- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Đêm Định Mệnh

25 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 59525)


 

hoai_bang_2014-content

 Nhà văn Hoài Băng - Hà Nội 2014

LTS: Với 10 phân đoạn ngắn, Hoài Băng đã đưa câu chuyện từ những âm u ma quái đến kinh sợ như lòng người. Mầm sinh tươi đẹp của thế hệ tương lai bị hủy diệt bởi cái ác của con người đi trước. Gần như là hồn ma báo oán trong xã hội của chúng ta sống hôm nay... Ác và độc, tham và tàn nhẫn.

TCHL


1.

 

 Đó là một đêm mưa lạ lùng.

 Mưa bay.

 Mưa bụi.

 Thị bước thấp bước cao trên con đường nhầy nhụa bùn đất, gương mặt ánh lên sự hoảng loạn, cứ chạy được vài bước chân thị lại chùn lại như có ai thò tay kéo đùa từ phía sau khiến thị ngã rúi rụi. Chưa bao giờ thời tiết khiến con người ta chỉ nghĩ thôi cũng phải rùng mình đến thế. Cơn mưa bay chuyển mình trong tiếng sét chớp giật náo loạn phía trời Tây. Những hạt nước nặng trĩu thả mình lộp độp trên mái tôn như tiếng than khóc oan khuất từ cõi vô cùng. Thị quỳ trước ban thờ cầu khấn lẩm nhẩm. Tiếng sét vẫn giật liên hồi kéo theo những giọt mưa nặng như nước đá trên mái tôn, trên mặt đường nhầy nhụa, cây cối; trắng đục không gian; mơ hồ có cả tiếng người kêu khóc.

 

 

 

 

2.

 

 “À ơi!...”

 Chồng thị đi vắng, có mình thị với đứa con nhỏ ở trong căn nhà ba gian xây cay cũ. Chồng thị bảo ra riêng sẽ sửa sang lại căn nhà cho tươm tất. Thị nhìn lên ban thờ, một ánh mắt là lạ quen quen. Người đàn bà ấy có nụ cười khiến thị nhói tim. Chị ta qua đời đã gần năm năm rồi nhưng sao cứ ám vào cuộc đời vợ kế của thị và chồng chị ta. Thị thấy rờn rợn. Chỉ có mình thị, thị vẫn thường thấy ác mộng khi ở nhà một mình, sống lưng buốt lạnh như có bàn tay ai vuốt nhẹ.

 Có một tiếng cười lạ lắm! như là tiếng khóc.

 Rõ ràng.

 Mà cũng không thật rõ ràng.

 Thị ngồi dậy, vén chăn bật máy lửa khêu ngọn đèn dầu cho sáng. Thị khẽ đẩy nhẹ cánh cửa gỗ mục. Ngoài trời tối đen. Tiếng mèo kêu khan khản trong đêm. Tiếng kêu rõ và gần lắm! như tiếng trẻ con khóc hờn vía độc. Thị thấy khó chịu với những âm thanh ma quái ngoài kia, những tiếng mèo, tiếng dế, tiếng ếch nhái sa sả chút vào đêm. Thị đưa ngọn đèn sát môi rồi thổi một hơi sau đó trở lại giường dỗ dành giấc ngủ khó tính.

 Tiếng cười lại vang lên, không phải là mơ hồ nữa. Nó rõ mồn một như sự tồn tại của chính thị lúc này. Thị bật dậy, tiếng cười tan vào đêm lễnh loãng trong ngôi nhà nhờ nhợ những đốm lửa ma trơi.

 “Hãy đi đi, mày hãy cút đi!”

 Một giọng nói khàn khàn buốt nhức lọt qua từng lớp tế bào ăn sâu vào da thịt.

 “Trả lại tao tất cả, trả lại cho tao”.

 

 

3.

 

 “Anh có nghe thấy tất cả những điều này không?”

 “Em đang muốn nói đến điều gì vậy?”

 “Những tiếng mèo gào khóc ngoài kia! Nó giống hệt như tiếng vong hồn người chết”.

 “Anh có thấy gì đâu! Đừng hù dọa mình nữa”.!

