- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Nhật ký của một hộp thư cũ

02 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 125914)


phamthingoc_hl_114

Tôi hỏi cô nhân viên mới trong sở đã nhận được ngân phiếu đầu tiên do hãng gửi qua đường bưu điện chưa. Cô trả lời chưa, nhưng cũng đã mấy hôm rồi cô chưa thăm hộp thư, và than thêm rằng hộp thư của cô chỉ mang toàn tin buồn. Đứa con gái lớn của người đàn ông cô đang chung sống đã bao nhiêu năm ở tù bây giờ vừa được tự do, viết thư xin về nhà với bố. Ở tù vì hút sách, đứa con gái có hồ sơ toan tự tử bao nhiêu lần trong và ngoài tù. Tôi mím môi gật gù. Từ một câu hỏi giản dị được xung phong ra quá nhiều chi tiết. Lần sau tôi sẽ không hỏi cô điều gì nữa, dù cô đưa ra nhận xét hơi đúng: hộp thư mang toàn những tin buồn. Những người mang gia cảnh như cô, và ở nước Mỹ này thì đấy là gia cảnh bình thường, họ không hay có máy điện tóan, và không luôn địa chỉ liên mạng. Hộp thư mang đầy những tin buồn từ chủ nợ, từ nhà trừng giới, tù ngục, bệnh viện tâm thần, những đứa con hoang, tòa án ly dị.
Trải qua bao nhiêu năm, do hệ thống e-mail trở nên thông dụng, hộp thư của tôi cũng cạn hết nguồn vui, chỉ còn lại tấm ngân phiếu lương bổng hãng gửi về mỗi hai tuần đều đặn, không sai hẹn. Đó là một thứ văn kiện tôi xem xét kỹ lưỡng mỗi đầu và giữa tháng, dù chẳng có gì khác biệt từ tấm check mới nhất và hai tuần trước đó. Hơn một thập niên sau sự xuất hiện của hộp thư liên mạng, những cánh thư cá nhân cho tôi cũng đã biến thành cổ lỗ, tuyệt chủng, mà số lượng junk mai, thư quảng cáo, vẫn không giảm bớt. Dù thế, tôi vẫn mỗi ngày vui vẻ thăm hộp thư trước nhà, vẫn như một đứa trẻ trông ngóng đón ra từ đấy một điều làm ngạc nhiên, một cánh thư mang nét chữ của một con người có thật, một nhân vật nào đó từ dĩ vãng. Dĩ vãng thời trong nhóm Thế Hệ chẳng hạn. Một hôm xuống phố, đi ngang đường cũ để nhìn thấy trụ sở Thế Hệ xưa đã bị san thành một bãi đậu xe. Trụ sở nghèo nàn tối tăm khi xưa cũng có ổ khóa, và tôi một thời đã được trao phó chùm chìa khóa riêng để tự do ra vào, lấy thư, đọc thư, trả lời thư dù chỉ là những xã giao hình thức. Trụ sở không còn, tôi thấy ngậm ngùi. Mọi sự là phù phiếm, hình như chỉ có khóc than là dai dẳng.

Trong vòng một thập niên, kỹ thuật thông tin liên lạc tiến triển đến mức vừa bàn đến một phát minh mới thì điều ấy đã thành lạc hậu. Những chiếc điện thoại cầm tay lưu động ngày càng nhỏ nhắn, hấp dẫn đến mức người ta quỵt cả tiền nhà để trả tiền điện thoại cầm tay. Những đứa làm cùng sở, đứa nào cũng pager đầy người, điện thoại lưu động inh ỏi trong sở, ngoài xe, và e-mail những khi nói chưa đủ. Phương tiện xa xỉ của liên lạc nằm trong bàn tay, nhưng tôi không chắc họ có gần nhau hơn. Tôi thấy họ, như thấy mình, là những con người ngày càng mất kiên nhẫn giữa những tiện nghi vượt bực. Nhu cầu cần phải được đáp ứng nhanh chóng, liên lạc giữa thời đại e-mail cần phải có hồi âm trong tức khắc.

Những lá thư đầu đời của tôi, cách đây cũng gần cả ba mươi năm gửi đi cho bạn bè ngày vừa đến Mỹ, phải chờ ít nhất hai tuần lễ mới có thư trả lời. Những cánh thư gửi từ Louisiana đi California, đi Texas, đi Florida, đi Canada, đi đến những địa chỉ mới của lũ trẻ đã quen nhau ngắn ngủi trong trại tị nạn. Tôi biết tên cha mẹ từng đứa, và từ đó tìm ra địa chỉ chúng nó qua tờ thông tin liên lạc hội cựu thuyền nhân, dày vài trang đánh máy được đóng gáy bằng ghim bấm. Những lá thư gửi đi cái thì được hồi âm, cái thì biệt tích, được viết giữa tâm trạng cô lập, giữa mùa đông đầu tiên trên xứ sở mới, học hết bộ English for Today vẫn chưa qua mùa đông, giữa những đêm thâu nước Mỹ im lìm không có tiếng người gọi nhau, chửi thề, ngoài xóm, không có tiếng súng như tiếng pháo sau giờ giới nghiêm, không có giọng ca cải lương éo le của anh hàng xóm điên trên sân thượng nhà bên cạnh, không ánh hỏa châu. Một màn đêm im lìm gần đến mức mất trí. Khi một trong những đứa bạn viết và kể rằng đêm đêm nó thấy bóng trắng của một con ma hiền đến nói chuyện bằng cái ngôn ngữ nó chưa hiểu, tôi viết lại rằng nó đã mất trí thật. Ngày ấy, gia đình tôi không có điện thoại, không có cả máy truyền hình, thì chỉ còn lại những thư từ. Ngày ấy, bưu phí chỉ có mười xu một con tem. Hai tuần lễ cho một chuyến đi về của thư trong nội địa không có gì lâu lắc, so với những thư từ liên lạc về Việt Nam. Thư của bố tôi từ Việt Nam phải chuyển sang Pháp hoặc sang Canada, đến lúc vào đến Mỹ thì cũng đã qua sáu tháng, và ngược lại. Thư chúc Giáng Sinh đầu tiên gửi về có lẽ bố tôi nhận vào mùa hè, kể về Giáng Sinh hơn bao giờ hết được nuôi dưỡng bởi đức tin, dù rằng những trả lời của đức tin thường mở ra thêm nhiều câu hỏi khác. Tất cả đòi hỏi thời gian, chúng tôi chỉ còn có thể chấp nhận thời gian nên nó không còn là một thách đố.

Vấn đề của tôi là tôi không thoát khỏi nỗi cô lập của mình một cách dễ dàng. Viết thư là một cách giải tỏa cô lập, nhưng cũng qua những cánh thư tôi nhìn thấy sự chậm tiến của mình trên con đường hội nhập. Một đứa bạn khác viết kể về gia đình nó gia nhập hội thánh Tin Lành tại California, sau nhiều tháng chịu ảnh hưởng truyền giáo của họ. Được báo trước ngày sinh nhật của bạn, tôi gửi cho nó chiếc vòng đeo tay bạc, lủng lẳng mười mảnh bạc vuông tí hon, mỗi bảng khắc một điều răn. Chiếc vòng của ai đó đã cho tôi vẫn còn nguyên trong hộp của nó, dù chẳng là gì nhưng tôi cũng mất thì giờ bỏ vào đó nhiều suy nghĩ, vì chẳng có gì khác để cho. Bạn tôi viết trả lời, nó thích món quà lắm, tìm mua cho nó cái nữa. Tôi đọc và hiểu ra giòng chữ, và sau đó không còn thư nó cho tôi.

Khi đứa con gái lớn của tôi nhận thiệp mời sinh nhật bạn nó gửi, tôi nhìn thấy tôi mấy mươi năm nào, mặt mũi sáng rỡ cầm phong bì có nét chữ bạn mình, viết tên mình không sai một chữ đánh vần. Nét chữ non nớt trên «lá thư thật» làm tràn nỗi sung sướng của một đứa trẻ, nó chạy biến vào nhà tắm, đóng cửa, và ngồi trú trong đó đọc thư bạn dù chúng nó vừa gặp nhau vào ban sáng ở lớp học. Hạnh phúc căn bản không hề thay đổi.

Lá thư như thiệp mời vào một vòng thân ái, con tôi sẽ không lạc lõng như tôi thuở nào.

Trong những năm từ mười ba đến mười tám, hộp thư của tôi chứa đựng những cánh thư đã được gửi thẳng từ quê hương, và các hiệu sách Việt Nam. Chỉ ngần ấy thôi cũng là thú vị. Bao nhiêu mùa hè dài như bất tận, tưởng chừng thời gian không thể đi tới, chỉ có tôi và tôi, lâu lâu lác đác những buổi họp mặt sinh hoạt thiếu niên Công Giáo của cộng đồng không hấp dẫn, «năm xưa trên cây xoài, làng Fatima xa xôi...» Cho nên thật là sung sướng khi tôi mở thùng thư để lôi ra bọc vàng bưu điện ôm kín những tiểu thuyết Mai Thảo, Duyên Anh, Túy Hồng, Từ Kế Tường, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Kim Dung, và cả Quỳnh Dao. Đọc để nối dài nỗi nhớ. Đọc để nuôi dưỡng tưởng tượng, và giấc mơ ngây thơ làm nhà văn. Giấc mơ lớn ra ngoài tuổi mười tám đưa đến một hành động táo bạo là gửi truyện ngắn đầu tay cho Mai Thảo, gửi đi và không trông chờ một hồi âm, cho đến một ngày nọ tôi nhận được thư viết tay của nhà văn, viết rằng truyện ngắn sẽ được đăng trên Văn, kèm theo mấy lời khích lệ.

Chỉ ngần ấy thôi cũng là hạnh phúc, một câu trả lời hỗ trợ cho sự mạo hiểm của tôi là đúng hướng.

Tôi liên lạc nhiều nhất với Thomas Mays vào những năm đầu đại học, đặc biệt là khi anh bỏ học để nhập ngũ. Tommy Mays tôi biết ngày còn tiểu học, và chúng tôi chung lớp từ năm đệ thất, khi tôi chọn lớp mù mờ chọn lầm phải một lớp dạy xây cất dành cho nam sinh. Tommy và tôi ở cùng một nhóm, một hôm đóng đinh tôi lỡ tay đập xuống tay Tommy một búa. Tommy từ đệ thất đến đệ nhất chỉ có cao vọt lên mà dáng người không thay đổi. Gầy gò, lưng còm, tóc quăn, hình dáng của một tên dork theo kiểu nói bây giờ. Tommy ít nói, nhưng nói thì được nghe, cho nên dù trông cù lần hắn không bao giờ bị trêu ghẹo. Tommy hình như không có bố, ở với mẹ, trong niên giám điện thoại tôi thấy tên là Goldie Mays ở đường Wyoming, khu phố sạch sẽ có những ngôi nhà xinh xắn gần nhà thờ thánh Leo. Năm đệ nhị, lớp mười một, Tommy duy nhất lái xe hơi mới tinh đi học, chiếc Sunbird màu nâu bảo thủ như cách phục sức bảo thủ cỡ Richie Cunningham của Happy Days. Vòng bạn bè là đám lực sĩ đẹp trai của trường, Tommy với dáng dấp khẳng khiu chỉ xách máy chụp hình chạy theo những trận banh cà na bách chiến bách bại của trường. Nó có vẻ bực mình khi tôi bảo nó đang phí thì giờ vô ích.

Đệ nhị, đệ nhất chúng tôi gặp nhau nhiều hơn ở những lớp dự bị đại học. Lớp sử học đông nam sinh Mỹ rường cột của tổ quốc, nhưng thầy sử học Henry Vautreaux lại ưu chuộng tôi hơn. Hai năm liền thầy chọn tôi, miễn thi tuyển, đại diện trường đi dự thi giải sử học toàn tiểu bang, và tôi đã không phụ lòng tin tưởng của thầy. Cuối năm, một trong những điều kiện của thầy là học trò phải viết sưu tầm về một biến cố lịch sử. Tommy viết về những trận đánh lớn của chiến tranh Việt Nam, cho phóng lớn bản đồ Việt Nam lên bảng, nói thông thạo về những trận Khe Sanh, Huế, Quảng Trị, Bình Long, An Lộc, Quốc Lộ Một, Đại Lộ Kinh Hoàng. Tôi đã xúc động và xấu hổ, khi rèn luyện để hơn người về sử của người tôi đã quên mất những gì là của mình. Tommy đã học không để ganh đua, mà đã tìm hiểu cặn kẽ để thỏa mãn thắc mắc của mình.

Học chung đại học được một năm, Tommy bỏ dở, bảo muốn đi xa, nhưng tôi nghĩ anh bị rối tinh thần, đứng ở chặng đường đổ về muôn nẻo, không biết phải theo đâu. Anh vào hải quân và đồn đóng tại Nhật. Gần một năm trời thư từ cho tôi tại Nhật, bức thư cuối cùng vào tháng Mười Một anh hẹn sẽ về. Hẹn gặp lại vào tháng Giêng, anh viết. See you in January. Nhưng chúng tôi không hề gặp lại nhau, vì tôi đã rời thành phố, không để lại địa chỉ mới. Bỏ viết thư như cai nghiện. Một ngày kéo sang vài ngày, rồi đi đến tuần, đến tháng rồi cả bao nhiêu năm. Độ hai năm sau trở về thành phố cũ, tôi lật niên giám điện thoại và thấy tên Tommy đi đôi với tên phụ nữ Nhật. Thomas J. and Yoshiko Mays. Tôi vẫn mang trong lòng một thắc mắc vu vơ, gặp nhau vào tháng Giêng để làm gì nhỉ. Tommy sẽ kể tôi nghe về tình yêu bên Nhật Bản? Yoshiko có giỏi Anh ngữ đủ để hiểu những câu châm biếm rắc rối của Tommy chăng? Yoshiko là phụ nữ ngoan hiền? Tôi có thật hy vọng không, mà để làm gì khi mười mấy năm lớn lên với nhau, khi sau gần cả năm xa nhau mà vẫn giữ liên lạc, Tommy chưa hề nói gì có mang tình ý cả? Nhưng nếu không thân, sao lại thư từ , còn nếu thân sao Tommy không hề nói gì về Yoshiko cả? Tommy đã không thật như tôi đã không thật, vì chính tôi cũng chưa hề nói về việc mình sẽ đi xa.

Mười mấy năm sau, lại về ngang phố xưa, tôi lại quen tay mở niên giám điện thoại, nhưng tên bà Goldie Mays đã không còn, cùng với sự vắng tên của nhiều bậc phụ huynh ngày trước. Tên Thomas and Yoshiko Mays thì vẫn còn, bền bỉ, địa chỉ là vùng phát triển mới. Mười mấy năm rồi, mừng cho anh. Yoshiko bao nhiêu tuổi, Tommy có bao nhiêu con nhỏ và chúng học ở đâu. Những câu hỏi cho một cuộc gặp gỡ trong tưởng tượng, tôi sẽ ngồi xuống và nói chuyện thật dài với anh vì dĩ vãng cũng dài.

Tôi tìm ra địa chỉ liên mạng của Tommy trên trang website của trường. Giờ đây, không cần phải cắm cúi viết thư rồi chờ đợi nhiều ngày như trước, tôi có thể qua một nút bấm mà bắt lại liên lạc cũ. Trong lòng mang nhiều cản trở, tôi tự trách mình quá quan trọng hóa mình.

Trở về câu chuyện lúc ban đầu hộp thư mang toàn những tin buồn, một hôm, cùng với những tin buồn từ những chủ nợ, tôi nhận được thiệp hồng không mang tên người gửi, nhưng nhìn nét chữ tôi biết đây là thiệp cưới của người bạn trai cũ. Mở thiệp, tôi đọc giòng chữ quen thuộc ngắn gọn, cuối cùng thì anh cũng có vợ... như ai. Tôi cười một mình. Tưởng tượng khi nói như ai anh sẽ vếch cằm lên trời. Như ai là như ai. Tôi buồn vì lại sắp sửa tốn tiền mừng. Tôi sẽ... e-mail cho anh vì tình nghĩa cũ, chỉ để dặn vài điều dựa trên kinh nghiệm. Nhớ làm dĩa nhạc CD kỷ niệm, có hình cô dâu chú rể dắt nhau đi trên bờ biển. Trong CD nhớ thu âm bài thơ do mình sáng tác và cũng do mình phổ nhạc. Nhớ cố gắng điều khiển chương trình cưới bằng song ngữ cho người Mỹ họ hiểu, hiểu họ hàng ông bà chú bác hai họ, đây là chị dâu của em rể cô dâu. Muốn hên, nhớ cho khách ngồi đúng hướng, ăn đúng giờ, về đúng khắc. Nhớ đúng giờ lành hẵng động phòng, và lúc làm thì nên coi hướng.

Tối hôm ấy ngủ, tôi có mơ thấy hai đứa đi uống cà phê như ngày nào, và trong không khí yên lành tôi ngồi và đọc lại cho anh thư tình ngày xưa đã viết. Trong không khí yên lành, tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn. Vui vì được thấy anh, một niềm vui thanh thản, đầy đủ, nhẹ nhàng vượt cao hơn hai chữ như ai. Buồn vì rồi sẽ chẳng được thấy anh nữa. Tỉnh giấc, tôi nhận ra ngay thực tế, và mừng vì đấy chẳng qua là mơ thôi.

Phạm Thị Ngọc
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 129)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 190)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 570)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 459)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 549)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1405)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1420)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1373)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1286)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1289)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10396)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17209)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16251)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16729)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 549)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1420)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1438)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2175)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 129)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 459)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1373)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1230)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 570)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1405)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1286)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1288)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 190)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3019)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2876)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3332)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2095)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13912)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30042)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36096)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11543)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13036)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2803)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3978)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3961)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4475)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5008)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8273)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7656)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10604)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.