái nóng trở nên quá sức chịu đựng. Trên boong tàu có một buổi dạ vũ như thường lệ. Tôi đi lên trên đó tìm chỗ ngồi hóng gió. Tôi đứng trong bóng tối lơ đãng nhìn xuống boong thứ nhì ở dưới vắng như chùa bà đanh. Một bóng đen trông như một người đàn ông dưới đó đứng trong bóng đêm dựa lên lan can. Chợt có ai mở cánh cửa của một phòng làm việc sĩ quan bên cạnh để ánh sáng thoát ra ngoài chiếu lên người đó. Tôi nhận ra người này, một nhân viên ngoại giao trẻ Trung hoa, một người Hoa điển hình tóc đen chải mướt, mặt da ngà ngà đeo kính tròng tròn gọng đồi mồi. Người này đang đứng cùng chỗ mà tôi đứng tối hôm qua. Bộ hắn ta cũng mê những bóng lân tinh lấp lánh trên mặt biển?

 Một bóng trắng đi qua vùng tối đến gần người đàn ông Hoa.

 Chắc tôi lại sắp thấy cảnh tái diễn? Lúc này thì mắt tôi đã quen với bóng tối nên tôi cố ghi nhận chuyện gì đang xảy ra.

 Cái bóng trắng đó tiến lại gần cái bóng đen hơn rồi nói gì đó. Người đàn ông Hoa lộ vẻ ngạc nhiên nhưng tôi thấy cái bóng đen còn ra vẻ ngạc nhiên hơn, nói vài câu mà tôi không nghe rõ được vì bị tiếng sóng biển át đi nhưng có thể mường tượng ra cuộc đối thoại ngắn ngủi giữa hai người không khác những gì đã xảy ra cho tôi, tức là cái bà Mỹ lại nhìn lầm ai là chồng mình, vội xin lỗi xong bỏ đi.

 Nhưng lần này thì hơi khác. Nhà ngoại giao trẻ Hoa bạo dạn nắm lấy tay bà Harwing và nói vài câu. Bà ngập ngừng đáp lại như thể ngạc nhiên về lời lẽ của gã Hoa chắc hẳn táo bạo nhưng sự phản kháng của bà thật ngắn ngủi. Tôi nghe bà ta bật cười lên rồi thấy họ đứng sát lại nhau và thì thầm gì đó. Một thỏa thuận? Một liên minh?

 Rõ ràng họ trở thành bạn với nhau thật mau chóng. Họ cùng bước với nhau về chỗ đi dạo trên boong dưới rồi biến mất trong bóng tối.

 

*

 Khi tôi kể lại cho viên thuyền trưởng, ông ta đưa ra nhận xét:

 - Cái tôi nghĩ là, cái bà đó có khuynh hướng lầm người trong bóng tối. Nghĩ cho kỹ thì đó cũng chỉ là một thú vui như các thú vui khác ...

 Viên thuyền phó đứng cạnh đó chen vào:

 - Có một chuyện khác đáng kể.

 - Chuyện gì?

 - Hôm qua cái bà Mỹ đó đến phòng cơ khí trưởng mượn một cái dũa sắt vì va li của bà bị kẹt ống khóa. Cơ khí trưởng nói để đến giúp bà một tay nhưng bà gạt đi, nói đừng bận tâm "Chồng tôi hay ngạo tôi, nói tôi có biệt tài làm hỏng ống khóa. Cứ cho tôi mượn dũa đi, tôi sẽ cố tự sửa một mình khi chồng tôi không có trong ca-bin".

 Viên thuyền trưởng thì không nghĩ những gì cặp vợ chồng này làm đáng để ý.

 - Nhưng vụ cái dũa thì lạ.

 

*

 Đêm khuya tôi thường đi lên trên boong để hóng gió mát và hưởng sự yên tịnh trước khi trở về ca-bin ngủ. Trên boong tàu chỗ treo thuyền cấp cứu và thúng nước chữa lửa là nơi hẹn hò của các cặp trai gái dùng bóng đêm làm đồng lõa và vì ngồi thiếu thoải mái nên ít ai đến.

 Đại dương vào ban đêm thật tuyệt diệu, sao lấp lánh trên nền trời nhung đen không trăng, ánh sao lấp lánh trên mặt nước, tiếng sóng biển rì rào đều đều. Đầu óc tôi không còn nghĩ đến bà Harwing và những cuộc gặp gỡ trong bóng tối. Tôi để hồn mình trôi theo tiếng ru của biển cả.

 Nhưng kìa, có tiếng ai thì thầm trong đêm đâu đây giọng như tắt nghẽn thật khẽ như không muốn ai khác nghe. Hai người nào đó đang nói chuyện gần tôi, họ đứng núp sau một cái ghe treo. Đứng trong bóng tối, họ tưởng xung quanh không có ai.

 Tôi nhận ra giọng họ: giọng tên Hòa Lan to lớn và bà Harwing. Gã Hòa Lan có vẻ bực mình:

 - Em thật xấu xa, xấu xa và giả dối. Em xem anh như trò chơi dù anh yêu em.

 - Anh điên rồi sao. Anh hạ nhục em trong khi em liều đi tìm anh để ở bên anh, em có thể bị bắt gặp.

