- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Miki

20 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 53617)

lenguyetminh-117

Cố gắng cắn cắn xé xé, cuối cùng cái đầu nó cũng chuồi ra được khỏi túi nilon. Đến nửa mình, cái túi mắc lại vào ngang bụng nó. Sự sống đang trỗi dậy, cơn đói đang thúc giục, vừa ló được cái đầu ra khỏi túi, một mùi hôi sực lên, cả dòng kênh đen ngòm. Nhưng cơn khát thúc giục, nó thử thè lưỡi xuống dòng sông nhưng tanh nồng đắng ngắt. Nó rùng mình sặc sụa, bụng như trào lên muốn nôn ọe mà trong dạ dày từ sáng tới giờ không còn chút thức ăn nào nữa. Tất cả đã tiêu tan theo miếng xương khô mấy ngày nay làm nó khốn đốn. Cơn đói làm nó nhao nhao. Mắt của nó bị trùm lên một lớp đen sì không mở được nữa vì bùn. Nó tru mũi tách bạch xem nơi nào là hướng đất, nơi nào là dòng sông đang chảy. Nó tiếp tục nhao lên. Tưởng như có khi hụt hơi và cái chết lại chạm tới. Nhưng sức lực của hai tuần tuổi với nó vẫn còn le lói. Chỉ còn một mét rưỡi. Sau hai tiếng vật lộn nó cũng chui lên được mặt kênh dốc thoai thoải. Cái túi vẫn mắc vào mình nó. Vô tình một bụi gai trên mặt kênh vướng phải. Nó lại cố gắng giãy giụa muốn tụt ra khỏi túi. Nó lăn vào bờ đất. Hình như là một con đường vắng đầy bụi. Nó chao đảo một hồi, mặt mày xây xẩm phờ phạc. Do quá đà nó lăn xuống lòng đường. Bao nhiêu đá dăm và bụi bám hết lên người nó. Từ một con chó đốm, giờ nó thành hẳn một con chó phủ bê bết toàn màu đen của bùn của đất.

Nó nằm vật xuống thở dốc. Từng cọng hơi thở nhỏ nhoi như muốn bứt ra khỏi nó. Chưa bao giờ nó trải qua một cảm giác nặng nề và tuyệt vọng như thế. Hình như nó đang nằm ven một bãi rác. Mùi thum thủm hôi thối bốn xung quanh xộc vào mũi liên hồi. Đôi mắt lờ đờ nhìn đám túi giấy và hàng trăm thứ bà dằn khác được vứt lung tung đang phà phật bay và bốc mùi theo gió. Nước mắt nó đôi lần trào ra. Nó nhớ mùi sữa thơm tho ngai ngái của mẹ. Nhớ cậu chủ, thỉnh thoảng lại ném cho nó mẩu khoai lang sống. Lúc đó sao nó thấy đắng ngắt. Nhưng giờ mà có khoai lang sống thì là một bữa ăn linh đình. Nhưng những bữa ăn ấy cũng lùi xa. Ông bà chủ vỡ nợ. Thu nhập của họ kém dần đi. Nó không còn được ăn gì nữa. Những bữa ăn xa dần. Bản thân nó còi cọc nhất đàn chẳng ai đoái hoài, mình trắng chấm đen mũi đỏ, họ cho rằng sẽ mang lại xui xẻo. Bà thầy bói nói với chủ nó, nếu không ném nó đi, thì còn mất cả mạng. Năm anh em nhà nó dần được cho người này người kia. Còn lại có một mình, mẹ nó ấp ủ nhưng vì không thể nuôi nổi, cuối cùng sau một hồi cân nhắc, bà chủ quyết tâm cho nó vào túi và lặng lẽ ném xuống dòng kênh. Không ai nhận, vì nó còi cọc và lở loét nhiều quá.