 Thị không thể ngủ. Đứa con trong nôi tự nhiên khóc ré. Thị trở dậy cho nó bú, thằng bé bướng bỉnh giãy dụa trên đôi tay thị. Thị không thể trấn an được nỗi lo lắng trong lòng mình. Thằng bé vẫn tiếp tục những trò quái đản, sau những phút phản kháng việc thị cho nó bú mớm, nó đưa bàn tay bé nhỏ xinh xắn túm chặt vào cổ áo thị và giằng kéo. Rõ ràng, ánh mắt đó không phải là của một đứa trẻ, hành động ghê rợn đó không thể là của một đứa trẻ. Thị nhìn về phía chồng cầu cứu.

 “Em sợ!”

 “Để yên cho anh một lát, con đói đấy!”

 “Nhưng…”

 “Anh không muốn nói nữa, em hãy tự lo liệu đi”

 Chồng thị đã ngủ, tiếng ngáy khò khè trộn trong tiếng gào thét của đứa bé khiến thị bực mình. Bỗng thằng bé dừng khóc toét miệng cười. Nụ cười quen mà lạ. Rõ ràng không phải là nụ cười của con thị, thị đã gặp nụ cười đó ở đâu rồi thì phải. Sao thị không nhớ ra? Chắc tại đã quá lâu rồi! Thị cố nheo mắt nhìn thằng bé, nó đã ngủ từ lúc nào không rõ. Chồng thị cũng nằm im lìm quay mặt vào bức tường vôi lở loét, tất cả đã im lặng từ lúc nào mà thị không hề cảm nhận. Thị cúi gập người đặt thằng bé vào nôi, trong chiếc nôi ấy thị nhìn thấy loáng thoáng một gương mặt đàn bà.

 

 

4.

 

 Cái nắng gay gắt khiến con người không muốn thò mặt ra khỏi nhà trong giờ cao điểm. Một giấc ngủ trưa an lành sẽ an ủi con người ta đôi chút, nhưng ai sẽ ngủ được trong thời tiết khắc nghiệt như thế này? Chỉ có thế là chồng và con thị. Giấc ngủ ngon lành dưới bầu trời ba tám, ba chín độ C. Thị trở dậy, ngoài đường vắng tanh không một bóng người, không một tiếng động cơ xe máy, thậm chí không có cả tiếng động. Cái im lặng làm thị không khỏi nghi ngờ.

 Thị đi ra giếng, một gầu nước mát khiến người thị dịu dần đi, bầu trời cũng bớt oi bức hơn. Tiện miệng thị làm ngụm nước mát. Có mùi lạ lắm! Mùi tanh lợm, nhờ nhợ, hoi nồng… một thứ mùi hỗn tạp pha trộn. Thị bỗng nhớ đến đêm định mệnh năm năm trước mà choáng váng đầu óc. Đó là mùi máu. Mùi xác chết phân hủy. Không thể nào! Chị ta đã chết, đã mất tích. Thị loạng qoạng bám vào thành giếng, gương mặt đẹp như tranh hất lên ánh nhìn thù hằn, kết tội. Thị không tin vào mắt mình. Thị vục mặt vào gầu nước trên thành giếng. Thị không thấy gương mặt dưới đáy giếng nhìn thị nữa. Có thể chỉ là ảo giác. Thị tự trấn an mình.

 Chồng thị đã dậy. Tiếng con thị quấy khóc om sòm. Thị như người chợt tỉnh giấc sau một cơn mê dài. Chiều xế bóng tự lúc nào. Mặt trời không còn gay gắt đã lui về phía trời tây nhường chỗ cho mảnh trăng khuyết mấp mé đằng xa. Thị ghét mảnh trăng vô duyên cớ xuất hiện trên bầu trời, cái ánh sáng mờ mờ ảo ảo như cõi hư thực. Thị gợi chuyện mua vàng mã cúng tế người đàn bà xấu số với chồng.

 “Mình à! Dạo này em thấy bất ổn lắm! chắc tại vợ trước của mình về quở trách. Em tính rồi, mai mốt mình cứ sắm một cái lễ thật tươm cúng cấp cho cô ấy”.

 “Em cứ vẽ chuyện, cô ấy ngày còn sống có đòi hỏi cái gì bao giờ. Chẳng lẽ người chết lại đổi tính?”

“Em nói thật mình không tin, em hay gặp cô ấy lắm! Em không chắc,

nhưng gương mặt ấy thì không lẫn đi đâu được”. 

