- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Nhật ký của một hộp thư cũ

02 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 128709)


phamthingoc_hl_114

Tôi hỏi cô nhân viên mới trong sở đã nhận được ngân phiếu đầu tiên do hãng gửi qua đường bưu điện chưa. Cô trả lời chưa, nhưng cũng đã mấy hôm rồi cô chưa thăm hộp thư, và than thêm rằng hộp thư của cô chỉ mang toàn tin buồn. Đứa con gái lớn của người đàn ông cô đang chung sống đã bao nhiêu năm ở tù bây giờ vừa được tự do, viết thư xin về nhà với bố. Ở tù vì hút sách, đứa con gái có hồ sơ toan tự tử bao nhiêu lần trong và ngoài tù. Tôi mím môi gật gù. Từ một câu hỏi giản dị được xung phong ra quá nhiều chi tiết. Lần sau tôi sẽ không hỏi cô điều gì nữa, dù cô đưa ra nhận xét hơi đúng: hộp thư mang toàn những tin buồn. Những người mang gia cảnh như cô, và ở nước Mỹ này thì đấy là gia cảnh bình thường, họ không hay có máy điện tóan, và không luôn địa chỉ liên mạng. Hộp thư mang đầy những tin buồn từ chủ nợ, từ nhà trừng giới, tù ngục, bệnh viện tâm thần, những đứa con hoang, tòa án ly dị.
Trải qua bao nhiêu năm, do hệ thống e-mail trở nên thông dụng, hộp thư của tôi cũng cạn hết nguồn vui, chỉ còn lại tấm ngân phiếu lương bổng hãng gửi về mỗi hai tuần đều đặn, không sai hẹn. Đó là một thứ văn kiện tôi xem xét kỹ lưỡng mỗi đầu và giữa tháng, dù chẳng có gì khác biệt từ tấm check mới nhất và hai tuần trước đó. Hơn một thập niên sau sự xuất hiện của hộp thư liên mạng, những cánh thư cá nhân cho tôi cũng đã biến thành cổ lỗ, tuyệt chủng, mà số lượng junk mai, thư quảng cáo, vẫn không giảm bớt. Dù thế, tôi vẫn mỗi ngày vui vẻ thăm hộp thư trước nhà, vẫn như một đứa trẻ trông ngóng đón ra từ đấy một điều làm ngạc nhiên, một cánh thư mang nét chữ của một con người có thật, một nhân vật nào đó từ dĩ vãng. Dĩ vãng thời trong nhóm Thế Hệ chẳng hạn. Một hôm xuống phố, đi ngang đường cũ để nhìn thấy trụ sở Thế Hệ xưa đã bị san thành một bãi đậu xe. Trụ sở nghèo nàn tối tăm khi xưa cũng có ổ khóa, và tôi một thời đã được trao phó chùm chìa khóa riêng để tự do ra vào, lấy thư, đọc thư, trả lời thư dù chỉ là những xã giao hình thức. Trụ sở không còn, tôi thấy ngậm ngùi. Mọi sự là phù phiếm, hình như chỉ có khóc than là dai dẳng.

Trong vòng một thập niên, kỹ thuật thông tin liên lạc tiến triển đến mức vừa bàn đến một phát minh mới thì điều ấy đã thành lạc hậu. Những chiếc điện thoại cầm tay lưu động ngày càng nhỏ nhắn, hấp dẫn đến mức người ta quỵt cả tiền nhà để trả tiền điện thoại cầm tay. Những đứa làm cùng sở, đứa nào cũng pager đầy người, điện thoại lưu động inh ỏi trong sở, ngoài xe, và e-mail những khi nói chưa đủ. Phương tiện xa xỉ của liên lạc nằm trong bàn tay, nhưng tôi không chắc họ có gần nhau hơn. Tôi thấy họ, như thấy mình, là những con người ngày càng mất kiên nhẫn giữa những tiện nghi vượt bực. Nhu cầu cần phải được đáp ứng nhanh chóng, liên lạc giữa thời đại e-mail cần phải có hồi âm trong tức khắc.

Những lá thư đầu đời của tôi, cách đây cũng gần cả ba mươi năm gửi đi cho bạn bè ngày vừa đến Mỹ, phải chờ ít nhất hai tuần lễ mới có thư trả lời. Những cánh thư gửi từ Louisiana đi California, đi Texas, đi Florida, đi Canada, đi đến những địa chỉ mới của lũ trẻ đã quen nhau ngắn ngủi trong trại tị nạn. Tôi biết tên cha mẹ từng đứa, và từ đó tìm ra địa chỉ chúng nó qua tờ thông tin liên lạc hội cựu thuyền nhân, dày vài trang đánh máy được đóng gáy bằng ghim bấm. Những lá thư gửi đi cái thì được hồi âm, cái thì biệt tích, được viết giữa tâm trạng cô lập, giữa mùa đông đầu tiên trên xứ sở mới, học hết bộ English for Today vẫn chưa qua mùa đông, giữa những đêm thâu nước Mỹ im lìm không có tiếng người gọi nhau, chửi thề, ngoài xóm, không có tiếng súng như tiếng pháo sau giờ giới nghiêm, không có giọng ca cải lương éo le của anh hàng xóm điên trên sân thượng nhà bên cạnh, không ánh hỏa châu. Một màn đêm im lìm gần đến mức mất trí. Khi một trong những đứa bạn viết và kể rằng đêm đêm nó thấy bóng trắng của một con ma hiền đến nói chuyện bằng cái ngôn ngữ nó chưa hiểu, tôi viết lại rằng nó đã mất trí thật. Ngày ấy, gia đình tôi không có điện thoại, không có cả máy truyền hình, thì chỉ còn lại những thư từ. Ngày ấy, bưu phí chỉ có mười xu một con tem. Hai tuần lễ cho một chuyến đi về của thư trong nội địa không có gì lâu lắc, so với những thư từ liên lạc về Việt Nam. Thư của bố tôi từ Việt Nam phải chuyển sang Pháp hoặc sang Canada, đến lúc vào đến Mỹ thì cũng đã qua sáu tháng, và ngược lại. Thư chúc Giáng Sinh đầu tiên gửi về có lẽ bố tôi nhận vào mùa hè, kể về Giáng Sinh hơn bao giờ hết được nuôi dưỡng bởi đức tin, dù rằng những trả lời của đức tin thường mở ra thêm nhiều câu hỏi khác. Tất cả đòi hỏi thời gian, chúng tôi chỉ còn có thể chấp nhận thời gian nên nó không còn là một thách đố.

Vấn đề của tôi là tôi không thoát khỏi nỗi cô lập của mình một cách dễ dàng. Viết thư là một cách giải tỏa cô lập, nhưng cũng qua những cánh thư tôi nhìn thấy sự chậm tiến của mình trên con đường hội nhập. Một đứa bạn khác viết kể về gia đình nó gia nhập hội thánh Tin Lành tại California, sau nhiều tháng chịu ảnh hưởng truyền giáo của họ. Được báo trước ngày sinh nhật của bạn, tôi gửi cho nó chiếc vòng đeo tay bạc, lủng lẳng mười mảnh bạc vuông tí hon, mỗi bảng khắc một điều răn. Chiếc vòng của ai đó đã cho tôi vẫn còn nguyên trong hộp của nó, dù chẳng là gì nhưng tôi cũng mất thì giờ bỏ vào đó nhiều suy nghĩ, vì chẳng có gì khác để cho. Bạn tôi viết trả lời, nó thích món quà lắm, tìm mua cho nó cái nữa. Tôi đọc và hiểu ra giòng chữ, và sau đó không còn thư nó cho tôi.

Khi đứa con gái lớn của tôi nhận thiệp mời sinh nhật bạn nó gửi, tôi nhìn thấy tôi mấy mươi năm nào, mặt mũi sáng rỡ cầm phong bì có nét chữ bạn mình, viết tên mình không sai một chữ đánh vần. Nét chữ non nớt trên «lá thư thật» làm tràn nỗi sung sướng của một đứa trẻ, nó chạy biến vào nhà tắm, đóng cửa, và ngồi trú trong đó đọc thư bạn dù chúng nó vừa gặp nhau vào ban sáng ở lớp học. Hạnh phúc căn bản không hề thay đổi.

Lá thư như thiệp mời vào một vòng thân ái, con tôi sẽ không lạc lõng như tôi thuở nào.

Trong những năm từ mười ba đến mười tám, hộp thư của tôi chứa đựng những cánh thư đã được gửi thẳng từ quê hương, và các hiệu sách Việt Nam. Chỉ ngần ấy thôi cũng là thú vị. Bao nhiêu mùa hè dài như bất tận, tưởng chừng thời gian không thể đi tới, chỉ có tôi và tôi, lâu lâu lác đác những buổi họp mặt sinh hoạt thiếu niên Công Giáo của cộng đồng không hấp dẫn, «năm xưa trên cây xoài, làng Fatima xa xôi...» Cho nên thật là sung sướng khi tôi mở thùng thư để lôi ra bọc vàng bưu điện ôm kín những tiểu thuyết Mai Thảo, Duyên Anh, Túy Hồng, Từ Kế Tường, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Kim Dung, và cả Quỳnh Dao. Đọc để nối dài nỗi nhớ. Đọc để nuôi dưỡng tưởng tượng, và giấc mơ ngây thơ làm nhà văn. Giấc mơ lớn ra ngoài tuổi mười tám đưa đến một hành động táo bạo là gửi truyện ngắn đầu tay cho Mai Thảo, gửi đi và không trông chờ một hồi âm, cho đến một ngày nọ tôi nhận được thư viết tay của nhà văn, viết rằng truyện ngắn sẽ được đăng trên Văn, kèm theo mấy lời khích lệ.

Chỉ ngần ấy thôi cũng là hạnh phúc, một câu trả lời hỗ trợ cho sự mạo hiểm của tôi là đúng hướng.

Tôi liên lạc nhiều nhất với Thomas Mays vào những năm đầu đại học, đặc biệt là khi anh bỏ học để nhập ngũ. Tommy Mays tôi biết ngày còn tiểu học, và chúng tôi chung lớp từ năm đệ thất, khi tôi chọn lớp mù mờ chọn lầm phải một lớp dạy xây cất dành cho nam sinh. Tommy và tôi ở cùng một nhóm, một hôm đóng đinh tôi lỡ tay đập xuống tay Tommy một búa. Tommy từ đệ thất đến đệ nhất chỉ có cao vọt lên mà dáng người không thay đổi. Gầy gò, lưng còm, tóc quăn, hình dáng của một tên dork theo kiểu nói bây giờ. Tommy ít nói, nhưng nói thì được nghe, cho nên dù trông cù lần hắn không bao giờ bị trêu ghẹo. Tommy hình như không có bố, ở với mẹ, trong niên giám điện thoại tôi thấy tên là Goldie Mays ở đường Wyoming, khu phố sạch sẽ có những ngôi nhà xinh xắn gần nhà thờ thánh Leo. Năm đệ nhị, lớp mười một, Tommy duy nhất lái xe hơi mới tinh đi học, chiếc Sunbird màu nâu bảo thủ như cách phục sức bảo thủ cỡ Richie Cunningham của Happy Days. Vòng bạn bè là đám lực sĩ đẹp trai của trường, Tommy với dáng dấp khẳng khiu chỉ xách máy chụp hình chạy theo những trận banh cà na bách chiến bách bại của trường. Nó có vẻ bực mình khi tôi bảo nó đang phí thì giờ vô ích.

Đệ nhị, đệ nhất chúng tôi gặp nhau nhiều hơn ở những lớp dự bị đại học. Lớp sử học đông nam sinh Mỹ rường cột của tổ quốc, nhưng thầy sử học Henry Vautreaux lại ưu chuộng tôi hơn. Hai năm liền thầy chọn tôi, miễn thi tuyển, đại diện trường đi dự thi giải sử học toàn tiểu bang, và tôi đã không phụ lòng tin tưởng của thầy. Cuối năm, một trong những điều kiện của thầy là học trò phải viết sưu tầm về một biến cố lịch sử. Tommy viết về những trận đánh lớn của chiến tranh Việt Nam, cho phóng lớn bản đồ Việt Nam lên bảng, nói thông thạo về những trận Khe Sanh, Huế, Quảng Trị, Bình Long, An Lộc, Quốc Lộ Một, Đại Lộ Kinh Hoàng. Tôi đã xúc động và xấu hổ, khi rèn luyện để hơn người về sử của người tôi đã quên mất những gì là của mình. Tommy đã học không để ganh đua, mà đã tìm hiểu cặn kẽ để thỏa mãn thắc mắc của mình.

Học chung đại học được một năm, Tommy bỏ dở, bảo muốn đi xa, nhưng tôi nghĩ anh bị rối tinh thần, đứng ở chặng đường đổ về muôn nẻo, không biết phải theo đâu. Anh vào hải quân và đồn đóng tại Nhật. Gần một năm trời thư từ cho tôi tại Nhật, bức thư cuối cùng vào tháng Mười Một anh hẹn sẽ về. Hẹn gặp lại vào tháng Giêng, anh viết. See you in January. Nhưng chúng tôi không hề gặp lại nhau, vì tôi đã rời thành phố, không để lại địa chỉ mới. Bỏ viết thư như cai nghiện. Một ngày kéo sang vài ngày, rồi đi đến tuần, đến tháng rồi cả bao nhiêu năm. Độ hai năm sau trở về thành phố cũ, tôi lật niên giám điện thoại và thấy tên Tommy đi đôi với tên phụ nữ Nhật. Thomas J. and Yoshiko Mays. Tôi vẫn mang trong lòng một thắc mắc vu vơ, gặp nhau vào tháng Giêng để làm gì nhỉ. Tommy sẽ kể tôi nghe về tình yêu bên Nhật Bản? Yoshiko có giỏi Anh ngữ đủ để hiểu những câu châm biếm rắc rối của Tommy chăng? Yoshiko là phụ nữ ngoan hiền? Tôi có thật hy vọng không, mà để làm gì khi mười mấy năm lớn lên với nhau, khi sau gần cả năm xa nhau mà vẫn giữ liên lạc, Tommy chưa hề nói gì có mang tình ý cả? Nhưng nếu không thân, sao lại thư từ , còn nếu thân sao Tommy không hề nói gì về Yoshiko cả? Tommy đã không thật như tôi đã không thật, vì chính tôi cũng chưa hề nói về việc mình sẽ đi xa.

Mười mấy năm sau, lại về ngang phố xưa, tôi lại quen tay mở niên giám điện thoại, nhưng tên bà Goldie Mays đã không còn, cùng với sự vắng tên của nhiều bậc phụ huynh ngày trước. Tên Thomas and Yoshiko Mays thì vẫn còn, bền bỉ, địa chỉ là vùng phát triển mới. Mười mấy năm rồi, mừng cho anh. Yoshiko bao nhiêu tuổi, Tommy có bao nhiêu con nhỏ và chúng học ở đâu. Những câu hỏi cho một cuộc gặp gỡ trong tưởng tượng, tôi sẽ ngồi xuống và nói chuyện thật dài với anh vì dĩ vãng cũng dài.

Tôi tìm ra địa chỉ liên mạng của Tommy trên trang website của trường. Giờ đây, không cần phải cắm cúi viết thư rồi chờ đợi nhiều ngày như trước, tôi có thể qua một nút bấm mà bắt lại liên lạc cũ. Trong lòng mang nhiều cản trở, tôi tự trách mình quá quan trọng hóa mình.

Trở về câu chuyện lúc ban đầu hộp thư mang toàn những tin buồn, một hôm, cùng với những tin buồn từ những chủ nợ, tôi nhận được thiệp hồng không mang tên người gửi, nhưng nhìn nét chữ tôi biết đây là thiệp cưới của người bạn trai cũ. Mở thiệp, tôi đọc giòng chữ quen thuộc ngắn gọn, cuối cùng thì anh cũng có vợ... như ai. Tôi cười một mình. Tưởng tượng khi nói như ai anh sẽ vếch cằm lên trời. Như ai là như ai. Tôi buồn vì lại sắp sửa tốn tiền mừng. Tôi sẽ... e-mail cho anh vì tình nghĩa cũ, chỉ để dặn vài điều dựa trên kinh nghiệm. Nhớ làm dĩa nhạc CD kỷ niệm, có hình cô dâu chú rể dắt nhau đi trên bờ biển. Trong CD nhớ thu âm bài thơ do mình sáng tác và cũng do mình phổ nhạc. Nhớ cố gắng điều khiển chương trình cưới bằng song ngữ cho người Mỹ họ hiểu, hiểu họ hàng ông bà chú bác hai họ, đây là chị dâu của em rể cô dâu. Muốn hên, nhớ cho khách ngồi đúng hướng, ăn đúng giờ, về đúng khắc. Nhớ đúng giờ lành hẵng động phòng, và lúc làm thì nên coi hướng.

Tối hôm ấy ngủ, tôi có mơ thấy hai đứa đi uống cà phê như ngày nào, và trong không khí yên lành tôi ngồi và đọc lại cho anh thư tình ngày xưa đã viết. Trong không khí yên lành, tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn. Vui vì được thấy anh, một niềm vui thanh thản, đầy đủ, nhẹ nhàng vượt cao hơn hai chữ như ai. Buồn vì rồi sẽ chẳng được thấy anh nữa. Tỉnh giấc, tôi nhận ra ngay thực tế, và mừng vì đấy chẳng qua là mơ thôi.

Phạm Thị Ngọc
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Ba 202510:05 CH(Xem: 23737)
Tôi tìm trên khóm cỏ / Tôi tìm trong tán cây / Trên tường vôi , bảng hiệu / Trên áo người qua đây
22 Tháng Ba 202512:40 SA(Xem: 26416)
Tôi có người Anh / Lâu rồi không thả hồn viết về đồng đội, những người lính trẻ / Chắc hẳn cũng quên, thời vẫy vùng ngang dọc / Thời nắm đấm vung / Khi không vui, khi giận dữ, cuộc đời! Tôi có người Anh / Từng thương tích đầy người qua chiến trận / Từng say khướt đêm dài, ngày phép ngắn, để quên đau…
20 Tháng Ba 202511:54 SA(Xem: 16841)
Giới thiệu của người dịch: "Cuốn sách này là bản dịch của một tập hợp bài viết về các nhân vật, văn học và báo chí của các cá nhân người Việt đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn thông tin phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của Miền Nam Việt Nam, cũng như sự nghiệp cá nhân trong lãnh vực nhân văn. / Những nhân vật được mô tả phần lớn đã nổi tiếng trong thời kỳ 1954 - 1975. Sau khi Miền Nam sụp đổ vào tay Bắc quân năm 1975, hầu hết trong số họ đã bị giam cầm một số năm trong các trại cải tạo cộng sản. Sau đó, vào những năm 1980, một số đã đến Hoa Kỳ và hầu hết vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo."(ERIC HENRY / Đồi Chapel, Bắc Carolina. / Viết cho Ngày 30 tháng 4 năm 2025).
18 Tháng Ba 20253:30 CH(Xem: 23602)
Hột nổ / Trong con mắt / Đồng bạc cắc / Túi lủng Cúi / Lượm / Một duyên tình / Hát vui đời / Túng quẫn /
17 Tháng Ba 20251:13 SA(Xem: 27019)
Anh muốn cầm bàn tay em / Ngồi bên chiều vừa xuống / Đợi hoàng hôn rơi trên biển xa / Ở một nơi trăng sao mềm vai nhớ
17 Tháng Ba 202512:46 SA(Xem: 26018)
Rưng rưng lệ vương khóe mắt / Tìm đâu hình bóng Mẹ xưa / Lời ru khi còn thơ trẻ / Ơi…à thương mấy cho vừa
16 Tháng Ba 202511:28 CH(Xem: 33713)
hai mươi mấy năm trước, / anh với em cứ nhìn nhau / anh kể chuyện vô duyên, / em cười / em không thích trời mưa / anh lại ưa ướt át
14 Tháng Ba 202510:12 CH(Xem: 22387)
Người ta thường ví Mèo như một người phụ nữ, bởi Mèo có vẻ nhẹ nhàng nhỏ nhẻ từ cách ăn, cách ngủ cả đến lúc Mèo gần gũi, nũng nịu bên chủ để được che chở vuốt ve. / Tôi không thích Mèo và không bao giờ có ý nghĩ là mình sẽ nuôi Mèo. Tôi cho rằng cái cách dịu dàng của Mèo như một sự dối trá ẩn sau cái ác. Bởi lẽ lúc nhỏ, tôi đã từng chứng kiến và xót đau khi cái lũ mèo nhà hàng xóm xé tan xác ăn thịt mấy con chim bồ câu nhà mình nuôi. Nửa đêm khuya khắc tôi hay bị thức giấc vì tiếng kêu, tiếng chạy đuổi nhau trên mái tôn nhà ông Lý sát cạnh nhà mình, nghe bắt rợn người. Và có lẽ vì Mèo nó có cái vẻ yểu điệu, dịu dàng tương phản với cái vẻ thô thô, cứng ngắt của tôi nên tôi ghét nó...
14 Tháng Ba 20259:07 CH(Xem: 25355)
nghiêng vai chiều lại xuống rồi / em về tả ngạn kịp trời mưa dông / đò đưa qua đó cũng gần / để anh đợi mấy trăm lần mới quen
14 Tháng Ba 20258:55 CH(Xem: 19710)
Sáng sớm hôm nay, khi mở hộp thư, nhận được tin, tôi liền điện thoại cho anh Phạm Văn Nhàn, người bạn thân với anh chị Thương – Quy. Hỏi, “Anh Nhàn ơi, anh hay tin gì chưa? Anh Lê Ký Thương đã ra đi lúc 9 giờ 50 phút sáng hôm nay 14/2/2025. Cả hai anh em đều buồn. Im lặng một lúc, anh kể mới gọi thăm anh LKT cách nay mấy tuần. Chị Quy nói chuyện rồi đưa phone qua cho anh Thương, nhưng khi đó miệng anh Thương đã cứng, không nói được gì...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3827)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13288)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19660)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18629)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1628)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1784)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2301)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2409)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1457)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2210)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1948)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1993)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1369)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2410)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2618)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2370)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 243)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 803)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 998)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1111)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6407)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15897)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32150)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38860)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1481)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6902)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10686)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9882)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10009)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10814)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3455)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11151)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10355)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi