- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Đây là lần cuối cùng

20 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 64894)
buingockhoi117
  Biệt Tháng Tư / Photo Blackscorpion

Nhớ về bạn cũ

- Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau.
Thịnh nói với tôi như thế sau bữa cơm tối thanh đạm tại nhà hắn. Trong khi Hoa dọn chén dĩa xuống để rửa, tôi và người bạn thân từ thời trung học đi ra phòng khách nói chuyện. Khi nói câu đó, Thịnh gật gù đầu, mắt nhìn điếu thuốc kéo một hơi rồi há miệng nhưng không thổi khói thuốc ra mà để nó bay lơ lửng lên mặt rồi lim rim mắt giống như lần nào mười năm về trước. Tôi không hỏi Thịnh tại sao lại thốt ra câu đó. Tôi có cảm tưởng Thịnh muốn giải thích tại sao nhưng có gì chận lại, có gì bắt Thịnh tự kềm chế. Vả lại hỏi làm gì vì lần nào Thịnh nói xong câu bất hủ đó, tôi và Thịnh lại gặp lại nhau trong những trường hợp bất ngờ. Lần này bất ngờ hơn những lần trước. Tôi từ Montana về San Jose vài ngày thăm gia đình trong kỳ nghỉ hè trước khi vội trở lại trường học lớp hè. Từ nơi chỉ lác đác vài khuôn mặt vàng, về đây đi trên những con đường Thứ Nhì, Thứ Tư, Santa Clara ... với những cửa tiệm đồng hương san sát nhau mà lại không biết nhằm lễ gì mà tiệm nào cũng treo cờ vàng ba sọc đỏ và trên con đường này tôi gặp lại Thịnh. Hắn đang đứng ngoài tiệm bánh mì thịt nói chuyện với một nhóm người mặc đồng phục nâu.
 Tôi nhận ra người bạn cũ ngay, không biết vì mình có mắt tinh tế hay vì hắn trông không khác xưa mấy. Thịnh chào mấy người áo nâu xong kéo tôi vào một quán cà phê. Trong khi tôi hớn hở gặp lại bạn cũ ngỡ sẽ không bao giờ gặp lại sau 75 thì Thịnh tỉnh bơ như tôi và hắn đã gặp nhau ngày hôm qua. Nói chuyện một đỗi về những chuyện gì đâu đâu xong Thịnh cho tôi địa chỉ và số điện thoại bảo tối đến ăn cơm, bây giờ có việc phải đi. Tôi hơi thất vọng trước vẻ thiếu nhiệt thành của người bạn cũ nhưng vẫn nói tối sẽ đến.
Tối đó tôi đến nhà Thịnh. Thịnh giới thiệu vợ mình. Hoa nhỏ nhắn, xinh xắn, nói giọng Trung hơi khó nghe. Trong bữa cơm Thịnh mới bắt đầu kể về chuyện hắn từ ngày hắn và tôi gặp nhau lần cuối.
- Hình như là ngày 30 tháng Tư ở bến Bạch Đằng, Thịnh nói.
- Ừ, đúng thế và ông đã nói với tôi “đây là lần cuối cùng mình gặp nhau” khi tôi theo gia đình ông chú lên tàu hải quân đi.
Không đi được, Thịnh cởi bộ quân phục, tìm cách trốn về quê dưới Bình Dương nhưng bị công an bắt cho đi trại tập trung. Sau vài năm hắn được thả. Thịnh về quê sống với cha mẹ, gặp Hoa, cưới Hoa và vài năm sau xin đi Mỹ theo diện HO.
- Chuyện tôi chỉ có thế, Thịnh rót bia ra ly nói tiếp, sang đây tôi không đi học lại được như ông ... đầu óc mình nó lấn cấn sao đó, có cái gì cứ cản không cho mình nghĩ đến việc học.
- Thế còn việc làm?
- Cũng vậy nên chỉ làm mấy cái job nho nhỏ.
Nhìn quanh căn gác xép vợ chồng Thịnh thuê, tôi đánh giá gia đình bạn mình nghèo. May họ không có con nên đỡ xính vính. Tôi hỏi hắn chuyện con cái. Tôi thấy Hoa vội bỏ khăn lau bàn xuống rồi đi vội vào phòng trong.
Đăm chiêu, Thịnh đáp, giọng buồn, môi hơi mím.
- Tụi tôi đẻ được thằng con trai, chết ở quê nhà. Bệnh nặng nhưng vừa là con ngụy quân, cha mẹ là mại bản tài sản bị tịch biên, vừa dưới quê thì làm sao chữa. Khốn! Mang được sang đây thì giờ này nó cũng sáu bảy tuổi.
Bầu không khí chợt nặng nề. Không ai nói tiếp. Những câu hỏi tôi xắp sẵn trong đầu trước khi đến để hỏi Thịnh biến đi đâu hết. Tôi đứng lên kiếu ra về. Ra đến cửa, Thịnh đứng nhìn theo không nói gì nhưng khi tôi mở cửa xe thì hắn chạy lại chộp lấy tay tôi siết chặt, nói giọng nghẹn ngào “Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau” xong quay phắt đi thẳng vào nhà đóng cửa lại.
Trên đường lái xe về, tôi thắc mắc về cái giọng nghẹn ngào của Thịnh. Những lần trước khi thốt ra câu đó bạn tôi nói với vẻ nghiêm trọng đến độ như là đóng kịch nhưng làm nghiêm để ra vẻ thật đấy, không đùa đâu, và tôi đã một lần phải bật cười trước cái nét nghiêm kịch của Thịnh. Nhưng lần này tôi đã không cười. Và lần này Thịnh đã thốt ra câu đó hai lần.
Những ngày sau đó bận việc gia đình nên tôi quên phứt là đã nói với Thịnh sẽ trở lại thăm hắn trước khi về lại Montana cho đến hôm trước ngày đi tôi mới sực nhớ. Tôi vội chạy lại nhà Thịnh thì hắn không có nhà. Hoa mở hé cửa nói Thịnh đi đâu cả ngày không biết khi nào về. Tôi định hỏi Hoa về bạn mình nhưng Hoa đã vội đóng cửa.
Hôm sau tôi lên máy bay về lại Billings.

*
Lần gặp lại người bạn cũ sau mười năm thật bất ngờ đó mà tôi ngỡ sẽ không bao giờ thấy lại và thái độ khác lạ của bạn lúc chia tay ám ảnh tôi một thời gian có lẽ khá lâu nếu không có những ngày bận học và kỳ thi giữa khóa. Vài lần tôi lấy điện thoại gọi cho Thịnh nhưng không ai trả lời, hắn không gắn máy nhắn. Một ngày cuối khóa đang ngồi học thi tôi nhận được cú điện thoại bên nhà gọi sang hỏi thăm. Khi em tôi gần gác máy thì tôi nhờ nó lúc nào rảnh ghé nhà Thịnh xem hắn còn ở đó không và nói gọi cho tôi. Vài ngày sau em tôi điện sang nói đã ghé nhà Thịnh nhưng không ai ra mở cửa. Thằng em đoảng cũng chả biết hỏi hàng xóm xem Thịnh và vợ còn ở đó không. Nếu không thì cái câu bất hủ “Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau” sẽ đúng và có lẽ chỉ đúng một thời gian vì thể nào tôi và Thịnh sẽ gặp lại nhau như tiền định.
Năm 1964 tôi vào học lớp đệ Thất, bây giờ gọi là lớp sáu, một trường trung học tư thục ở Sài Gòn vì thi trượt mấy trường công lập. Hai năm sau lên đệ Ngũ thì tôi gặp Thịnh. Thịnh từ dưới Bình Dương lên, nơi cha mẹ buôn bán rất khá làm chủ nhà máy. Thịnh tính tình hiền lành, dễ làm thân và học cũng dở như tôi nên hai đứa chơi thân rất nhanh. Giữa năm đệ Tam mấy tuần lễ trước Tết, Thịnh nói sẽ về quê ăn Tết xong ra Giêng trở lại trường. Nói thế nhưng ngày cuối trước khi trường đóng cửa hai tuần, Thịnh nói không chắc sẽ trở lại. Sẵn có con trai về dưới đó gia đình muốn hắn gặp một người con gái ra mắt. Có lẽ ông bà già muốn Thịnh lấy vợ sớm đặng cùng cha quản trị nhà máy. Cha mẹ lớn tuổi, mấy đứa em còn nhỏ, chỉ có Thịnh mới đủ sức đứng ra cáng đáng mọi việc.
Ra ngoài cổng trường, Thịnh nói “Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau” xong nhẩy lên xe đạp đạp đi để tôi đứng một mình đó ngẩn ngơ nghĩ về những ngày sau Tết đi học lại không có bạn. Hết Tết trở lại trường, tôi bước vào lớp vừa vui vừa giật mình thấy Thịnh đã ngồi đó. Hắn giải thích “ông già tôi không thích cha con nhỏ đó vì phách lối” nên dẹp chuyện cưới hỏi. Tôi cười cái lo lắng vớ vẩn của mình. Hẳn Thịnh đã đùa với tôi chứ làm gì có chuyện mới học đệ Tam đã lập gia đình.
Tôi và Thịnh học chung chơi chung cùng trường lên đến lớp 12, trước kia là đệ Nhất. Chiến tranh Nam Bắc Quốc Cộng ngày càng khốc liệt. Bộ Quốc Phòng ra lệnh đôn quân để tiếp thêm cho chiến trường. Tôi và Thịnh đậu tú tài nhưng vì lớn hơn tôi hai tuổi đúng vào tuổi đôn quân nên bạn tôi nhận giấy gọi nhập ngũ. Thịnh đạp xe đến nhà tôi, đưa cho tôi xem tờ lệnh gọi trình diện trung tâm 3. Trước hôm Thịnh đi trình diện, hai đứa rủ nhau ra quán cà phê Duyên trên đường Đinh Tiên Hoàng mà tôi và bạn thường đến.
Suốt cả giờ đồng hồ tôi và Thịnh ngồi nhâm nhi cà phê đốt thuốc. Sau cùng Thịnh chợt thốt câu “Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau” xong kéo một hơi rồi há miệng nhưng không thổi khói thuốc ra mà để nó bay lơ lửng lên mặt rồi lim rim mắt. Nhìn cái mồm Thịnh há hốc đầu gật gù tôi phải bật cười. Hắn nheo mắt nhìn tôi như thể không hiểu tại sao tôi diễu cợt câu nói đó. Không muốn Thịnh hiểu lầm là tôi đã không thấy sự quan trọng của việc hắn lên đường nhập ngũ, tôi vội giải thích “Làm gì bi đát hoá thế, mai mốt đi phép vài ngày thì mình lại ra đây ngồi chứ có gì”.
Rồi Thịnh đi trình diện và tôi trở lại cuộc sống sinh viên. Tôi vào Luật. Tôi cô đơn vì không quen ai. Tôi nhớ bạn thì ít mà nhớ những ngày tôi và bạn học chung chơi chung thì nhiều. Tôi nhớ những ngày trung học, những ngày tôi xách chiếc Mobilette lại nhà bạn học chung, tối thức khuya pha hai phin cà phê kéo mấy điếu Bastos, nhớ những buổi chiều mưa chở nhau đi xi nê thường trực ngồi cho đến tối, những đêm lành lạnh gần Giáng Sinh dẫn nhau đi tìm bum lậu để lén vào nhẩy … nhiều kỷ niệm. Tại sao mình không ngừng thời gian lại được mà phải tiến tới để mất đi những gì quý báu.
Ngày lại ngày tôi đến trường với một cảm giác mất mát. Tôi nhìn quanh tìm có ai quen để trò chuyện có ai có cảm tình để làm quen. Hình như mọi người ai nấy đã vào nhóm nào và không có nhóm nào còn chỗ cho tôi. Cái cảm giác mất mát lẫn lạc lõng cứ bám lấy tôi, không tha. Tôi mường tượng nếu Thịnh cũng học Luật với mình thì sự thể sẽ ra thế nào, có còn lang thang những nơi thường lai vãng, có còn làm những trò hai đứa thích làm không hay nay là “người lớn” sẽ làm những chuyện khác sẽ đi những nơi khác. Xong tôi tưởng tượng ra hình ảnh Thịnh tại quân trường, tóc cắt ngắn, da xạm nắng, mồ hôi nhễ nhại cầm súng chạy quanh sân băng đồng. Gần một năm sau tôi gặp lại Thịnh bất ngờ.
Thịnh lại tìm tôi tại nhà khi tôi vừa ăn cơm tối xong sắp sửa lên lầu đọc sách.
- Anh Thịnh đến kìa, thằng em tôi ra mở cổng rồi vào nói.
Tụi tôi ra lại quán Duyên. Khá lâu không gặp lại, bạn tôi trông không khác gì hình ảnh tôi mường tượng. Tóc húi cua, da rám nắng, người cứng cỏi, quân phục cổ đeo lon chuẩn úy. Suốt buổi tối ngồi quán Thịnh ít nói chuyện quân ngũ, đúng ra là ít nói, trầm ngầm nhấp cà phê rít thuốc. Sau cùng Thịnh nhìn đồng hồ rồi nói đã đến giờ phải trở vào trại.
- Sáng sớm mai tôi đi trình diện quân đoàn 1. Ông ở lại cố lên lớp khỏi đi lính ... Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau.
Tôi nghe có gì buồn trong giọng nói của bạn, tôi không cười được. Với những tin tức hàng ngày về các trận đánh đẫm máu ngoài Trung, tôi có linh cảm đây thật sự là lần cuối cùng gặp Thịnh. Nhìn bạn lên xe phóng đi, tôi cảm thấy một nỗi buồn rười rượi trong lòng. Lần này là vĩnh biệt. Tôi sau cùng đành phải nhận không có gì là vĩnh cửu, những gì của ngày xưa để đi qua, níu kéo vô ích. Nếu có gặp lại bạn cũ chưa hẳn còn như xưa. Những thay đổi thời cuộc thay đổi con người cả trong lẫn ngoài. Và tôi cố gắng quên đi những chuyện xưa, nhìn về tương lai, cố lấy cái bằng cử nhân luật. Tôi chơi thân hơn với những người mà đến nay chỉ hỏi han xã giao, giờ hẹn hò với họ, đi những nơi họ đi, nghe nhạc họ nghe, nói năng theo kiểu họ nói.
1973, tôi leo lên được năm thứ ba Luật, học ngành tư pháp. Tình hình kinh tế khó khăn theo chiến sự khốc liệt. Thấy cha mẹ lo lắng tần tảo làm ăn nuôi mình và lũ em, tôi đâm đầu học quên đi mọi chuyện khác, kể cả Thịnh nhưng dường như người bạn xưa đã không cho tôi quên hắn.
Một tối đi chơi với cô bạn gái mới quen về, tôi thấy Thịnh đã đứng trước cửa nhà chờ. Hai năm không gặp, Thịnh giờ trông khác xưa, gầy ốm hơn, đen hơn. Ngoài ra, cái lon chuẩn úy đã được thay thế bằng hai bông mai vàng. Tôi đưa tay lên chào theo kiểu lính “Chào trung úy”.
Tụi tôi trở ra quán Duyên.
- Ông được thuyên chuyển về đây luôn? Tôi thắc mắc.
- Không, tại tôi bị thương ngoài kia, nhẹ thôi nên được đi nghỉ phép nhưng mai phải trở ra lại.
Tôi hỏi về trường hợp bị thương nhưng Thịnh lắc đầu nói chả có gì để kể. Rồi tôi và Thịnh im lặng như là không ai có gì để kể cho người kia sau mấy năm không gặp. Đúng là thay đổi thời cuộc thay đổi con người. Bức tường vô hình nào giữa tôi và bạn quá cao để lời và ý tưởng không vượt qua được để đến với nhau, quá dầy không đập đổ được. Tôi đứng bên này nhìn xuyên tường qua bên kia thấy một khuôn mặt xa lạ nào. Bạn tôi đó, không phải bạn tôi. Hay vẫn là bạn thưở nào nhưng giờ là của một thế giới khác. Tôi thầm nghĩ câu “Đây là lần cuối cùng mình gặp nhau” là đúng nếu mình nói về tâm tưởng tình cảm và nếu điều đó thật sự đúng thì lần cuối cùng tôi và Thịnh gặp là vào ba năm trước cũng tại nơi này, cái đêm trước khi hắn đi Trung Tâm 3.
Cũng như lần đó, Thịnh nhìn đồng hồ rồi nói phải vào trại vì sáng sớm mai lên máy bay trở ra quân khu 1.
- Ngoài đó đánh dữ lắm. Tôi không biết là ... Thôi, đây là lần cuối cùng mình gặp nhau.
Rồi Thịnh chìa tay ra, lần đầu tiên trong đời tôi và Thịnh bắt tay. Dù nghĩ rằng mình đã mất bạn từ lâu, người bạn của hình ảnh ngày xưa, nhưng nhìn Thịnh từ từ lái xe đi, tôi vẫn cảm thấy buồn rười rượi trong lòng. Lần ra đi này của Thịnh không làm tôi bị giao động như kỳ trước và tôi không còn nghĩ về người bạn nhiều như trước. Cho đến ngày 30 tháng Tư.
Cả gia đình tôi theo lời chú tôi dắt díu nhau ra bến Bạch Đằng lên tàu hải quân đi Phi. Tôi thấy Thịnh đứng đó trong bộ quân phục nhầu nhò dơ bẩn bỏ ngoài quần, đầu trần, hai thay buông thõng. Thịnh nhìn tôi rồi nhìn chiếc tàu. Tôi không biết Thịnh đang nghĩ gì. Muốn tôi giúp hắn lên tàu đi? Nguyền rủa tôi là thằng hèn bỏ chạy? Mặc kệ cha mắng mẹ van, tôi bỏ mọi người chạy lại Thịnh.
- Đi theo tụi này không? Để tôi hỏi chú tôi xem sao. Tôi hổn hển nói.
Nụ cười héo trên môi Thịnh.
- Tôi phải về Bình Dương, đâu bỏ ông bà già và lũ em được. Ông đi đi, nhà đang chờ kìa. Thôi, đây là lần cuối cùng mình gặp nhau.
Rồi Thịnh chìa tay ra. “Đây là lần cuối mình bắt tay nhau”, tôi nghĩ thầm. Trước khi quay đi, tôi thấy cái lon trung úy không còn trên cổ áo Thịnh.
Suốt mấy ngày lênh đênh trên biển, tôi đã nghĩ nhiều về người bạn. Tôi mường tượng ra những cảnh ruồng bắt, đánh đập, thậm chí hành hình. Chưa bao giờ ở với cộng sản một ngày, tôi cố nhớ lại những cảnh trong phim “Chúng tôi muốn sống” và suy diễn ra những gì xảy đến cho Thịnh. Tự nhiên tôi thấy lo vô cùng. Đến Subic Bay, sau những ngày đầu trên đất lạ và trải qua những thủ tục rườm rà, nhà tôi được đưa qua đảo Guam chờ ngày đi Mỹ. Thời gian trên đảo Guam mỗi ngày tôi ra bãi biển nhìn về hướng tây nơi những gì kinh hoàng có thể đang xảy ra cho những người thân còn ở lại trong số đó có Thịnh, tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi hình ảnh cuối cùng của Thịnh đứng trên bến tàu nhìn chiếc chiến hạm rời bến. Thịnh đứng đó thật lâu rồi quay lưng bỏ đi, dáng thất thểu. Không biết khi đó Thịnh đang có cảm giác gì, căm, lo, hãi, nản? Thấy tôi không vui chơi như những lũ thanh niên cùng tuổi, nhởn nhơ hàng ngày dắt nhau đi tắm biển, mẹ tôi biết tôi đang lo nghĩ về Thịnh. Bà nghĩ ra những chuyện bắt tôi làm để quên đi, bắt tôi đi học lớp anh ngữ, làm việc tình nguyện, vân vân.
Chuyển về trại tị nạn trên đất liền, tìm được nhóm bảo trợ, xuất trại, gia đình tôi tái định cư trên miền Bắc nước Mỹ, tuyết phủ. Lạ đất lạ người lạ cảnh, lạ hết, bỡ ngỡ, những lo lắng về người bạn xưa hoàn toàn bị thay thế bởi các lo lắng khác. Rồi Thịnh dần quên lãng đi trong đầu óc tôi. Không chịu được cái lạnh cắt da, cha mẹ tôi dẫn lũ em về bắc Cali. Tôi còn đang học đại học tại đây với học bổng nên đành ở lại học cho hết.

*
Tết Rắn 1989, mùa đông năm nay lạnh ngay cả trên những con phố San Jose. Mặt trời cứ lẩn quẩn sau những cụm mây xám lơ lửng chờ mùa xuân. Tôi cười thầm khi thấy dân chúng khoác jacket, coat, đầu mũ len ngay giữa trưa. Cái lạnh nơi này thấm gì với cái lạnh nơi tôi vừa giã từ về đây sinh sống với gia đình nhưng có lẽ sau một hai năm ở đây tôi cũng sẽ như họ thôi. Tôi bẻ bánh lái cho xe đi vào bãi đậu trước một tiệm phở có tiếng để ăn một tô xong trở về sở.
Giương dù lên che đầu, tôi đi vội đến cửa.
- Chú mua báo cho cháu.
Nhìn sang, tôi thấy một khuôn mặt con gái rất trẻ, chắc chưa đến hai chục. Cô bé mặc áo nâu quần vàng, mái tóc dài xuống bờ vai, một xập báo trên tay. Cô bé chìa ra một tờ mời mọc. Tôi liếc nhanh lên trang bìa, “Phục Quốc”. Lấy tờ năm đô trong túi ra, tôi đưa cho cô bé, cầm lấy tờ báo gập đôi đi vào trong tiệm, tai thoáng nghe “Cám ơn chú” thật nhẹ sau lưng.
Gọi tô phở xong tôi nhìn quanh. Tiệm hôm nay khá đông. Trên vài bàn có tờ báo giống tờ tôi mới mua. Trong một góc phòng ăn, năm sáu thanh niên ăn mặc giống như cô bé bán báo ngoài cửa ngồi tụm với nhau thì thầm nói chuyện. Một người dở tờ báo ra rồi chỉ vào những tấm ảnh đen trắng trên trang. Tôi chợt tò mò xem có gì hay trong tờ báo tôi vừa mới mua năm đô. Trang đầu chạy tít lớn “Lễ truy điệu các phục quốc quân hy sinh vì Tổ quốc”. Tôi lơ đãng mở các trang trong. Những tấm ảnh đen trắng với khuôn mặt của các phục quốc quân tử trận trong nước cùng với vị thủ lãnh của họ. Một cái ảnh đập vào mắt tôi. Trời! Thịnh đó, ảnh Thịnh. Trong ảnh Thịnh trông giống Thịnh lần cuối tôi gặp hắn. Tôi mở mắt thật to nhìn cho kỹ, đọc cái tên dưới tấm ảnh, Nguyễn Quốc Thịnh. Đích thị. Tôi đọc vội sơ qua những cột tin về cuộc đụng độ cuối cùng trong vùng tam biên. Tô phở bưng ra, tôi chợt không thấy đói, không nuốt gì được.
Đặt tiền lên bàn tôi cầm tờ báo đi ra.
Bùi Ngọc Khôi
Thu 2012
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
20 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 106059)
“Giấc” là tập thơ đầu tay của tác giả Lữ thị Mai. Nó - tập thơ đã nhắc với tôi rằng: Cuộc sống quanh chúng ta được bao bọc bởi hình ảnh. Chúng ta cần nó như cần ánh sáng để nhìn, không khí để thở. Hình ảnh chính là sự sống phản ánh vào trong con mắt ta, đó là một nguồn thông tin quý báu và cần thiết trong cuộc sống.
20 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 120201)
Thử hình dung một con tàu đang rẽ sóng…Du khách tụ họp trên boong ngắm biển ngắm trời, thay phiên chụp những pô hình solo hay tập thể trên cái nền lô nhô đảo nhỏ đảo to dưới bầu trời đang bừng sáng vì vầng dương vừa lấn được mấy lớp mây mù để phết nhanh lên mặt nước từng mảng rộng đủ các cung bậc của màu lam.
20 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 124584)
...Người khách đầu tiên tìm đến là một gã đàn ông lùn tè lùn tẹt, gã hỏi mẹ chị đi ”tàu nhanh” giá bao nhiêu? Mẹ chị ngớ người không hiểu, hỏi lại gã tàu nhanh là gì? Gã văng tục:” Đ... mẹ, làm đĩ mà không biết tàu nhanh!”. Mẹ chị nói với gã lần đầu tiên đi bán mình nên chưa biết, gã giảng giải cho mẹ chị, đi tàu nhanh nghĩa là “làm” một cái thôi, giống như ăn bánh trả tiền, còn đi” tàu chậm” là qua đêm, “làm” bao nhiêu cái thì “làm”...
20 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 143863)
đêm phố cổ tạ ơn một nàng thơ cuối cùng vẫn còn biết giật mình trước mắt đêm chai lì như mắt loài chuột cống
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 116112)
“Theo Trần Trọng Kim nhận rằng thơ là của Lý Thường Kiệt. Nhưng nói chắc là Thường Kiệt làm được thơ thì không có gì làm bằng cứ”[15]. Sau này, Bùi Văn Nguyên phân tích các cứ liệu và đoán định rằng: “Như vậy tác giả bài thơ “thần” này là khuyết danh”[16]. Bùi Duy Tân tiếp tục hướng này và chủ trương rằng “bài thơ này nên để khuyết danh tác giả”[17]...
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 97177)
Hắn tỉnh lại đột ngột. Bốn năm người thanh niên đang kéo hắn ra từ dưới lườn xe. Hắn nếm được vị mặn và máu, một đầu gối bị đau, và khi bị nhấc bổng, hắn phát rên, không chịu nổi sự đụng chạm trên cánh tay mặt. Những tiếng nói như không thuộc về những khuôn mặt treo ở trên hắn đang bông đùa vỗ về và bảo hắn yên tâm.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 102031)
Khi tòa báo đề nghị tôi tham gia viết về các nhà văn mà giá trị được cường điệu cao hơn giá trị thật của chính họ, tôi đã nghĩ sẽ từ chối. Tại sao phải tự mình tạo thêm kẻ thù một cách miễn phí? Rồi Robbe-Grillet xuất hiện trong đầu.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 116318)
Sư thày trụ trì ngôi chùa làng là người có học. Chẳng bao lâu hắn đã có thể trò chuyện như một người bạn tâm giao. Giáo lí nhà phật trong nhiều năm đã trở nên mờ nhạt với tuyệt đại đa số những con người tất bật với cuộc sống hôm nay. Cái hiểu biết về đền chùa miếu mạo của hắn cũng chỉ dừng ở mức không nhầm lẫn giữa nơi này với nơi khác. Bởi thế được trò chuyện với sư thày mỗi tháng vài lần là điều làm hắn vô cùng thích thú.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 139149)
Một cái chức nhỏ nhẹ Một cái chức lăn như cỏ lông chông Mơ đeo vào tay xòe ra giữa nắng Mơ đeo vào gót chân mỗi bước mỗi khua vang rổn rảng
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 124136)
Hoa ôm cứng lấy tôi. Hoa bảo: Hãy yêu Hoa đi. Nắng buổi chiều chiếu rọi xuyên qua bản vẽ làm rách nát từng đường trên cơ thể Hoa. Tôi nằm dát người trên chiếu, nghe tiếng súng nổ và hiểu Đà-nẵng đang cơn hấp hối.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9505)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16400)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15310)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15698)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2045)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2032)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2086)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2433)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4480)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6290)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5592)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6188)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1688)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1893)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2114)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1961)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1763)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1583)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1778)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1755)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12573)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28740)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35275)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35141)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 10081)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12104)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1426)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2032)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2433)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2534)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2972)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7187)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6597)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8703)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.