 Chồng thị thở dài phó mặc cho thị làm theo ý muốn. Hắn nghĩ, thị đàn bà lắm chuyện. Ngay ngày hôm sau, thị mua sắm quần áo, mũ mão, tiền vàng, ô tô, xe máy… chất đầy nửa căn nhà. Thị đón hẳn một thầy trừ tà vào bậc nhất để chuẩn bị cho lễ cúng cấp nhưng thật ra là lễ trừ yêu ma.

 

 

5.

 

 Thị bị ảm ảnh bởi cõi âm nhiều hơn, sao người đàn bà xấu số đó lại cứ tìm đến thị.

“Trả lại cho tao”.

“Cút đi”.

 “Tao đau, có ngàn mũi kim đâm vào tim tao. Tên thầy cúng đó và cả mày nữa sẽ phải trả giá”.

 Thị tím tái mặt mày, quay cuồng trong nỗi sợ hãi. Người đàn bà đó không tha cho thị và sẽ còn mãi bám xiết thị cho đến chết. Thị đã cướp chồng chị ta. Không! Thị đã làm gì? Sao cứ bám xiết lấy thị? Chị ta đã chết. Người chết nên an phận. Thị nghĩ sẽ phải tìm một thầy trừ tà cao tay hơn nữa. Những người chết trẻ và chết oan thường rất lưu luyến nhân thế, họ tìm mọi cách để được trở về. Cái chết của chị ta cũng lạ lùng bí hiểm. Thị nghe nói khi tiếng kêu cứu thất thanh vang lên bên miệng giếng, người ta lục đục trở dậy hòng cứu vãn một điều gì đó. Chồng chị ta cũng trở dậy. Anh ta là người đầu tiên cúi người nhìn xuống cái vũng đen sâu hút trong lòng giếng và nghe tiếng đập nước kêu cứu vô vọng của chị ta. Khi người ta thòng dây xuống thì chị ta đã chìm nghỉm dưới đáy giếng. Sớm hôm sau, người ta bàn cách vớt xác chết lên. Nhưng lạ thay, sau nửa ngày lặn ngụp tìm kiếm, người ta không tìm thấy cái xác nào cả. Giải pháp cuối cùng là hút sạch nước giếng để tìm xác. Khi nước giếng được tuồn ra ngoài bằng máy bơm và ống hút, trong giếng chỉ là những mớ tóc dài rơi rụng, không có xác người đàn bà, người ta kinh hoàng nhìn nhau ái ngại. Họ cho đó là điềm gở. Lễ cúng tế mớ tóc rối diễn ra suốt ba ngày ba đêm. Không có chuyện gì to tát xảy ra trong thời gian ấy, hay nói cách khác nó chỉ xảy ra với thị. Nó ám vào cuộc đời thị và thực sự trở nên gay gắt khi thị về làm vợ kế của chồng chị ta. Thị không hề thương sót cho cái chết đáng thương của người đàn bà xấu số bởi thị nửa thèm muốn nửa ganh tị với vị trí của chị ta. Chồng thị là người thị thương thầm nhớ trộm từ bao lâu, nhưng chỉ trong nháy mắt người đàn bà cướp đi người đàn ông của thị một cách trắng trợn. Cái chết của chị ta với thị là một điều đáng để ăn mừng. Thị đạt được mục đích của mình không mấy khó khăn. Rồi thị nhận ra, chồng thị là một kẻ vô tâm, vô tâm đến đáng kinh ngạc. Ngay cả trước cái chết của vợ cũ anh ta cũng dửng dưng đến lạ, thị đã từng có ý nghĩ ân hận.

 

 

6.

 

“Mình có thể vì em mà lấp cái giếng quỷ ám đó đi được không?”

“Chẳng có gì là quỷ ám cả, trong lòng giếng người ta không tìm thấy cái xác nào cả. Cô ấy đã mất tích, đơn giản chỉ vậy thôi”!

“Nhưng dù sao thì cũng phải lấp nó đi. Em không muốn bị ám”.

Không cần sự đồng ý của chồng, thị tự ý thuê người đổ một khối bê tông lớn rồi chất ngang miệng giếng. Cuối năm điện sẽ về với cái xóm nhỏ trong lòng thung này, chỉ cần có ánh sáng thị sẽ không còn sợ hãi điều gì nữa. Ít bữa nữa có tiền thị thuê người đào cái giếng mới ở góc vườn, còn tạm thời nước sinh hoạt thị sẽ lấy từ nhà những người hàng xóm keo kiệt và cáu bẳn.