 - Với ai em cũng đều làm làm điệu và để họ theo lơn!

 - Anh nói gì? 

 - Rồi bây giờ thì em lại chơi trò gì đó với tên ngoại giao Tàu?

 - À, anh đang dằn vặt em à! Vì em chịu đi với anh, anh tin rằng em có thể đi với mọi người khác. Anh thật bất công và xấu bụng. Anh thừa biết đâu đều như vậy. Với anh, đó là tình yêu, vì tình yêu mà anh đã chinh phục được em.

 Một ngọn gió thổi ngang qua cuốn đi những lời làm tôi không nghe hết được nhưng cảm tưởng tên Hòa Lan vẫn còn đang gắt gao với người đàn bà. Giọng hắn nghe như bị bốc nóng lên vì cơn ghen.

 Bà Harwing đáp lại một cách bất mãn, thề thốt là chỉ thương hắn thôi:

 - Thì em thú thật đó là một nhược điểm của mình nhưng em yêu anh. Anh có một uy quyền gì đó lên trên em không giải thích được. Và rồi anh lạm dụng nó. Tại sao anh nghi ngờ em? Hay vì em đã chưa chứng minh được lòng mình cho anh thấy?

 Một ngọn gió khác cuốn đi những câu nói kế. Tôi không hiểu được họ đang nói gì nhưng mường tượng ra dễ dàng:

 - Em không được đến gần thằng đó nữa, tên đàn ông nói như ra lệnh.

 Người đàn bà đáp lại bằng một giọng nói thật dịu dàng mềm mỏng, loại giọng nói của đàn bà khi muốn tung chiêu mê hồn ra bắt đàn ông như một tay gaucho quăng dây lasso bắt bò trên đồng cỏ.

 Nàng bảo:

 - Anh biết rõ là em phải lân la lại gần mấy người đó. Em cần giúp chồng em lấy được mấy bí mật đó xong mình phải liên lạc ... (À, bọn chúng thật sự là gián điệp!) tụi em kiếm sống như thế, anh biết mà.

 Nhưng gã Hòa Lan không nhường:

 - Anh giầu đủ để giúp em nếu em cần.

 - Anh giầu nhưng anh không có gì trên tàu cả.

 - Ngay cả trên này. Có lẽ anh không đem theo cái rương nhưng ...

 Lại thêm một ngọn gió quái ác thổi ngang.

 Một lúc sau trong khi đi xuống cầu thang về ca-bin cùng hành lang với phòng gã Hòa Lan tôi thấy có người đi vội ra mà trông như cố che dấu không cho nhận diện. Tôi dám thề người đó là chồng người đàn bà bí hiểm.

 À ra thế! Ông Harwing thăm viếng ca-bin gã Hòa Lan mở cửa phòng bằng chìa khóa giả trong khi gã này thì đang đứng trên boong tàu lơn, đúng ra là la, bà Stella.

 Trong bụng đầy thắc mắc, tôi đi tìm viên thuyền trưởng để kể lại những gì tai nghe mắt thấy. Tôi thấy ông ta ngồi trong phòng chơi bài bridge. Tôi kinh ngạc nhìn người đàn ông ngồi đối diện với thuyền trưởng, cầm bài trong tay chơi say đắm, ông Harwing.

 Vậy thì người đàn ông từ phòng gã Hòa Lan đi ra là ai?

 

*

 Sáng hôm sau, tên lái buôn đá quý Hòa Lan bảo tôi:

 - Ông lên trên kia chỗ câu lạc bộ thể thao để ăn sáng với tụi tôi không? Dưới phòng ăn nóng quá. Trên kia mình ăn ngoài trời, sẽ có mấy món đặc biệt, viên thuyền phó sẽ ăn với mình. Vợ chồng Harwing luôn, họ rất dễ mến.

 Tôi vui vẻ nhận lời vì để ý nhiều đến cặp vợ chồng dễ mến này và rất tò mò muốn nhìn họ gần xem mặt mũi ra sao.

 Bồi bàn cho dọn bàn chỗ có bóng mát.

 Bà Stella Harwing với điệu bộ duyên dáng đứng ra đóng vai nữ chủ nhân. Bà vui vẻ, bặt thiệp, miệng luôn nở nụ cười. Ông chồng trông còn rất trẻ, mặt nghiêm ít nói, điệu bộ cũng nhẹ nhàng.

 Tên lái buôn nữ trang Hòa Lan ngồi cạnh bà Harwing, miệng huyên thuyên.

 - Người ta hay có câu "Mấy ông bự ở thuộc địa tích tụ được tài sản kếch xù trong vài năm là có phúc đức nhất!" nhưng có ai biết đâu cái giầu không đến từ phúc đức mà đến từ mồ hôi nước mắt, từ lòng kiên trì, sự hy sinh...

 - Vậy chắc ông đã hy sinh rất nhiều? Bà Harwing hỏi giọng đượm châm biếm.

 - Sao lại không? Gã Hòa Lan đáp ra vẻ hãnh diện- Khi mới đến thuộc địa tôi chỉ là người làm thuê cho Công ty Amsterdam, trong túi chỉ có tiền công ty ứng trước để sinh sống. Vừa xuống cảng Medan đảo Sumatra, tôi bị lên cơn sốt khủng khiếp. Nếu không có mình đồng da sắt thì tôi đã bỏ mạng. Chỉ hai tháng sau, tôi trèo núi đảo Sumatra nơi hồ Toba để chỉ huy nhân công đốn cây.

 - Đó là nghề của ông?

 - Nó trở thành nghề của tôi nhưng trước đó thì tôi hoàn toàn không biết gì cả. Cuộc sống trên núi như trong hỏa lò. Cả trăm nhân công bản xứ lẫn Tàu do tôi quản trị, đôn đốc, đánh đập. Đó là chưa kể thán khí độc trong rừng, thảo dược độc, rắn rít, côn trùng hút máu và cái nóng kinh hồn ... Bây giờ nghĩ lại tôi không hiểu nổi làm sao mình sống còn được. Kéo dài năm năm trời.

 - Ông làm công?

 - Ừ, thì làm cho Công Ty. Rồi tôi may mắn, phải, đó là phúc đức, gặp một người chủ khác thấy tôi làm việc. Ông này gạ tôi đi theo hắn, mỗi chuyến kiếm thêm một ít ... nhưng đâu có dễ ăn, tôi mấy lần suýt bị giết chết khi lũ thợ nổi loạn hai lần. Không khác gì ra trận, luôn nguy hiểm.

 - Chứ ông không sống ở Java sao?

 - Sau đó. Tôi đi Java làm công tác cho hãng cao su và rồi trở thành người trồng cây cao su. Thời kỳ vàng son. Tôi tới luôn như trúng số vậy, không còn đi làm công mà làm chủ. Vạn sự khởi đầu nan nhưng sau đó thì tiền như mưa từ trên trời xuống nhưng chẳng bao lâu thì bị khủng hoảng giá cả nhưng tôi đã đoán trước nên bán tống bán tháo hết đồn điền với giá khá cao.

 - Rồi làm sao ông trở thành tay buôn nữ trang?

 - À cái đó thì ... Bồi bàn! Thêm rượu wít-ky. Điều này phải gọi là "cú thầy". Từ cao-su đi đến đá quý: chơi đẹp chứ? Mọi việc xuông xẻ tốt đẹp. Ai cũng nghĩ là khủng hoảng thế giới sẽ đánh vào kỹ nghệ nữ trang nhưng tôi thì nghĩ ngược lại, ít ra là trong quan điểm của tôi. Áp phe tiến hành tốt đẹp. Cứ mỗi chuyến đi là tôi được ... - hắn định nói ra một con số nhưng ngừng lại rồi bật cười- tôi được một mớ tiền, vậy đó! Nhưng tất cả thành công đó chung quy cũng nhờ vào một nguyên ngân và bà Harwing này, bà là nguyên nhân đó.

 - Tôi?

 - Vâng, là phụ nữ, bà đại diện cho các phụ nữ khác trên toàn thế giới. Nữ trang có được là nhờ phụ nữ và thế giới không bao giờ thiếu phụ nữ.

 Cho rằng mình vừa thốt ra một lời khen thật bặt thiệp, gã Hòa Lan bật cười to. Những người khác cười theo nhưng chỉ vì lịch sự, gã thì ra vẻ hể hả.

 Rồi mọi người bàn luận về nữ trang và tư bản. Ông Harwing kể khi xưa làm việc cho hãng Bloemfontein đào mỏ kim cương tại Nam Phi khi ông khởi đầu sự nghiệp kỹ sư. Ông kỹ sư và tay buôn kim cương bất đồng ý kiến số lượng sản xuất kim cương và vàng tại Nam Phi. Kỹ sư Harwing nói:

 - Mình cần các con số chính xác để bàn luận. Trong ca-bin tôi có tài liệu xác suất. Để tôi đi lấy đem ra đây mình đọc.

 Ông ta đứng lên, đi cầu thang xuống dưới. Vợ ông ta cười:

 - Chồng tôi là con người của con số, coi xác suất như là tôn giáo của mình.

 Nói xong bà quay về một trong mấy người hầu bàn.

 - John, cứ tiếp tục phục vụ. Ông kỹ sư sẽ trở lại ngay.

 Lúc đó tôi quay qua nhìn người hầu bàn, một người đàn ông độ bốn chục mặt nghiêm, hắn không phải là một trong các người hầu bàn quen thuộc mà cũng không mặc đồng phục như họ mà là áo khoác trắng với cánh tay ngắn màu xanh. Hắn từ đâu ra?

 Người đàn bà thấy tôi lộ vẻ ngạc nhiên, giải thích:

 - Đây là người hầu bàn của riêng tôi, luôn đi với chung với vợ chồng tôi.

 Hơn mười lăm phút sau, kỹ sư Harwing trở lại bàn khi cả bàn đang ăn trái cây tráng miệng. Đi về phòng lục tìm tài liệu gì mà lâu thế, quá lâu. Bà vợ nói vì tính chồng rất kỹ lưỡng. Viên kỹ sư giải thích:

 - Tôi không nhớ mình cất đâu mấy cái phúc trình đó.

 

*

 Ăn sáng xong, sau khi nói chuyện về đào mỏ, du lịch và nữ trang, bà Harwing đứng lên cáo lui.

 - Xin lỗi mọi người, tôi dậy sớm ban sáng, giờ này thì buồn ngủ ... không phải vì quý vị đâu mà chắc tôi già đi.

 Cả bàn lên tiếng phản đối nhưng bà vẫn xin lỗi cáo lui. Gã Hòa Lan xin hộ tống bà về phòng trong khi kỹ sư Harwing đi đến phòng sách trên tàu để tham khảo các tài liệu xác suất. Tên hầu bàn riêng của vợ chồng Harwing ở lại để dọn bàn nhưng thật ra là điều khiển hai người hầu bàn dọn bàn với cung cách kẻ bề trên.

 Chỉ còn tôi và viên thuyền phó. Hai người tản bộ. Ông ta hỏi:

 - Ông có để ý thấy cái trò xác suất không?

 - Không.

 - Cuộc bàn luận về kim cương, tên kỹ sư vắng mặt một lúc để tìm hồ sơ? Có lẽ bữa ăn sáng được tổ chức để giữ lão Hòa Lan tại chỗ trong khi người khác vô ca-bin lão để dò la lục lọi.

 - Ông tin vậy sao?

 - Tôi đã bố trí người đứng rình quanh sát. Tên kỹ sư giả vờ đi về ca-bin mình tìm hồ sơ nhưng thật ra đã đi đến phòng gã Hòa Lan.

 - Phòng hắn không khóa cửa sao.

 - Có nhưng tên kỹ sư có chìa, đi vô phòng ở trong đó cả mười lăm phút.

 - Sự thể như thế thì tàu phải can thiệp chứ?

 - Luật du thuyền là canh chừng để không thành tai tiếng nhưng chỉ vậy thôi.

 

*

 

Tàu ghé Tân Gia Ba, hải cảng huy hoàng vùng Viễn Đông.

 Tôi xuống tàu đi tìm lại mấy người bạn gặp khi tàu ngừng ở các cảng trước. Tôi đi trên những con đường chan hòa ánh mặt trời, giữa những rừng người nườm nượp, người và người đổ đến từ khắp nơi trên vũ trụ. Tân Gia Ba với những cảnh sắc lạ mắt là nơi tụ tập của đủ giống dân, một nơi chốn thật sầm uất.

 Tàu nhổ neo khi hoàng hôn đến. Du khách vừa mệt vừa kích động sau một ngày du ngoạn trong thành phố. Chỉ cần tắm một phùa nước mát là được giải thoát khỏi cái mệt mỏi sau cả ngày đi lòng vòng trong bầu không khí oi bức. Nghỉ ngơi trong ca-bin được nửa giờ đồng hồ xong, tôi thay quần áo rồi đi ăn. Một số hành khách cũ rời tàu, một số mới lên. Cứ mỗi lần tàu ghé một hải cảng nào thì đời sống xã hội trên tàu thay đổi. Ma mới và ma cũ quan sát nhau và tìm hiểu nhau để làm quen.

 Phòng ăn vắng bóng vài người khách cũ vì họ xuống Tân Gia Ba luôn nhưng cũng có người chỉ xuống bến để đi chơi nhưng rồi lười không trở lại tàu, quyết định ở lại dưới đất liền. Ngay cả chỗ ngồi của cặp vợ chồng Harwing cũng vắng: chắc họ đang nghỉ vì còn mệt.

 Gã Hòa Lan coi bộ nóng lòng chờ ai tại bàn ăn. Hắn tiết lộ với tôi là lúc ban sáng hắn và cặp Harwing hẹn xuống bến cùng đi chơi phố Tân Gia Ba nhưng sau đó bà vợ cho biết họ sẽ bị trễ một chút xíu. Gã Hòa Lan không chờ được, hắn xuống phố vì có bạn khác đang chờ và sau đó tụi họ đi với nhau.

 - Xuống tới bến tôi đã không thấy bà Harwing dù họ nói họ sẽ xuống sau ... Rốt cuộc tôi đi vô mấy cửa tiệm thời trang mong gặp ba ta trong đó nhưng không thấy. Trễ giờ, tôi phải trở lên lại tàu.

 Hắn đoan chắc sẽ gặp lại bà này tại bàn ăn nhưng lấy làm ngạc nhiên khi cả vợ lẫn chồng không ai đến.

 - Họ sẽ lên tàu mà nhưng trễ, tôi nói hắn, trễ và mệt và có lẽ muốn nghỉ ngơi.

 - Có lẽ thế nhưng đã nhổ neo đi được ba giờ đồng hồ rồi, họ có dư thì giờ để nghỉ và thay quần áo. Vả lại họ thỏa thuận sẽ đến đây ăn chung chiều nay.

 Tôi biết hắn rất mong gặp lại cái bà đẹp Harwing. Tôi bảo:

 - Ông thân với họ, sao ông không cho ai đến ca-bin họ xem họ có đang ngủ không và họ có muốn đến ăn chung không.

 Gã Hòa Lan vui ra mặt vì lời khuyên đó, hắn lập tức sai một người bồi phòng đi. Vài phút sau người đó trở lại kể: hắn đến ca-bin Harwing, đập cửa nhưng không ai trả lời.