Nó cố gắng ghếch cái mõm đầy bùn lên tìm hơi thở. Hơi thở khó nhọc nặng nề như có cái gì chặn lại nơi cổ họng. Đôi mắt nó nhoèn ướt, lờ đờ nhìn xung quanh. Nó là một cái chấm mờ bé xíu nhỏ nhoi bên bãi rác khổng lồ và dòng kênh đen kịt. Tiếng gió thổi tới, mùi hôi hám lại xộc lên, giấy túi nilon bay trắng cả một khoảng không gian đen đúa. Những miếng băng vệ sinh được cắn xé tứ tung. Nó nhìn thấy phía bên kia, hai con chó cao nghều gầy nhẳng đang thi nhau giằng một miếng băng vệ sinh nát bươm. Những cọng rau úa vàng mục rữa nằm chen giữa đám cơm nguội ruồi nhặng bu đầy. Cả đống vỏ hộp bị bóp méo nằm lăn lóc khắp nơi. Chỗ nào cũng thum thủm hôi hôi. Nó chưa bao giờ nghĩ là sẽ bị quẳng vào một nơi kinh khiếp như thế. Bỗng một bà cụ già nua, chiếc áo màu hoa cũ bạc thếch bay tung lên trong gió. Cái lưng còng gập như dấu hỏi. Nó thấy bà cụ run run đi không vững, vừa đi vừa kéo thụp cái nón rách tươm xuống mặt, giọng nói mấp máy câu được câu chăng. Và một cái bánh mì nằm run rẩy trong bàn tay khô quắt. Bà cụ kia bị làm sao thế. Nó nặng nhọc hé mắt nhìn. Rồi bà cụ ngồi thụp xuống một cái bọc được gói ghém cẩn thận, giọng như lạc đi, vừa sợ hãi vừa đau khổ: “Bà van con, bà không biết con là ai… con linh thiêng thì phù hộ cho bà. Bà chỉ còn có cái bánh mì này để sống qua ngày… bà nhường cả cho con… con phù hộ cho bà… cầu trời cho con được sang kiếp khác…”.

Nó mệt quá rồi. Nó như muốn lăn xuống một lần nữa dòng kênh đen xịt kia, nơi nó vừa thoát được bằng tất cả chút tàn lực bình sinh của mình. Nó cố vươn cái mõm có chiếc mũi hồng hồng lên một mẩu gỗ mục và cào hết sức móng chân vào bờ như sợ lại tuột xuống. Nó thiu thiu ngủ đi như bị kéo vào một giấc mộng mệt mỏi mơ hồ.

Bỗng một tiếng phanh xe kít lại. Ồ không phải nhím, một con chó mực. Cô gái lại gần nó, khe khẽ vuốt tay xem nó có bị thương không. Nó ngóc cổ, hai mắt quệt quệt vào ống quần cô để gạt đi những đốm bùn đang đọng trên mi mắt. Nó muốn nhìn, muốn nhìn nhưng tất cả vẫn đen thui tối mù. Cô gái nhẹ nhàng bế nó và đặt vào giữa cái kệ yếm xe và chở về nhà. Nơi căn nhà trọ chín mét vuông, không có gác xép, bao nhiêu nắng nóng của buổi chiều như đang tụ lại hết trên mái tôn. Căn nhà bề bộn với bao nhiêu thứ, phòng tắm, bếp, chỗ ngủ đều dồn hết vào không gian chật hẹp đó. Ẵm trên tay, cô nhẹ nhàng mở vòi nước, tưới từ từ lên mình nó. Ồ, không phải chó đen, từng đám trắng lộ dần ra. Cô gái dùng máy sấy xịt cho lông nó khô dần. Nó co rúm lại vì lạnh. Chắc nó đói lắm đây, còn một chút canh khoai sọ từ buổi trưa, cô lấy ra cho nó ăn. Cái lưỡi bé tí hồng hồng xinh xinh đang chóp chóp liếm cái đĩa. Nhưng nó vẫn còn đói thì phải. Cô vơ lấy đám tiền lẻ chạy sang nhà hàng xóm mua bịch sữa. Cô chủ nhà ngạc nhiên, sao hôm nay lại mua sữa? Cháu mua cho con chó. Cô chủ nhà chạy sang, nhìn con chó đang mon men uống sữa. Cái bụng nó bắt đầu căng tròn lên, đuôi nó bắt đầu quẫy tít thò lò. Ánh mắt nó mừng rỡ, chạy khắp căn phòng chật chội rồi rúc đầu vào hai chân của cô chủ nhà.

Cô gái kể cho cô Sáu biết về số phận của nó. Vừa xoa đầu nó, cô vừa kể đi kể lại về việc gặp con chó như thế nào. Đang kể giữa chừng, cô gái chợt sững lại. Nhưng nó ngủ đâu bây giờ, phòng cháu chật quá. Cô Sáu thốt lên. Đừng lo, bên nhà cô có mảnh vườn bé tí, để trồng rau thơm, cứ cho nó qua đó ở.

Mắt cô gái lóe lên niềm vui sướng. Một nỗi lo như được cởi trói.

Thế là nó đã về ở với Phi được hai tuần. Nó dần quen với cuộc sống êm đềm của vợ chồng cô và hàng ngày quấn quýt với cô chủ nhà của Phi. Từ ngày có nó về, cuộc sống của mọi người dần trở nên rộn rã hơn. Đề tài của mọi người suốt ngày mỗi khi họ gặp nhau là nói về con chó. Nó đã lớn lên, mập mạp hơn và cong cớn hơn. Cái đuôi lúc nào cũng rối rít mừng rỡ. Có nhiều lần mừng quá nó tè dầm cả ra nền nhà của Phi.

Có một buổi sáng, ba cái đầu chụm vào nhau, tranh luận một hồi gay cấn, cuối cùng cũng nghĩ cho nó một cái tên. Họ quyết định gọi nó là Miki, một cái tên nghe là lạ hay hay. Cả khu xóm nhỏ, mỗi khi thấy nó họ lại reo lên Miki Miki. Lũ trẻ con suốt ngày chạy đến vuốt ve ôm ấp nó. Có đứa còn đòi ôm nó về ngủ. Thằng bé 4 tuổi còn giấu mở tủ lạnh của mẹ nó lấy ra bốn, năm miếng giò giấu trong túi áo, lấm lép cho nó ăn, vừa sợ mẹ phát hiện ra, vừa muốn cưng nựng con chó. Đôi khi giỡn đùa với lũ trẻ nhiều quá, nó nằm thở phì phò vì mệt. Niềm vui của nó hạnh phúc ngập tràn tưởng chừng như mọi sự trải qua đã lùi xa.

Đám lông đã mượt hơn. Đám sẹo xây xước cũng đã liền. Cứ vài ngày nó lại được cô chủ nhà đem đi tắm. Mỗi lần ấy, con Miki lại nằm gác mõm lên thành ghế lim dim như ngủ. Có lần thấy Phi đi ngang dắt cái xe máy vào sân, nó vừa ngủ gật vừa vẫy đuôi với Phi như một lời chào.

Chiều hôm đó, hai vợ chồng Phi muốn đi dạo một chút sau một ngày làm việc căng thẳng. Cô định gọi Miki đi cùng. Cả ba rất vui vẻ đi tắt qua vài ngõ hẻm.

Miki tung tăng sung sướng, vừa đi vừa sục sạo ngửi cái này ngửi cái kia. Lúc thì dẫn đầu, lúc lại tụt lại đằng sau khiến hai vợ chồng Phi phải dừng lại chờ nó. Hai vợ chồng Phi cảm thấy thật vui như đang dẫn một đứa trẻ đi chơi. Thi thoảng chồng Phi lại ném đi một quả bóng nhỏ để Miki chạy theo và tha về cho anh. Đến bờ kênh, quả bóng bị bật nẩy vào vườn nhà ven đường. Nó lao theo vồ lấy và hung hục tha lại tới phía hai vợ chồng. Đang chạy tới chỗ vợ chồng Phi với quả bóng cắn ở mõm, bỗng nó khựng lại. Một luồng gió thổi qua, một mùi ghê rợn vô cùng xộc tới. Bốn chân nó chùng lại, hai chân chúi về đằng trước, người nó co dúm dó về đằng sau. Mắt nó tối sầm. Tiềm thức như quay về, mùi hôi thối của dòng kênh, đúng là cái bờ kênh cao cao kia, ngày nào nó đã phải vật lộn bằng hơi thở cuối cùng để vượt qua bờ kênh đó. Nó run rẩy nhặt quả bóng nhưng không có gì hết. Nó vùng lên, quay ngoắt lại, chạy chạy. Trong đầu nó, mọi hôi tanh bẩn thỉu như bám đuổi. Nó chạy thục mạng. Sau lưng như có một con bạch tuộc khổng lồ đang tung những cái vòi cuốn lấy nó. Nó chạy điên cuồng, luồn hết mọi con hẻm ngoằn nghèo như tránh nhìn thấy dòng kênh. Nó về tới nhà, lao vào góc nhà, nằm thở, nước mắt ròng ròng. Ôi thật kinh hoàng. Mười phút sau, nó mới từ từ mở mắt ra nhìn. Lúc ấy vợ chồng Phi cũng về tới. Hai người không hiểu có chuyện gì xảy ra với nó. Khi thấy họ, Miki mừng rỡ chạy ra, quấn quýt cào cào chân, quấn quýt trước mặt Phi.

Buổi tối hôm đó, hai vợ chồng Phi bàn luận về chuyện đó mà không tìm ra giải đáp. Ngày hôm sau, trong giờ giải lao, Phi chợt nghĩ về con Miki và ồ lên lời giải đáp. Có thể là nó sợ hãi vì đi qua dòng kênh ngày xưa nó đã suýt chết. Mình đã làm cho nó sợ hãi. Phi nghĩ chiều về sẽ bàn với chồng cuối tuần này dẫn Miki đi cùng ra bãi cỏ ven ngoại ô chơi – nơi mà thi thoảng vợ chồng cô vẫn đi picnic khi trời đẹp.

Cô và chồng nằm bên bãi cỏ, thi thoảng anh nhỏm dậy, cầm chiếc gậy ném ra xa, con Miki lại cuống cuồng lao đi, tha chiếc gậy về cho ông chủ. Nó vui đùa cứ chạy đi chạy lại rối rít bên hai vợ chồng. Anh nhẹ nhàng hôn lên trán cô, xoa bụng vợ, nhìn âu yếm. Họ đang bàn tính chuyện tương lai, sau này họ sẽ có căn nhà nhỏ nào đó, sẽ có mảnh vườn nhỏ trồng rau thơm ở ngoại ô, họ sẽ vui đùa với con chó hàng ngày. Biết đâu, đứa con trong bụng cô cũng sẽ ôm nó vào lòng. Se se chiều, họ thiếp đi, con chó cũng nằm phủ phục dưới chân, lim dim đôi mắt như vừa muốn tìm hơi ấm như vừa muốn canh giữ giấc ngủ cho đôi vợ chồng trẻ. Trong lòng nó như đang tính toán điều gì đó của một con con chó, cảm tưởng như vũng bùn đen tối đã trôi qua, như chưa hề xảy ra với bản thân nó.

Hàng ngày con chó vẫn đưa Phi đi làm. Con đường cô đi làm gần nhà phải băng qua một cái ngã ba để vắt sang bên kia người xe nườm nượp. Nhưng nó không bao giờ tiễn Phi hết đường mà chỉ dừng lại chừng chục bước chân. Vì nơi đó là cửa hàng thịt chó, nơi treo những đồng loại của nó lủng lẳng vàng ươm. Bao giờ nó cũng ngậm ngùi nhìn bóng Phi nhỏ bé băng sang đường khuất hẳn mới lũi thũi đi về. Lần nào cũng thế, Phi phải căng mắt ra, cố hết sức để băng sang bên kia phố. Cái quán thịt chó ngày một can ra mặt phố chiếm hết tầm nhìn của người đi đường. Sang đến bên kia thì cũng là lúc con Miki quay đầu chạy về nhà với cô Sáu từ khi nào.

Một tuần mới lại đến.
Chồng Phi dậy từ sớm, để phần cho vợ một lồng cơm sẵn trên bàn để cô mang đi ăn trưa ở công ty. Như mọi sáng, cô xé lại khẩu phần ăn của mình là một mẩu bánh mì và ít thức ăn đem sang cho Miki. Rồi mới đi làm. Cũng như thường lệ, nó lại lẽo đẽo chạy theo chiếc xe máy của cô. Nhưng lần này nó cứ theo cô mãi, cô ngoái lại, nó cứ ăng ẳng như muốn níu kéo Phi điều gì. Phi dừng lại nhìn nó một lần nữa rồi mới tiếp tục đi. Gần đến ngã ba, như chuẩn bị vượt qua nơi sinh tử hàng ngày cô phải chịu đựng nó. Bỗng nhiên con chó tru lên một hồi như tiếng sủa của loài sói giữa đêm trăng. Phi nghe toàn thân lạnh toát, hơi lạnh ma quái chạy dọc sống lưng. Ba mươi năm sống trên đời, chưa một lần nào Phi trải qua cảm giác kỳ quái như vừa rồi. Con Miki đứng bạnh chân nhìn cô, đuôi vung rối rít, bốn cái chân nó cào xuống mặt đường, hàm răng nghiến lại, nó như muốn vùng lên kéo tuột Phi vào lòng. Chưa khi nào Phi thấy con Miki kỳ lạ như thế. Ánh mắt nó như có lửa, chiếu thẳng vào Phi. Như bị thôi miên, Phi đứng đờ người ra.

Bỗng Rầm!
Một tiếng rơi khủng khiếp ngay bên tai. Chỉ một phút ngắn ngủi thôi, cái rơ-moc của chiếc xe tải đổ nghiêng sang một bên đường. Tấm biển quảng cáo có hàng chữ Cầy tơ số một Nam Định bị nát vụn, méo mó. Một vụ tai nạn ngay đầu đường, chỉ cách chân Phi chưa đầy một mét. Phi bàng hoàng, mặt tái xanh. Nếu không vì tiếng sủa của Miki vừa rồi, chắc sinh mạng của Phi đã bị thần chết cướp đi.

Phi lao vào Miki, ôm chầm lấy nó. Con chó cũng như đang bị điện giật, người nó lạnh toát, cái mõm ghếch lên đùi Phi dụi dụi như muốn khóc!


Lê Nguyệt Minh
(Sài Gòn)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 745)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 788)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 648)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 575)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2932)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1867)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2769)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2323)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2708)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2468)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9745)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16589)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15590)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16016)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 788)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2932)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2769)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2708)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 648)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4954)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6836)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6120)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 745)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2323)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2468)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2698)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2215)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2023)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2187)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2225)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 575)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13192)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29166)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35523)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10504)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12401)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1867)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2769)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3020)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3087)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3805)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7538)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6901)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9381)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.