Từ ngày lấp chặt miệng cái giếng oan nghiệt ấy, thị thấy lòng thanh thản hơn. Đứa trẻ cũng ngoan hơn. Thị chỉ thấy khó chịu duy nhất một điều là những lời cằn nhằn của bà hàng xóm khó tính. Chồng thị cũng đã định chỗ để đào một cái giếng mới ở góc vườn. Thị rất ưng chỗ ấy. Nó cách xa chỗ đặt cái giếng cũ, như thế có thể sẽ an toàn với thị và cả con thị nữa. Thị sợ thằng bé bị ám. Lúc người đàn bà biến mất chị ta cũng đang mang bầu, có lẽ cũng gần đến tháng sinh. Trong suốt thời gian mang thai thị phải qua nhà mẹ đẻ để mong chờ sự yên ổn. Thị đã sinh ra thằng bé bụ bẫm này. Nhưng thằng bé luôn tỏ ra bất thường từ khi thị đem nó trở lại nhà mình. Nó cũng như thị cứ ốm o, người xanh nhợt và quấy khóc.

Thế là nhà thị cũng đã có một cái giếng mới ngay góc vườn, thành giếng được xây lên bằng sự tận dụng những viên gạch vỡ. Nó chỉ cao ngang đầu gối thị. Nước giếng trong văn vắt và ngọt. Từ ngày có giếng nước mới người trong nhà thuyên giảm bệnh tật và ốm đau, thấy tinh thần thỏa mái hơn. Sau những trận ốm triền miên thị đã có thể ra ruộng cùng công việc cấy hái, lên rừng kiếm củi, trồng sắn, trồng ngô cùng với chồng.

 

 

7.

 

Một buổi chiều, thằng bé con lăng quăng ra vườn chơi và không may rơi xuống giếng nước.

 

 

8.

 

Thị ngất đi tỉnh lại trong tiếng kêu khóc. Người ta nói đất nhà thị bị động. Xác thằng bé tím ngắt và trương phình khi được vớt lên. Những ánh mắt xúm xít vây quanh tò mò và thương cảm. Chồng thị không khóc nhưng mặt chảy dài méo xệch. Nhìn anh ta thật đáng thương, cả cái cuộc đời của thị nữa, thật đáng thương.

Họ hàng làng mạc khuyên vợ chồng thị lấp cái giếng mới đi cho linh hồn thằng bé không bị quấy quả. Mà không biết chừng khi đào lại động đến long mạch cũng nên. Có thể lắm chứ!

Hai vợ chồng thị mất trọn buổi sáng để vần tấm bê tông từ miệng giếng này qua miệng giếng kia. Giếng mới bị lấp đi và giếng cũ lại được mở ra. Những đêm ma quái lại tiếp tục hù dọa thị. Thị cũng chai lì hơn, có lẽ nỗi đau mất con khiến thị không còn biết sợ hãi điều gì nữa. Nhiều lúc nghĩ đến cái chết của thằng bé chính thị cũng muốn được chết theo.

Thị mang thai đứa con thứ hai, đứa bé hiếu động ngay từ trong bụng mẹ. Những cú đạp bất thường luôn khiến thị cảm thấy khổ sở với kiếp phận đàn bà. Nhưng cứ nghĩ đến ngày có niềm vui mới lấn áp nỗi buồn là thị lại có đủ sức để sống cùng những cơn đau.

Chồng thị nói chờ sau khi đứa bé ra đời anh ta sẽ dựng nhà ở chỗ đất khác, đất này dữ quá! Thị chỉ mong cho điều đó mau chóng xảy ra. Thị chán ngấy mảnh đất ma quái này. Sớm muộn gì thị cũng sẽ chết vì những điều vớ vẩn nhất nếu không rời đi.

Thị đến tháng sinh…

 

 

9.

 

Thị trở dạ.

Bầu trời vần vũ những đám mây đen khổng lồ trầu trực chút xuống cơn thịnh lộ. Đêm đen đặc. Tiếng sấm sét gầm gừ báo hiệu những cuộc giao tranh không khoan nhượng.

“A…A…A…”!

Những cơn đau bắt đầu thốc lên từ dưới, chạy dọc sống lưng nhoi nhói ăn đến từng chân tóc. Cơn gió thổi ù ù phía ngoài kéo theo những giọt nước nặng trĩu. Bà đỡ đưa mấy ngón tay vào trong rồi quát lớn: “rặn đi”. “Có muốn chết không hả? rặn mạnh lên xem nào”. “Rặn”.

Người thị đầm những giọt mồ hôi to tướng. Thị gần như đã kiệt sức sau những lần rặn đẻ không thành. Tiếng bà đỡ lại sang sảng cất lên: “con mẹ này rặn đi”. Thị nghĩ sẽ dùng nốt chút sức lực còn sót lại cho lần rặn này, sẽ là vô vọng nếu thị lại thất bại và đứa bé nhất quyết không chịu chui ra.

“Oe oe…”

“A...!!!”

Kèm theo tiếng khóc chào đời của đứa trẻ là tiếng kêu thất thanh của bà đỡ. Chồng thị từ đâu chạy xộc vào rồi lại loạng choạng lao ra khỏi cửa. Thị cố nhoài người về một bên để ngó xuống đứa trẻ. Thị không kịp kêu lên lời nào đã ngất lịm đi trong nỗi ám ảnh về một gương mặt không tròn trịa, nói đúng hơn, đứa bé chỉ là một khối thịt dài đỏ hỏn không có mắt, không có mũi, không có chi hết ngoài một lỗ mồm bé xíu. Cái lỗ mồm đó toét cười với thị, nụ cười lạ mà quen.

 

 

10.

 

“Cô nên chết đi”.

 “Tôi không muốn chị hẹn tôi ra đây giữa đêm khuya chỉ để nói những điều vô nghĩa”.

 “Không! cô nên chết, vì anh phải thuộc về tôi”.

 “Chị điên rồi! chúng tôi đã cưới nhau. Và, cũng sắp có đứa con nữa”.

 “Vị trí đó phải thuộc về tôi cô hiểu không? Anh ta đã hứa hẹn với tôi mà lại cưới cô”.

 “Sẽ chẳng thay đổi được gì cả, trừ khi tôi chết”.

 “Đúng vậy! cũng bởi thế mà mày nên chết”.

 Khi tiếng kêu thất thanh trong miệng giếng vang lên, thị chỉ kịp cúi xuống lẩm bẩm được vài câu vô nghĩa “tất cả là tại mày tự chuốc lấy, đừng oán tao”. Cơn giông ập xuống.

 Thị bước thấp bước cao trên con đường nhầy nhụa bùn đất, gương mặt ánh lên sự hoảng loạn, cứ chạy được vài bước chân thị lại chùn lại như có ai thò tay kéo đùa từ phía sau khiến thị ngã rúi rụi. Chưa bao giờ thời tiết khiến con người ta chỉ nghĩ thôi cũng phải rùng mình đến thế. Cơn mưa bay chuyển mình trong tiếng sét chớp giật náo loạn phía trời Tây. Những hạt nước nặng trĩu thả mình lộp độp trên mái tôn như tiếng than khóc oan khuất từ cõi vô cùng. Thị quỳ trước ban thờ cầu khấn lẩm nhẩm. Tiếng sét vẫn giật liên hồi kéo theo những giọt mưa nặng như nước đá trên mái tôn, trên mặt đường nhầy nhụa, cây cối; trắng đục không gian; mơ hồ có cả tiếng người kêu khóc.`Có cả tiếng kèn trống đám ma, thị nghe phong thanh có ai đó báo tin rằng: “Đêm qua, ông thầy trừ yêu đã qua đời”.

 

 Hoài Băng

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
25 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 64672)
t a đã đi ngang qua nhiều biển vẫy vùng suýt chết thằng đàn ông nhìn em ánh mắt màu mật ngọt giấu sau bản tình ca chiếc mặt nạ sau khi vẽ lên bầu trời vòng tròn của khói
25 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 63165)
R ồi cũng đến lúc không còn để nói câu tiên tri nở trắng cánh phù dung rồi cũng đến lúc không còn để đợi khúc tình xa rớt lại giữa lưng chừng
22 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 62436)
B ạn tôi dậy cho tôi viết ca khúc Sau 3 tuần bắt tôi viết 8 tiểu đoạn Tôi ghi note cho từng tiểu đoạn Tất cả đều không có gì sai Bạn dạo những note kia bằng dương cầm Tôi nghe những âm thanh là lạ Bạn nói với tôi  Cái này không phải nhạc Hiền ơi…
21 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 51374)
MKDSNM được phát hành vào một thời điểm rất ý nghĩa, ngay sau Hội nghị Thượng Đỉnh Mekong II / MRC Summit II vừa diễn ra tại Thành Phố Sài Gòn ngày 5 tháng 4, 2014. Hội nghị này đã được giới quan sát quốc tế và các nhà hoạt động môi sinh đánh giá như một thất bại về phía Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ sự phát triển bền vững hệ sinh thái Sông Mekong, và ĐBSCL, cũng là mạch sống của ngót 70 triệu cư dân sống trong lưu vực.
21 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 66642)
K hi về đã lạnh vườn xưa Chỉ nghe giá rét sang mùa mà thôi Giờ em heo hút phương trời Biết chăng đây có một người nhớ thương
19 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 59031)
Q ua một loạt truyện gởi đến độc giả Hợp Lưu gần như liêu trai và siêu thực, Uyên Lê tâm sự: “ Em chỉ thích viết về quê hương này, về Việt nam, có những điều đẹp như hoang đường ... Chỉ có yêu thật lòng người ta mới thấy cái đẹp của người mình yêu. Em viết về Phan Thiết và nước mắm rất nhiều, em cho đó là cái đẹp và tình! Em cũng viết nhiều về Huế… em không biết HL có thích chất tự tình quê hương đó của em không…” Chúng tôi xin gởi đến quí bạn đọc một bài viết về Phan Thiết của tác giả Uyên Lê.
18 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 91118)
R ồi đến cuộc sụp đổ của miền Nam mùa Xuân 1975 và nhiệm kỳ Tổng thống vừa tròn 40 tiếng đồng hồ của Tướng Minh. Lệnh buông súng đầu hàng của Tướng Minh sáng ngày 30/4/1975 khiến nhiều người, vốn chẳng biết nhiều về những diễn biến tại hậu trường sân khấu chính trị, trút mọi trách nhiệm việc “ mất nước ” (sic) lên đầu ông “ hàng Tướng ” này. [Những lời thở than, khóc lóc “ mất nước ” cũng chẳng khác gì việc đồng hoá một chế độ chính trị với “ Tổ Quốc ” trên trình độ hiểu biết chữ Việt!]
18 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 66415)
C hỉ còn một góc phố Và một ngã tư chơ vơ không người chờ đợi Em đi qua hôm nào anh đâu biết Một nửa tình buồn lạc nhịp ngoài đêm
18 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 54053)
Đ ồng hồ cũng dừng lại đối với những người phải bỏ nước ra đi, sau khi ông Trần Mai Hạnh và bạn bè của ông vào Sài Gòn. Họ ra đi từng đợt: đợt di tản, đợt thuyền nhân, đợt đoàn tụ gia đình, đợt H.Ọ Mỗi đợt ra đi mang theo một loại quê hương, và trong hoài niệm, không ai muốn thay đổi hình ảnh thân yêu ấy. Bạn bè, nhà cửa, phố xá, tên đường tên đất, cả đến ngôn ngữ trao đổi thường ngày...giống như một cuốn phim đột ngột bị đứt, ngưng lại, thành tĩnh vật.
18 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 62757)
T hế kỷ chúng tôi trót buồn trong mắt Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư. {Bây giờ} Qua hai câu thơ đó Nguyên Sa đã diễn tả tâm trạng của thế hệ ông, thế hệ của những người trai trẻ ở miền Nam thời 1954-75, đã nuôi nhiều kỳ vọng cho tương lai đất nước, nhưng chẳng bao lâu đầy tuyệt vọng trong một quê hương khói lửa.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10396)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17209)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16251)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16729)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 549)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1420)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1438)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2175)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 129)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 459)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1373)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1230)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 570)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1405)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1286)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1288)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 190)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3019)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2876)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3332)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2095)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13912)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30042)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36096)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11543)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13036)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2803)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3978)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3961)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4475)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5008)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8273)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7656)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10604)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.