 - Họ sẽ ra mà, ông sẽ thấy họ trên boong tàu đó hay trong phòng ăn, tôi nói.

 - Tôi đi tìm họ, hắn đáp.

 Nếu hắn muốn nói sự thật thì nói "đi tìm nàng" vì đầu hắn chỉ nghĩ đến người đàn bà đẹp đẽ đó.

 Sau nửa giờ đồng hồ lục lọi khắp nơi, hỏi han mọi người, hắn gặp lại tôi trên boong tàu.

 - Ông có biết là tôi tìm không ra họ không?

 - Nghĩa là họ còn trong ca bin đó.

 Không chịu bỏ ý định gặp lại "người tình", gã Hòa Lan đi thẳng đến ca-bin cặp Harwing, gõ cửa rầm rầm nhưng dù hắn đập cửa mãi không ai ra mở. Hoàn toàn im lặng. Vậy thì họ đâu? Hắn đi lên trên gặp lại tôi và viên thuyền trưởng.

 - Không có tin gì về họ sao?

 - Về ai? viên thuyền trưởng hỏi.

 - Cặp Harwing đó mà, tôi tìm cả giờ đồng hồ rồi mà không thấy đâu. Ông thấy họ không?

 - Tôi có gặp họ sáng nay khi tàu mới bỏ neo. Họ xuống tàu rồi sau đó tôi thấy họ trở lên cùng với vài người bản xứ và rồi dường như họ lại xuống tàu nữa. Tôi không rõ lắm. Khi tàu cập bến, tôi có nhiều việc phải làm.

 - Rồi chiều nay ông có thấy họ trở lên tàu?

 - Tôi bận.

 Gã Hòa Lan bắt đầu ra vẻ lo lắng, hỏi:

 - Lỡ họ trở về tàu không kịp thì sao?

 - Cái đó thì lạ lắm- thuyền trưởng nói- vì giờ khởi hành đã được ghi rõ trên bảng phấn treo gần cầu tàu lên bờ mà và chính tôi đích thân nói cho họ biết.

 Nhưng để chiều lòng gã Hòa Lan, viên thuyền trưởng ra lệnh một sĩ quan kiểm soát kỹ về sự vắng mặt của cặp vợ chồng Mỹ.

 Hai mươi phút sau, người sĩ quan trở lại cùng với ông quản gia cho biết họ đã tìm khắp nơi và kết luận vợ chồng Harwing không có trên tàu.

 - Thật không? Viên thuyền trưởng bây giờ cũng tỏ ra ngạc nhiên. Hai người có vào trong phòng họ không?

 - Thưa có, chúng tôi dùng chìa khóa riêng mở cửa vào. Cả ca bin trống không.

 - Còn rương hành lý và quần áo?

 - Rương mở tung, đồ xáo trộn. Thiếu hai va-li.

 Gã Hòa Lan kinh ngạc mồm há hốc.

 - Cái gì? Hắn lắp bắp- Thiếu hai va-li?

 - Dạ, ông quản gia đáp, tôi tin là họ chuyển đồ từ mấy cái rương qua va-li. Tôi có hỏi người bồi phòng, anh ta nói có thấy cặp Harwing xuống bến với hai chiếc va-li. Bà Mỹ còn nói "Hôm nay là ngày mua sắm, tụi tôi sẽ ra phố mua đầy va-li" nhưng bồi phòng có cảm tưởng hai va-li khi đó không rỗng vì khi xin giúp đem xuống bến thì bà Mỹ ngay lập tức từ chối một cách khả nghi.

 Gã Hòa Lan mặt đầy lo lắng bồn chồn.

 - Hẳn họ không còn dưới bến nữa.

 - Chắc không- thuyền trưởng đáp giọng nửa châm biếm- cả vụ này trông như là một tẩu thoát.

 - Khốn rồi! Tên buôn nữ trang Hòa Lan đột nhiên la lên xong vỗ tay lên trán đến đét một cái. Mặt hắn hiện rõ nét kinh hoàng, mắt trợn trừng lên- Vậy thì ...

 Vậy thì sao? Hắn vụt bỏ chạy xiên xẹo về hành lang. Viên thuyền trưởng lo lắng ra mặt, quay sang ra lệnh cho một sĩ quan:

 - Đi lên phòng chỉ huy của tôi và nói sĩ quan an ninh đến gấp. Mình cần dấu vụ này.

 Quay sang tôi, ông ta hỏi:

 - Ông muốn đi với tụi tôi không?

 

*

 

Vài phút sau mọi người đến phòng chỉ huy rồi gã Hòa Lan đi vô dáng điệu thiểu não buông mình xuống ghế. Từ cặp môi run rẩy thoát ra những rên rỉ:

 - Chết mất, tai biến, xập tiệm.

 - Ông sao thế? Chuyện gì xảy ra? Viên thuyền trưởng hỏi.

 Gã Hòa Lan tay cứ múa lên như cố diễn tả những gì mà miệng hắn không nói được vì chỉ ú ớ thoát ra những tiếng than vãn lắp bắp vô nghĩa.

 - Can đảm lên, nói cho biết đi!

 - Không ... tôi không nói được. Trời, tai biến!

 Viên thuyền trưởng cho đem đến một ly nước. Sau cùng gã Hòa Lan mới nói được vài chữ:

 - Bị lột hết ... Tụi chúng lột tôi hết trơn...

 - Ai lột ông, lột làm sao?

 - Tên kỹ sư ... và có lẽ cả ... Trời, mất hết.

 - Ông đã tìm kỹ không.

 - Có chứ! Tụi nó lấy đi hết nữ trang của tôi ... cả tiền nữa. Hơn hai triệu đồng florin Hòa Lan dưới đáy rương, mà là rương sắt không mở được.

 - Nếu vậy thì làm sao mở được?

 - Tôi không biết nhưng tụi nó lấy từ đó ra không để lại một dấu vết gì, từ ổ khóa cho đến các hộc, mọi thứ khác còn nằm nguyên thứ tự.

 - Vậy là họ dùng chìa khóa giả.

 - Làm sao được? Cái ổ khóa đó phức tạp nhất và an ninh nhất.

 Viên thuyền trưởng đến sát hắn, hỏi:

 - Ông chắc chắn là đã không bao giờ cho ai thấy nữ trang của ông?

 - Không mà.

 Nhưng vừa thốt ra hai tiếng đó gã khựng lại, im, rồi lắp bắp nói:

 - Nghĩa là ... có... nhưng chỉ có ...Trời, không thể nào được!

 Hắn trông tuyệt vọng.

 Viên thuyền trưởng nhẹ thúc hắn:

 - Chỉ có ... ông đã cho bà Harwing thấy nữ trang chứ gì?

 Gã Hòa Lan im.

 - Bà ta vô ca-bin ông, đúng không? Chỉ một lần thôi?

 Im lặng.

 Viên thuyền trưởng vẫn kiên nhẫn:

 - Nhiều lần?

 Im lặng.

 - Cố nhớ lại đi. Bà đó đến nhiều lần, đúng không?

 - Đúng.

 - Ngay cả ban đêm?

 - Bà ta ... tính rất tốt. Có lần bà ấy trong người không khỏe, vô ca-bin tôi xin thuốc uống.

 - Tôi không cần biết tại sao bà đó vô phòng ông. Và ông đã cho bà thấy vòng vàng nữ trang chứ gì?

 Gã Hòa Lan gượng nói:

 - Bà tỏ ra rất tò mò như một đứa con nít.

 - Và ông đã mở rương cho bà ta xem?

 - Bà muốn xem mà.

 - Và có lẽ ông còn giải thích cách mở cái ổ khóa đó.

 - Không, cái đó thì không.

 - Nhưng bà ta đã thấy ổ khóa mở ra sao chứ gì.

 - Ừ!

 Viên thuyền trưởng nhìn gã Hòa Lan một đỗi xong phán:

 - Đến lúc này thì chẳng còn gì cho ông làm được.

 Gã này vùng vằng:

 - Mình không cho tàu quay đầu về lại Tân Gia Ba được sao? Kêu cảnh sát bắt tụi nó.

 - Mình đã đi được năm giờ đồng hồ rồi. Dù mình có trở về, bộ ông không nghĩ là mấy đứa bạn ông nãy giờ đã dông mất rồi sao. Nếu ông muốn, chúng tôi sẽ đánh điện cho cảnh sát Tân Gia Ba ... Chỉ làm được chuyện đó thôi.

 Gã Hòa Lan nhẩy bật lên:

 - Khoan. Mình nên thông báo cho phái đoàn Trung hoa nữa.

 - Tại sao?

 - Như vầy ... tôi sực nhớ là ... cái này nói ra thì xấu hổ nhưng ... trong khi gần gũi, bà Harwing cho tôi hay là tay ngoại giao Hoa trên tàu theo cua bà ta ... Tôi và bà đã cãi nhau về vụ đó ... Tên ngoại giao Tàu có các văn kiện quan trọng mà ông chồng rất muốn lấy cắp và bắt bà ta làm chuyện đó ... Bà đã cố đánh cắp các văn kiện đó.

 - Và ông đã không cảnh giác ông người Hoa đó?

 - Làm sao được! Bà ta tin tưởng tôi nên mới tiết lộ cho tôi. Bà ở thế kẹt, bị chồng ngược đãi, bắt ép tuân lời. Tôi hoàn toàn tin là bà ta là vô tội.

 - Ông bị bà đó bỏ bùa rồi, thuyền trưởng lầm bầm, ông có ý nói bọn họ đã đánh cắp các tài liệu của tên ngoại giao Tàu?

 - Ừ, tôi nói vậy để cho ông thấy là bà đó bị chồng ép buộc đi với tên Hoa. Tôi đã nổi ghen và bà ta nói không có chuyện gì xảy ra hết.

 - Tôi hiểu rồi- viên thuyền trưởng kết luận- tụi chúng vừa là lũ ăn trộm vừa là gián điệp.

 - Nhưng bà đó thì không mà, tên Hòa Lan rên rỉ.

 

*

 

 Viên thuyền trưởng liền ra lệnh kêu tên ngoại giao Hoa lên. Tên này đến mặt mũi tỉnh bơ, mỉm cười.

 - Xin lỗi- thuyền trưởng lên tiếng trước- có phải ông đem theo trong ca-bin tài liệu bí mật và quan trọng?

 - Nhưng ...

 - Tôi không hỏi nội dung các tài liệu này. Tôi chỉ hỏi là ông bảo đảm còn không.

 - Tại sao? gã Hoa mặt hơi nao núng nhưng tỉnh ngay.

 - Bởi vì tôi nghi ngờ có người đã ra tay đánh cắp các tài liệu đó.

 - Không thể được.

 - Ông chắc chắn còn chúng chứ?

 - Ai liệu có thể lấy tài liệu của tôi được?

 - Có phải ông đã thân mật với bà Harwing không?

 - À, chỉ là quen thôi!

 - Vậy thì ông chắc chắn còn tài liệu?

 - Tôi tin thế tuy nhiên để tôi kiểm lại. Tôi không đến nỗi dại để ai lừa đâu.

 Tôi và một sĩ quan đi theo tên Hoa về ca-bin hắn. Vào trong, hắn cười cười nói:

 - Quý vị nghĩ rằng tôi cất những tài liệu tối quan trọng ở đâu? Khóa lại trong một ngăn bí mật dấu dưới đáy thứ nhì của rương với ổ khóa bí hiểm? Không đời nào! Lũ gián điệp và trộm đạo quốc tế chuyên tìm mấy nơi đó. Tôi thì không, tôi cứ để nó nằm chình ình đó và chả ai cho rằng tài liệu quan trọng lại để nằm phơi ra. Xem này!

 Nói xong hắn trèo lên ghế, vói tay lấy từ nóc tủ một phong bì nằm dưới một trong hai cái phao cá nhân. Hắn nhìn trên nhìn dưới cái phong bì xong đưa cho tôi xem.

 - Đây, hãy còn nguyên. Dấu ấn kiểm soát của tôi vẫn còn đó, sợi chỉ cột nút mà chỉ có tôi biết cách buộc còn nguyên rồi cái dấu xi bí mật mà tôi có thể kiểm vẫn còn đây. Đây, hãy còn nguyên.

 Hắn cười đắc chí:

 - Tôi đã có thời làm gián điệp; đôi khi mình cũng phải phục vụ quốc gia mình; nó là cái nghiệp mà.

 

*

 Khi chúng tôi trở lại văn phòng thuyền trưởng, ông ta lấy làm vui khi nghe âm mưu đánh cắp tài liệu bị thất bại nhưng lại có chuyện xảy ra. Hai thủy thủ xốc nách lôi vào một người đàn ông người bẩn thỉu mặt mũi đầy nhọ và dầu nhớt, không thể nhận ra là ai.

 - Người này là ai? Chuyện gì xảy ra?

 - Thưa chúng tôi không biết. Có lẽ hắn lên tàu ở cảng Tân Gia Ba để trộm cắp gì đây. Chúng tôi tình cờ bắt gặp hắn trốn trong phòng kho cạnh phòng máy. Hắn trông như chết rồi vì trong đó quá nóng. Hình như nó uống gì kỳ lạ vì hơi thở nó có mùi như mùi thuốc tây.

 Gã lạ mặt buông người xuống ghế. Viên thuyền trưởng đến gần, nhìn gần kỹ mặt hắn và kêu lên thảng thốt kinh ngạc. Ông móc túi lấy khăn mu-xoa ra lau vội cái mặt đầy dầu nhớt lọ nghẹ. Một khuôn mặt thật quen thuộc hiện ra.

 Tên kỹ sư Harwing.

 Mọi người há hốc mồm không ai thốt ra được tiếng nào.

 Nhưng chỉ một chốc thôi. Viên thuyền trưởng tiến lại hạch hỏi trong khi những người khác thì nóng lòng cho một giải thích:

 - Làm sao ông lại ở đây? Mà lại ra người ngợm như vầy? Tại sao trốn tránh?

 - Tôi có muốn trốn nơi đó đâu. Tụi nó quăng tôi xuống dưới đó.

 - À, bọn chúng quăng ông xuống đó! Chứ không phải là ông nằm trốn chờ cơ hội đào tẩu sao? Nói ra ngay, nữ trang dấu ở đâu? Tiền nữa?

 - Tôi không biết hết.

 Gã Hòa Lan không dằn được, hét lên:

 - Chúng còn trên tàu không?

 - Nữ trang và tiền hả? Không!

 - Sao lại không? Ông còn ở đây mà!

 - Bọn chúng khuân đi hết rồi.

 - Ai?

 - Tụi kia. Xin quý vị cho tôi giải thích nhưng tôi thấy yếu trong người lắm. Tụi nó thuốc tôi, trong người nóng lên hừng hực.

 Thuyền trưởng cho đem một ly nước lạnh đến.

 - Cám ơn. Sáng nay tụi chúng quyết định trừ khử tôi sau khi đã dùng tôi.

 - Mà đó là ai?

 Hắn làm như không nghe câu hạch hỏi đó, nói tiếp:

 - Trước tiên, chúng bắt tôi ra tay. Tôi đã giúp tụi nó xong xuôi hết, cất mọi thứ đâu vào đó xong thì bị nó ép uống. Đang khát nên tôi uống nhiều nhưng tụi nó âm mưu với nhau thuốc tôi, uống vào thấy hoa mắt chóng mặt... Tụi nó sợ tôi làm phản hay đòi nhiều tiền ... Thế là chúng quăng tôi xuống đó. Đồ lừa bịp! Rồi tôi không còn biết trời trăng gì hết.

 Thuyền trưởng giận ra mặt, trợn mắt nhìn hắn bảo:

 - Đến lúc này thì thú tội là vừa.

 - Dạ. Ông có lý. Tôi sẽ nói hết. Bọn chúng là kẻ trộm, là gián điệp.

 - Ông còn làm trò hề hả? Ông cứ nói về bọn họ. Vậy ai đã ăn trộm nữ trang và tiền?

 - Cái bà ...

 - Ông thì không?

 - Để tôi giải thích. Tôi giúp họ nhưng bị loại trừ. Tôi không còn có ích gì cho họ, không còn một đồng trong túị Lẽ ra tụi nó trả tiền cho tôi nhưng lại nói là ... xong đến Tân gia Ba thì biến mất, con mẹ đó và thằng khốn đó.

 - Thằng nào?

 - Thằng John, tên hầu bàn cho tụi mình hôm bữa. Nó là đầu sỏ. Hầu bàn? Giả vờ thôi.

 - Vợ mi đâu?

 - Vợ tôi? Con mẹ đó là vợ thằng John. Tôi gặp nó ở Porto Said xong hai đứa tuyển dụng tôi. Tôi phải đóng vai làm chồng nó để đánh lạc hướng mọi người trong khi thằng John "làm việc". Tôi phải giúp tụi chúng bằng cách che dấu.

 Quang cảnh đang căng thẳng như vầy bỗng nhiên vỡ tan bởi một tràng cười sang sảng của tên ngoại giao Hoa. Hắn vỗ ngực:

 - À, cái tên bồi bàn ... À ra thế, nó là thằng chồng .. và nó đã đem giao cho tôi mấy cái thơ hẹn hò của vợ nó ...

 Tên kỹ sư chặn lời tên ngoại giao Hoa nói gay gắt:

 - Ông đừng có cười. Ông nên khóc thì đúng hơn! Tụi nó đánh cắp của ông luôn ... mấy tài liệu bí mật, cuốn giải mã ... Lấy đi mất rồi, lấy hết. À, cười thử xem.

 Tên Hoa ngay lập tức nghiêm mặt, đáp một cách trầm tĩnh và chậm rãi:

 - Không đâu ông bạn ơi, tụi nó nào có lấy được gì của tôi. Tôi đâu có khờ thế.

 - Không à? Ông thử tìm lại xem còn cái phong bì không. Đưa cho tôi xem xem. Đem lại đây. Không được à? Làm sao được! Tôi thách ông.

 - Tôi nhận lời thách thức.

 Nói xong tên ngoại giao Hoa tức tốc đi về phòng, một lát sau trở lại mặt mày hớn hở, phe phẩy trên tay một phong bì trước mặt tên kỹ sư.

 - Đây, thấy chưa? Còn y nguyên.

 Tên này nhìn gã Hoa một cách hỗn xược và đáp lại bằng giọng diễu cợt:

 - Thật không? Vậy thì mở ra coi. Cứ việc mở ra.

 Gã Hoa mặt ra vẻ đầy tự tin.

 - Mấy thằng chủ mày chỉ là tay mơ, chỉ giỏi lừa lọc những ai khờ dại, chứ tao ...

 Cặp mắt ti hí của gã Hoa hiện rõ nét đắc thắng. Hắn điềm tĩnh cởi sợi dây cột phong bì thắt theo kiểu bí mật, nậy cục xi dán ra, bật mở một vài cơ quan bí mật xong mở phong bì ra, mặt mày kiêu căng. Và hét lên một tiếng thất thanh.

 Bên trong phong bì chỉ vỏn vẹn một mớ giấy vụn.

 Từ phong bì rơi ra một mảnh giấy. Gã Hoa cúi xuống nhặt lên thật nhanh một mảnh giấy với vài giòng chữ viết tay mềm mại của đàn bà. Hắn đọc:

 "Đừng cay đắng với em. Chỉ vì tụi em cần tài liệu của anh thôi. Anh có thể tự an ủi là em không mến anh kém gì tên người Hòa Lan, cái tên mà anh ghen ấy. Em biết anh là người rất thích đọc truyện trinh thám: vậy anh hẳn phải thích thú đã sống trong một thực tế bí hiểm. Sách, hay đấy nhưng thực tế còn đẹp hơn, nhỉ?"

 

 

Arnaldo Fraccaroli

Bùi Ngọc Khôi chuyển ngữ



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 7706)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 9989)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 9009)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 7255)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 6911)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 9824)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 9945)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
23 Tháng Tư 20262:45 CH(Xem: 7280)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 9299)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 8187)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3799)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13218)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19614)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18593)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1543)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1715)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2226)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2347)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1409)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2172)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1896)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1946)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1297)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2338)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2540)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2321)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 210)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 763)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 966)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1037)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6376)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15851)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32107)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38823)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1402)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13869)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6866)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10625)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9824)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9945)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10746)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3421)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11091)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10318)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi