- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,584,970

Đêm Định Mệnh

25 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 21266)


 

hoai_bang_2014-content

 Nhà văn Hoài Băng - Hà Nội 2014

LTS: Với 10 phân đoạn ngắn, Hoài Băng đã đưa câu chuyện từ những âm u ma quái đến kinh sợ như lòng người. Mầm sinh tươi đẹp của thế hệ tương lai bị hủy diệt bởi cái ác của con người đi trước. Gần như là hồn ma báo oán trong xã hội của chúng ta sống hôm nay... Ác và độc, tham và tàn nhẫn.

TCHL


1.

 

 Đó là một đêm mưa lạ lùng.

 Mưa bay.

 Mưa bụi.

 Thị bước thấp bước cao trên con đường nhầy nhụa bùn đất, gương mặt ánh lên sự hoảng loạn, cứ chạy được vài bước chân thị lại chùn lại như có ai thò tay kéo đùa từ phía sau khiến thị ngã rúi rụi. Chưa bao giờ thời tiết khiến con người ta chỉ nghĩ thôi cũng phải rùng mình đến thế. Cơn mưa bay chuyển mình trong tiếng sét chớp giật náo loạn phía trời Tây. Những hạt nước nặng trĩu thả mình lộp độp trên mái tôn như tiếng than khóc oan khuất từ cõi vô cùng. Thị quỳ trước ban thờ cầu khấn lẩm nhẩm. Tiếng sét vẫn giật liên hồi kéo theo những giọt mưa nặng như nước đá trên mái tôn, trên mặt đường nhầy nhụa, cây cối; trắng đục không gian; mơ hồ có cả tiếng người kêu khóc.

 

 

 

 

2.

 

 “À ơi!...”

 Chồng thị đi vắng, có mình thị với đứa con nhỏ ở trong căn nhà ba gian xây cay cũ. Chồng thị bảo ra riêng sẽ sửa sang lại căn nhà cho tươm tất. Thị nhìn lên ban thờ, một ánh mắt là lạ quen quen. Người đàn bà ấy có nụ cười khiến thị nhói tim. Chị ta qua đời đã gần năm năm rồi nhưng sao cứ ám vào cuộc đời vợ kế của thị và chồng chị ta. Thị thấy rờn rợn. Chỉ có mình thị, thị vẫn thường thấy ác mộng khi ở nhà một mình, sống lưng buốt lạnh như có bàn tay ai vuốt nhẹ.

 Có một tiếng cười lạ lắm! như là tiếng khóc.

 Rõ ràng.

 Mà cũng không thật rõ ràng.

 Thị ngồi dậy, vén chăn bật máy lửa khêu ngọn đèn dầu cho sáng. Thị khẽ đẩy nhẹ cánh cửa gỗ mục. Ngoài trời tối đen. Tiếng mèo kêu khan khản trong đêm. Tiếng kêu rõ và gần lắm! như tiếng trẻ con khóc hờn vía độc. Thị thấy khó chịu với những âm thanh ma quái ngoài kia, những tiếng mèo, tiếng dế, tiếng ếch nhái sa sả chút vào đêm. Thị đưa ngọn đèn sát môi rồi thổi một hơi sau đó trở lại giường dỗ dành giấc ngủ khó tính.

 Tiếng cười lại vang lên, không phải là mơ hồ nữa. Nó rõ mồn một như sự tồn tại của chính thị lúc này. Thị bật dậy, tiếng cười tan vào đêm lễnh loãng trong ngôi nhà nhờ nhợ những đốm lửa ma trơi.

 “Hãy đi đi, mày hãy cút đi!”

 Một giọng nói khàn khàn buốt nhức lọt qua từng lớp tế bào ăn sâu vào da thịt.

 “Trả lại tao tất cả, trả lại cho tao”.

 

 

3.

 

 “Anh có nghe thấy tất cả những điều này không?”

 “Em đang muốn nói đến điều gì vậy?”

 “Những tiếng mèo gào khóc ngoài kia! Nó giống hệt như tiếng vong hồn người chết”.

 “Anh có thấy gì đâu! Đừng hù dọa mình nữa”.!

 Thị không thể ngủ. Đứa con trong nôi tự nhiên khóc ré. Thị trở dậy cho nó bú, thằng bé bướng bỉnh giãy dụa trên đôi tay thị. Thị không thể trấn an được nỗi lo lắng trong lòng mình. Thằng bé vẫn tiếp tục những trò quái đản, sau những phút phản kháng việc thị cho nó bú mớm, nó đưa bàn tay bé nhỏ xinh xắn túm chặt vào cổ áo thị và giằng kéo. Rõ ràng, ánh mắt đó không phải là của một đứa trẻ, hành động ghê rợn đó không thể là của một đứa trẻ. Thị nhìn về phía chồng cầu cứu.

 “Em sợ!”

 “Để yên cho anh một lát, con đói đấy!”

 “Nhưng…”

 “Anh không muốn nói nữa, em hãy tự lo liệu đi”

 Chồng thị đã ngủ, tiếng ngáy khò khè trộn trong tiếng gào thét của đứa bé khiến thị bực mình. Bỗng thằng bé dừng khóc toét miệng cười. Nụ cười quen mà lạ. Rõ ràng không phải là nụ cười của con thị, thị đã gặp nụ cười đó ở đâu rồi thì phải. Sao thị không nhớ ra? Chắc tại đã quá lâu rồi! Thị cố nheo mắt nhìn thằng bé, nó đã ngủ từ lúc nào không rõ. Chồng thị cũng nằm im lìm quay mặt vào bức tường vôi lở loét, tất cả đã im lặng từ lúc nào mà thị không hề cảm nhận. Thị cúi gập người đặt thằng bé vào nôi, trong chiếc nôi ấy thị nhìn thấy loáng thoáng một gương mặt đàn bà.

 

 

4.

 

 Cái nắng gay gắt khiến con người không muốn thò mặt ra khỏi nhà trong giờ cao điểm. Một giấc ngủ trưa an lành sẽ an ủi con người ta đôi chút, nhưng ai sẽ ngủ được trong thời tiết khắc nghiệt như thế này? Chỉ có thế là chồng và con thị. Giấc ngủ ngon lành dưới bầu trời ba tám, ba chín độ C. Thị trở dậy, ngoài đường vắng tanh không một bóng người, không một tiếng động cơ xe máy, thậm chí không có cả tiếng động. Cái im lặng làm thị không khỏi nghi ngờ.

 Thị đi ra giếng, một gầu nước mát khiến người thị dịu dần đi, bầu trời cũng bớt oi bức hơn. Tiện miệng thị làm ngụm nước mát. Có mùi lạ lắm! Mùi tanh lợm, nhờ nhợ, hoi nồng… một thứ mùi hỗn tạp pha trộn. Thị bỗng nhớ đến đêm định mệnh năm năm trước mà choáng váng đầu óc. Đó là mùi máu. Mùi xác chết phân hủy. Không thể nào! Chị ta đã chết, đã mất tích. Thị loạng qoạng bám vào thành giếng, gương mặt đẹp như tranh hất lên ánh nhìn thù hằn, kết tội. Thị không tin vào mắt mình. Thị vục mặt vào gầu nước trên thành giếng. Thị không thấy gương mặt dưới đáy giếng nhìn thị nữa. Có thể chỉ là ảo giác. Thị tự trấn an mình.

 Chồng thị đã dậy. Tiếng con thị quấy khóc om sòm. Thị như người chợt tỉnh giấc sau một cơn mê dài. Chiều xế bóng tự lúc nào. Mặt trời không còn gay gắt đã lui về phía trời tây nhường chỗ cho mảnh trăng khuyết mấp mé đằng xa. Thị ghét mảnh trăng vô duyên cớ xuất hiện trên bầu trời, cái ánh sáng mờ mờ ảo ảo như cõi hư thực. Thị gợi chuyện mua vàng mã cúng tế người đàn bà xấu số với chồng.

 “Mình à! Dạo này em thấy bất ổn lắm! chắc tại vợ trước của mình về quở trách. Em tính rồi, mai mốt mình cứ sắm một cái lễ thật tươm cúng cấp cho cô ấy”.

 “Em cứ vẽ chuyện, cô ấy ngày còn sống có đòi hỏi cái gì bao giờ. Chẳng lẽ người chết lại đổi tính?”

“Em nói thật mình không tin, em hay gặp cô ấy lắm! Em không chắc,

nhưng gương mặt ấy thì không lẫn đi đâu được”. 

 Chồng thị thở dài phó mặc cho thị làm theo ý muốn. Hắn nghĩ, thị đàn bà lắm chuyện. Ngay ngày hôm sau, thị mua sắm quần áo, mũ mão, tiền vàng, ô tô, xe máy… chất đầy nửa căn nhà. Thị đón hẳn một thầy trừ tà vào bậc nhất để chuẩn bị cho lễ cúng cấp nhưng thật ra là lễ trừ yêu ma.

 

 

5.

 

 Thị bị ảm ảnh bởi cõi âm nhiều hơn, sao người đàn bà xấu số đó lại cứ tìm đến thị.

“Trả lại cho tao”.

“Cút đi”.

 “Tao đau, có ngàn mũi kim đâm vào tim tao. Tên thầy cúng đó và cả mày nữa sẽ phải trả giá”.

 Thị tím tái mặt mày, quay cuồng trong nỗi sợ hãi. Người đàn bà đó không tha cho thị và sẽ còn mãi bám xiết thị cho đến chết. Thị đã cướp chồng chị ta. Không! Thị đã làm gì? Sao cứ bám xiết lấy thị? Chị ta đã chết. Người chết nên an phận. Thị nghĩ sẽ phải tìm một thầy trừ tà cao tay hơn nữa. Những người chết trẻ và chết oan thường rất lưu luyến nhân thế, họ tìm mọi cách để được trở về. Cái chết của chị ta cũng lạ lùng bí hiểm. Thị nghe nói khi tiếng kêu cứu thất thanh vang lên bên miệng giếng, người ta lục đục trở dậy hòng cứu vãn một điều gì đó. Chồng chị ta cũng trở dậy. Anh ta là người đầu tiên cúi người nhìn xuống cái vũng đen sâu hút trong lòng giếng và nghe tiếng đập nước kêu cứu vô vọng của chị ta. Khi người ta thòng dây xuống thì chị ta đã chìm nghỉm dưới đáy giếng. Sớm hôm sau, người ta bàn cách vớt xác chết lên. Nhưng lạ thay, sau nửa ngày lặn ngụp tìm kiếm, người ta không tìm thấy cái xác nào cả. Giải pháp cuối cùng là hút sạch nước giếng để tìm xác. Khi nước giếng được tuồn ra ngoài bằng máy bơm và ống hút, trong giếng chỉ là những mớ tóc dài rơi rụng, không có xác người đàn bà, người ta kinh hoàng nhìn nhau ái ngại. Họ cho đó là điềm gở. Lễ cúng tế mớ tóc rối diễn ra suốt ba ngày ba đêm. Không có chuyện gì to tát xảy ra trong thời gian ấy, hay nói cách khác nó chỉ xảy ra với thị. Nó ám vào cuộc đời thị và thực sự trở nên gay gắt khi thị về làm vợ kế của chồng chị ta. Thị không hề thương sót cho cái chết đáng thương của người đàn bà xấu số bởi thị nửa thèm muốn nửa ganh tị với vị trí của chị ta. Chồng thị là người thị thương thầm nhớ trộm từ bao lâu, nhưng chỉ trong nháy mắt người đàn bà cướp đi người đàn ông của thị một cách trắng trợn. Cái chết của chị ta với thị là một điều đáng để ăn mừng. Thị đạt được mục đích của mình không mấy khó khăn. Rồi thị nhận ra, chồng thị là một kẻ vô tâm, vô tâm đến đáng kinh ngạc. Ngay cả trước cái chết của vợ cũ anh ta cũng dửng dưng đến lạ, thị đã từng có ý nghĩ ân hận.

 

 

6.

 

“Mình có thể vì em mà lấp cái giếng quỷ ám đó đi được không?”

“Chẳng có gì là quỷ ám cả, trong lòng giếng người ta không tìm thấy cái xác nào cả. Cô ấy đã mất tích, đơn giản chỉ vậy thôi”!

“Nhưng dù sao thì cũng phải lấp nó đi. Em không muốn bị ám”.

Không cần sự đồng ý của chồng, thị tự ý thuê người đổ một khối bê tông lớn rồi chất ngang miệng giếng. Cuối năm điện sẽ về với cái xóm nhỏ trong lòng thung này, chỉ cần có ánh sáng thị sẽ không còn sợ hãi điều gì nữa. Ít bữa nữa có tiền thị thuê người đào cái giếng mới ở góc vườn, còn tạm thời nước sinh hoạt thị sẽ lấy từ nhà những người hàng xóm keo kiệt và cáu bẳn.

Từ ngày lấp chặt miệng cái giếng oan nghiệt ấy, thị thấy lòng thanh thản hơn. Đứa trẻ cũng ngoan hơn. Thị chỉ thấy khó chịu duy nhất một điều là những lời cằn nhằn của bà hàng xóm khó tính. Chồng thị cũng đã định chỗ để đào một cái giếng mới ở góc vườn. Thị rất ưng chỗ ấy. Nó cách xa chỗ đặt cái giếng cũ, như thế có thể sẽ an toàn với thị và cả con thị nữa. Thị sợ thằng bé bị ám. Lúc người đàn bà biến mất chị ta cũng đang mang bầu, có lẽ cũng gần đến tháng sinh. Trong suốt thời gian mang thai thị phải qua nhà mẹ đẻ để mong chờ sự yên ổn. Thị đã sinh ra thằng bé bụ bẫm này. Nhưng thằng bé luôn tỏ ra bất thường từ khi thị đem nó trở lại nhà mình. Nó cũng như thị cứ ốm o, người xanh nhợt và quấy khóc.

Thế là nhà thị cũng đã có một cái giếng mới ngay góc vườn, thành giếng được xây lên bằng sự tận dụng những viên gạch vỡ. Nó chỉ cao ngang đầu gối thị. Nước giếng trong văn vắt và ngọt. Từ ngày có giếng nước mới người trong nhà thuyên giảm bệnh tật và ốm đau, thấy tinh thần thỏa mái hơn. Sau những trận ốm triền miên thị đã có thể ra ruộng cùng công việc cấy hái, lên rừng kiếm củi, trồng sắn, trồng ngô cùng với chồng.

 

 

7.

 

Một buổi chiều, thằng bé con lăng quăng ra vườn chơi và không may rơi xuống giếng nước.

 

 

8.

 

Thị ngất đi tỉnh lại trong tiếng kêu khóc. Người ta nói đất nhà thị bị động. Xác thằng bé tím ngắt và trương phình khi được vớt lên. Những ánh mắt xúm xít vây quanh tò mò và thương cảm. Chồng thị không khóc nhưng mặt chảy dài méo xệch. Nhìn anh ta thật đáng thương, cả cái cuộc đời của thị nữa, thật đáng thương.

Họ hàng làng mạc khuyên vợ chồng thị lấp cái giếng mới đi cho linh hồn thằng bé không bị quấy quả. Mà không biết chừng khi đào lại động đến long mạch cũng nên. Có thể lắm chứ!

Hai vợ chồng thị mất trọn buổi sáng để vần tấm bê tông từ miệng giếng này qua miệng giếng kia. Giếng mới bị lấp đi và giếng cũ lại được mở ra. Những đêm ma quái lại tiếp tục hù dọa thị. Thị cũng chai lì hơn, có lẽ nỗi đau mất con khiến thị không còn biết sợ hãi điều gì nữa. Nhiều lúc nghĩ đến cái chết của thằng bé chính thị cũng muốn được chết theo.

Thị mang thai đứa con thứ hai, đứa bé hiếu động ngay từ trong bụng mẹ. Những cú đạp bất thường luôn khiến thị cảm thấy khổ sở với kiếp phận đàn bà. Nhưng cứ nghĩ đến ngày có niềm vui mới lấn áp nỗi buồn là thị lại có đủ sức để sống cùng những cơn đau.

Chồng thị nói chờ sau khi đứa bé ra đời anh ta sẽ dựng nhà ở chỗ đất khác, đất này dữ quá! Thị chỉ mong cho điều đó mau chóng xảy ra. Thị chán ngấy mảnh đất ma quái này. Sớm muộn gì thị cũng sẽ chết vì những điều vớ vẩn nhất nếu không rời đi.

Thị đến tháng sinh…

 

 

9.

 

Thị trở dạ.

Bầu trời vần vũ những đám mây đen khổng lồ trầu trực chút xuống cơn thịnh lộ. Đêm đen đặc. Tiếng sấm sét gầm gừ báo hiệu những cuộc giao tranh không khoan nhượng.

“A…A…A…”!

Những cơn đau bắt đầu thốc lên từ dưới, chạy dọc sống lưng nhoi nhói ăn đến từng chân tóc. Cơn gió thổi ù ù phía ngoài kéo theo những giọt nước nặng trĩu. Bà đỡ đưa mấy ngón tay vào trong rồi quát lớn: “rặn đi”. “Có muốn chết không hả? rặn mạnh lên xem nào”. “Rặn”.

Người thị đầm những giọt mồ hôi to tướng. Thị gần như đã kiệt sức sau những lần rặn đẻ không thành. Tiếng bà đỡ lại sang sảng cất lên: “con mẹ này rặn đi”. Thị nghĩ sẽ dùng nốt chút sức lực còn sót lại cho lần rặn này, sẽ là vô vọng nếu thị lại thất bại và đứa bé nhất quyết không chịu chui ra.

“Oe oe…”

“A...!!!”

Kèm theo tiếng khóc chào đời của đứa trẻ là tiếng kêu thất thanh của bà đỡ. Chồng thị từ đâu chạy xộc vào rồi lại loạng choạng lao ra khỏi cửa. Thị cố nhoài người về một bên để ngó xuống đứa trẻ. Thị không kịp kêu lên lời nào đã ngất lịm đi trong nỗi ám ảnh về một gương mặt không tròn trịa, nói đúng hơn, đứa bé chỉ là một khối thịt dài đỏ hỏn không có mắt, không có mũi, không có chi hết ngoài một lỗ mồm bé xíu. Cái lỗ mồm đó toét cười với thị, nụ cười lạ mà quen.

 

 

10.

 

“Cô nên chết đi”.

 “Tôi không muốn chị hẹn tôi ra đây giữa đêm khuya chỉ để nói những điều vô nghĩa”.

 “Không! cô nên chết, vì anh phải thuộc về tôi”.

 “Chị điên rồi! chúng tôi đã cưới nhau. Và, cũng sắp có đứa con nữa”.

 “Vị trí đó phải thuộc về tôi cô hiểu không? Anh ta đã hứa hẹn với tôi mà lại cưới cô”.

 “Sẽ chẳng thay đổi được gì cả, trừ khi tôi chết”.

 “Đúng vậy! cũng bởi thế mà mày nên chết”.

 Khi tiếng kêu thất thanh trong miệng giếng vang lên, thị chỉ kịp cúi xuống lẩm bẩm được vài câu vô nghĩa “tất cả là tại mày tự chuốc lấy, đừng oán tao”. Cơn giông ập xuống.

 Thị bước thấp bước cao trên con đường nhầy nhụa bùn đất, gương mặt ánh lên sự hoảng loạn, cứ chạy được vài bước chân thị lại chùn lại như có ai thò tay kéo đùa từ phía sau khiến thị ngã rúi rụi. Chưa bao giờ thời tiết khiến con người ta chỉ nghĩ thôi cũng phải rùng mình đến thế. Cơn mưa bay chuyển mình trong tiếng sét chớp giật náo loạn phía trời Tây. Những hạt nước nặng trĩu thả mình lộp độp trên mái tôn như tiếng than khóc oan khuất từ cõi vô cùng. Thị quỳ trước ban thờ cầu khấn lẩm nhẩm. Tiếng sét vẫn giật liên hồi kéo theo những giọt mưa nặng như nước đá trên mái tôn, trên mặt đường nhầy nhụa, cây cối; trắng đục không gian; mơ hồ có cả tiếng người kêu khóc.`Có cả tiếng kèn trống đám ma, thị nghe phong thanh có ai đó báo tin rằng: “Đêm qua, ông thầy trừ yêu đã qua đời”.

 

 Hoài Băng

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1551)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1603)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2283)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6282)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6153)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13517)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30614)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81655)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20478)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 301)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.