- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Những cánh nhện đỏ ở Iwo Jima

21 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 121851)



tramhuong_hl114
Saburō Sakai


Trong suốt

Hằng đêm tôi sống trong lo sợ. Chung quanh tĩnh lặng, tối ám đến hoang mang. Gió lộng đánh phần phật trên các cánh cửa. Cứ độ giữa đêm, tiếng chân thình thịch đến từ xa, từng bước dẫm nặng nề. Tôi thu mình, rúc sát vào vách. Tôi trong suốt trong màu mực của đêm, không nhìn thấy cả chính mình. Nhưng Shuhun vẫn nhìn thấy. Khi bước chân dừng lại bên ngoài, đôi mắt hắn sáng quắc qua khe hở trên vách. Đôi mắt soi thấu chiếc chăn mỏng trên người tôi.
Trong suốt. Tôi tưởng mình trong suốt như màu mực đêm. Nhưng chỉ là tự dối mình. Tôi cố đem những ý nghĩ bình an trở về trong đầu. Trong suốt như giải mây lướt về phía Đông. Trong suốt như những cánh nhện đỏ bay về phía Đông. Đêm, chúng vẫn bay. Những ý nghĩ, mây và những cánh nhện, chúng vẫn bay. Chúng cất mình ra khỏi thực tại khi thực tại đè nén. Còn tôi, chỉ là sự dối trá ― Sự thật là Shuhun.


Song đấu

Lần gặp đầu tiên, Shuhun đã nhìn tôi như vậy. Khối bắp thịt nhễ nhại mồ hôi nhìn chòng chọc như muốn nuốt tôi ngay. Ánh mắt sắt lạnh như lưỡi gươm bén đeo bên hông quét dọc người khiến tôi rùng mình. Tôi lùi lại, theo bản năng bám chặt cánh tay Cát. Shuhun mang vẻ lầm lì, quyết liệt của một võ sĩ sẵn sàng giết hạ đối thủ trên đấu đài. Bộ quân phục kaki khác màu và đám lính đứng sau cho thấy chức quyền của hắn. Còn chúng tôi lạnh run trong quần áo sũng nước và bao tử trống trơn đã một thời gian. Bãi cát dài đầy bóng dáng lính Nhật. Bên cạnh, biển lạnh lùng xô sóng rì rào. Trên đầu chúng tôi, một vầng mây âm u vây phủ. Cả mặt trời cũng bỏ rơi chúng tôi. Hai chúng tôi chỉ còn nhau. Cát kéo tôi sát lại, sắc mặt tái hẳn, những đường gân xanh nổi lên thái dương, đấm tay nắm chặt. Nhưng anh vẫn cố dằn cơn giận dữ, cố kiểm soát không cho thân thể lao vào Shuhun, cũng vì tôi.
Vì tôi. Vì anh hiểu rất rõ mơ ước của tôi và hứa đưa tôi tìm đến. Chúng tôi cần giữ mạng sống dù bất cứ giá nào. Shuhun liếc nhìn anh khinh bỉ, như anh còn thua một hạt cát có thể làm cộm mắt. Hắn chậm chạp đi thẳng về phía tôi như anh không hiện diện, như hắn định đi xuyên qua anh để đến tôi. Cát chắn trước mặt tôi với tất cả quyết tâm che chở, với tất cả quyết tâm kháng cự bằng sức mạnh của thân thể lẫn tâm hồn.
Đôi mắt cả hai căng thẳng tuyệt độ, tuy chiếu vào đối phương nhưng không thấy nhau. Ánh mắt Cát phản chiếu tử thần và mắt Shuhun phản chiếu tôi. Tôi không thể mất Cát. Dù việc gì sắp xảy ra, tôi cũng không thể mất anh. Nhưng tôi làm được gì? Kêu cứu? Chỉ khiến anh liều lĩnh điên cuồng. Van xin? Hoàn toàn vô ích. Quân Nhật nổi tiếng sắt máu. Tôi nới lỏng cánh tay anh. Dù việc gì sắp xảy ra, tôi cũng không có cách tránh né. Chết? Không thể chết một cách vô ý nghĩa. Ước mơ bao ngày của tôi còn đang chờ đợi ở nơi xa vời. Tôi buông cánh tay anh, nhìn thẳng Shuhun. Hình như gió đang thổi mạnh hơn trên da tôi ẩm, cóng lạnh đến không còn mấy cảm giác. Hình như nước mắt đã trào ra, dù tôi cố mím môi không khóc. Thời gian sựng lại chờ mỗi chúng tôi suy nghĩ kỹ về quyết định của mình. Và như một phép lạ, Shuhun bất chợt quay người bỏ đi. Ngàn tấn nặng nhấc lên. Chúng tôi ôm chặt nhau, thiết tha cảm nhận sự sống trong vòng tay. Tuy nhiên, chúng tôi cùng biết Shuhun sẽ không buông tha tôi. Và anh sẽ luôn đứng giữa.
Tôi ngã trong tay anh. Cát vừa nhấc tôi lên cho tôi ngã vào anh. Trong khoảnh khắc buông thả dịu dàng này, những hình ảnh chao động liên tục trở về trong ký ức. Chúng tôi nương theo sông thoát ra biển tháng 4 năm 1984. Khi tôi đi, bờ sông lặng lẽ nhìn theo. Sông nhập vào biển, và biển đồng lõa lặng như tờ. Nhưng rồi giông tố đến hóa tất cả thành vô định. Đại dương bị xoá nhòa, như đại dương cũng không còn là thật. Tôi thấy mình nhắm mắt, từ chối đáy biển thẳm sâu và cách kết thúc sắp đến. Chúng tôi sẽ chìm vào sâu hút giữa những lục địa mà không ai biết. Mất tích là định mệnh của chúng tôi. Cát không nỡ xa tôi, dù là sau cái chết. Những ngón tay anh nắm giữ tay tôi không rời, nhắc nhở giữ lòng tin. Tôi nghe lời anh. Tôi luôn nghe lời anh. Chỉ có anh mới nhìn thấy giá trị nơi tôi và đốc thúc tôi đi tìm cơ hội cho chính mình. Trong những ánh mắt khác, tôi chỉ đáng được gả đi, bán đi đến bất cứ nơi nào có thể cho tôi bữa ăn. Nên tôi thà theo chiếc thuyền không định hướng. Sóng dữ tới tấp. Sóng dữ ập đến. Rồi cơn nhức vỡ đầu. Cơn buồn nôn dâng tận cổ. Tôi đè nén sự nhọc nhằn bằng cách lẩm nhẩm tên mấy trường đại học hằng mơ ước. Những ước mơ khiến tôi muốn tiếp tục sống ngay trong khoảnh khắc mà cái chết trở thành nhẹ nhàng nhất. Những ước mơ tuyệt đối mong manh mà tôi nhất quyết không bỏ rơi. Massachusetts. Harvard. Nagasaki. Tokyo. Stanford… Lúc tôi ngước mắt, gió thổi lộng vào trong khoang thuyền một mùi diêm sinh hăng hắc. Mùi của lưu huỳnh.


Trại Ngàn gió

Trong nắng sớm, khi dòng triều xuống thấp, tôi cùng phụ nữ Đại Hàn đi nhặt rong biển dọc bãi cát lài. Chúng tôi nối đuôi nhau, theo chuỗi bóng của mình trên cát, trong kỷ luật định sẵn. Thứ tự. Nhịp độ. Phương hướng. Tất cả đều đã được định sẵn.

Chúng tôi đi ngang cánh đồng mía bỏ hoang. Không khí ở đây tươm mùi mật ngọt. Những cụm hoa mía đang trong thì nở rộ mang màu cỏ khô, cũng là màu của sự chết đang chậm chạp gặm nhấm quanh thân cây. Hoa bay tất tả trong gió trước khi tàn lụi. Năm nay, cư dân đã bị dời đi trước khi Iwo Jima trở thành chiến lũy quân sự cuối cùng. Phía sau là biển Nhật Bản, là Okinawa, rồi đất Nhật.
Năm nay lại là năm 1944. Chúng tôi cố tìm hiểu mà không giải thích được vì sao chúng tôi đi ngược quá khứ, vì sao không là những trại Bidong, Palawan, Songkla, Tanga mà chúng tôi nghe nói đến trước khi ra đi, mà lại là đảo Lưu Huỳnh này? Cát giải thích có thể vì đất nước chúng tôi tụt xa với thế giới, cách thế giới bốn thập niên tiến bộ nên chúng tôi hãy còn ở năm 1944 thay vì 1984 như chúng tôi nghĩ. Hình như Cát không quan tâm lắm đến thời gian. Với anh, ra khỏi quê hương là đã đạt được một phần ước nguyện. Thời gian nào cũng vậy. Miễn có tự do và bằng công sức, anh sẽ lập được tất cả: công danh, sự nghiệp. Cát quan tâm hơn đến những đường kiếm mà anh đã học lóm được từ Saburō Sakai, một phi công tài giỏi mà chúng tôi biết qua sách vở. Điều lạ là Cát thường xuyên nhắc đến Sakai và nói Saburō Sakai nhìn giống Shuhun. Tôi chưa từng trông thấy Sakai trong trại Ngàn gió.
Qua khỏi đồng mía, chúng tôi tiếp tục đi về hướng phi đạo. Mũi đất Tobishi mỗi lúc một rậm rạp, lau mọc lan đến gần mặt nước. Vô số lô cốt nằm rải rác sau hào đất, họng súng chỉa ra từ bên trong bảo vệ bờ biển. Càng gần núi Suribachi, mùi lưu huỳnh càng nồng hơn. Trên đỉnh, lá đại kỳ hình mặt trời Asahi bay ngạo nghễ, và gió lốc lên không trung âm thanh giống tiếng kêu chói tai của loài hải âu. Họ gọi đó là gió thiêng Amatsukazé. Tôi rùng mình khi nhớ lời Cát kể: Loài hải âu ở Iwo Jima đã bị tuyệt chủng từ năm 1924.
Chúng tôi về đến trại vừa kịp chuẩn bị bữa ăn sáng gồm món súp misoshiru và cơm trắng. Rong biển được rửa sạch cát, thái nhỏ và bỏ vào nồi. Nồi nước dùng thật to nấu bằng những con cá khô nhỏ gomame sôi lăn tăn trên bếp. Tôi đã rành việc, dùng một thanh gỗ dẹp tựa chiếc đũa cả quá khổ, vừa quậy đều vừa trộn vào một lượng bột nhão làm từ đậu lên men. Từng toán lính Nhật kéo đến, chăm chăm vào hương súp nóng. Cát không thích súp nên tôi vớt rong biển phủ lên bát cơm trắng của anh. Hai chúng tôi ngồi cạnh nhau trong góc, tránh không nói chuyện, không gây chú ý. Trong tiếng chân người qua lại, thỉnh thoảng lại xen tiếng trêu ghẹo. Mây kumo. Rồi, Mây có má phúng phính maru kumo. Hoặc, áng Mây chiều yugumo. Có khi, mưa Mây amagumo. Hai chúng tôi cúi gằm xuống bát, không phản ứng gì. Tôi nhai kỹ từng miếng thức ăn, nuốt từng hạt cơm, ý thức những gì đang đánh đổi cho tương lai, ý thức sự cần thiết của nhẫn nại. Ngày định cư sẽ không xa, tôi muốn tin như vậy. Sức sống của tôi đến từ anh, từ những mẩu chuyện tương lai anh hình dung chung quanh mơ ước của tôi, giữ niềm hy vọng về phía trước. Không rõ từ năm mấy tuổi, chúng tôi đã cùng chạy khắp các cánh đồng chung quanh một gốc mận già muôn tuổi. Từ khi ấy, tôi đã rất thích nghe anh kể chuyện và anh có cả một kho tàng trong trí tưởng tượng. Anh đem linh hồn vào trong đời sống, vào mỗi sự vật chúng tôi chạm đến để tuổi thơ và tuổi trẻ của chúng tôi là một chuỗi kỷ niệm đẹp. Mỗi sự vật có liên quan đến tôi đều liên quan đến anh. Vì vậy, tôi tin anh bằng mạng sống của mình. Năm mười ba tuổi, tôi đã nói với anh: Tình yêu là gì mà nghe rất đẹp, khi lớn lên em sẽ yêu anh. Chúng tôi đã từng rủ nhau sẽ kết hôn như người lớn. Rồi thể xác chúng tôi phát triển cùng với tháng năm. Nhưng những mơ ước ấu thơ của tôi bỗng mất đi tầm quan trọng to lớn. Đổi lại, tôi khao khát tri thức, khao khát học hỏi để đạt một giá trị cho bản thân. Và Cát kiên trì như một giòng sông, đi theo giấc mơ của tôi, đưa tôi ra biển.
Trại Ngàn gió chỉ kỷ luật thép ban ngày. Vắng bóng mặt trời, đêm khuyến khích tội lỗi. Rải rác thâu đêm, xen kẽ với những bóng đen lách vào gian trại dành riêng cho phụ nữ là những tiếng dộng thình thịch của thân thể. Không một lời kêu cứu hoặc phản kháng. Không cả tiếng khóc than. Nạn nhân cam chịu trong lặng thinh tàn nhẫn. Quân Nhật đã chiếm đoạt họ, xem họ là chiến lợi phẩm. Mỗi phụ nữ được gắn cho một con số và một chỗ nằm nhất định để phục vụ về đêm. Quá khứ vĩnh viễn tách rời. Tương lai vĩnh viễn không đến. Đời gọi họ là senrihin, một thứ đồ vật tình dục. Lâu ngày, họ tin mình thật là đồ vật nên câm nín như đồ vật. Đây có phải là một cách để tìm yên bình, chấp nhận tất cả những gì đời đem đến? Bên ngoài, côn trùng ca hát, tự do, tự tại. Sự sống đồng nghĩa với linh hồn. Đồ vật chỉ có trạng thái chết. Tôi cũng không hơn họ mấy. Ở quê mình, tôi là một món hàng rẻ mạt, chạy trốn đến đây thành hàng miễn phí. Món hàng nằm trơ trơ quấn trong chiếc chăn mỏng, ai cũng có thể hưởng dụng. Có lẽ sẽ giống như bị một cái tát tai rất mạnh, tôi sẽ đau, sẽ khóc, sẽ nhục, rồi sẽ ráng quên. Chắc Cát sẽ không vì vậy mà bỏ rơi tôi. Chắc anh cũng sẽ đau như tôi, sẽ khóc trong lòng rồi sẽ ráng quên. Hoặc Cát sẽ không quên được, vì ý nguyện chiếm hữu riêng tôi quá thâm sâu, hay vì Khổng giáo trong tiềm thức anh quá thâm sâu, tôi không đoán ra. Biết đâu sẽ có lúc anh khinh khi thứ đồ vật tình dục. Và lúc ấy, tôi còn quan tâm gì khi mình đã đánh mất linh hồn, khi mình chỉ là vật chết. Trong im lặng của đêm là gào thét của khắc khoải âu lo. Vì sao tôi lại là món hàng ở chính quê hương mình? Vì sao tôi đi ngược mấy mươi năm vẫn tiếp tục là một món hàng? Trong suy nghĩ đơn giản của tôi, nguồn gốc vấn đề vẫn ở nơi quê hương. Có quê hương để làm gì nếu quê hương không bảo vệ mình, không cho mình cơ hội. Trong một ngày mệt mỏi quá độ vì thiếu ngủ triền miên, tôi đã giận lây sang anh. Tôi đã nói sẵng một hơi, những ý nghĩ không mạch lạc đan rối vào nhau: Khổng tử đã quá già nua không còn thích hợp với thời đại; phụ nữ thà bán thân chứ không xin ăn; miếng ăn chỉ giúp sống qua ngày, con người cần có tầm nhìn xa hơn vậy; tinh thần ái quốc cách Nhật Bản, đồng lòng từ trên xuống dưới cách tân toàn diện ― là điều đáng học hỏi để xây dựng một quốc gia hùng cường.
Cát im lặng. Anh nhìn xuống đất, nhìn hai đầu ngón chân cái tím bầm và gang bàn chân nứt nẻ, nhìn những vết rách trên da vì lao động trong công việc xây địa đạo. Hai mắt anh trũng sâu. Khi Cát ngửng lên, nét mặt đầy giận dữ: Nhật Bản sắp bại trận. Chúng ta biết điều này vì chúng ta từ thập niên 80 trở về đây. Học gương Nhật Bản sẽ bại trận! Tôi cãi: Nhưng chúng ta cũng biết Nhật Bản sẽ vươn lên và hùng cường trong thập niên tám mươi. Khi chúng ta ra đi, Nhật Bản là một cường quốc kinh tế. Tấm gương Nhật vẫn giá trị. Lần đầu tiên anh và tôi cãi nhau. Hai đứa buồn rũ. Có những giá trị tuyệt đối phải giữ, là cách Cát nhìn. Mỗi người phải trả một giá cho những gì mình muốn, là cách tôi nhìn. Lần đầu tiên tôi nói những lời đi ngược hết với đức tin của anh. Cát nắm lấy bàn tay tôi không nói một lời, không muốn khoảng cách tách đôi chúng tôi. Tôi để yên tay mình trong bàn tay anh quen thuộc, mắt nhìn xa xăm nơi khác.
Những cánh nhện đỏ vẫn bay. Đã qua nhiều đêm. Rồi lại nhiều đêm nữa. Những cánh nhện đỏ vẫn bay và tia mắt Shuhun vẫn tiếp tục săm soi qua vách. Ánh mắt phong tỏa chỗ tôi nằm khiến không ai dám ghé. Chỉ riêng hắn ghé, bằng tâm hồn qua ánh mắt. Từng đêm. Từng đêm, hắn dạy tôi tin cậy. Từng đêm, hắn chứng minh miễn hắn đến thì tôi sẽ bình yên. Chậm rãi, tôi học hiểu. Chậm rãi, tôi mong chờ hắn từng đêm. Chỉ cần Shuhun xuất hiện là tôi ngủ yên giấc. Shuhun chưa bao giờ cưỡng ép tôi. Thật ra, hắn thật có chỗ không tệ hay xem đây là một trò chơi mà hắn ở thế chủ động?


Những lượn triều

Iwo Jima muôn đời trầm lặng. Bãi cát ven bờ biển nằm chịu trận sự xô đẩy của những lượn triều, và đều đặn từng ngày bị đuối ngộp khi thủy triều dâng.
Vùng trời trên đỉnh Suribachi ám mờ khói đen mà tôi đoán bao gồm hỗn loạn của tro bụi và mảnh vụn. Thảm bom đã dội liên tục nhiều ngày xuống ngọn núi duy nhất che chở đảo Iwo Jima bằng phẳng, và sẽ tiếp tục đến khi quân Đồng Minh chiếm đủ ưu thế để tấn công. Chỉ là vấn đề thời gian, khi sự im lặng chết chóc trở về Suribachi, đạn khói sẽ dậy trên Iwo Jima. Anh nói lịch sử thế giới đã kể như vậy. Tôi thật bứt rứt với ý nghĩ phải chết ở đây, chúng tôi hoàn toàn không có liên quan gì với thời điểm và cuộc chiến này. Bầy nhện đỏ Akatonbo bay ngang trong tầm nhìn, chúng chập chờn giống giải lụa hoa đỏ uốn thướt tha trong không gian mù sương. Akatonbo chỉ xuất hiện trên đảo gần đây. Chúng là những cánh chuồn chuồn với đôi cánh trong suốt và thân hình đỏ lịm. Có lời đồn rằng chúng mang linh hồn của loài nhện chết đi hóa thành chuồn chuồn để bay khỏi đảo khi cần thiết. Tôi dõi mắt theo những đôi cánh nhỏ của loài côn trùng chỉ biết hút nhụy hoa, liên tưởng đến đàn kiến rủ nhau đi tha thức ăn về tổ, rồi đến loài thú dữ săn mồi. Dù là đối với loài thú hung dữ nhất, việc săn mồi cũng chỉ vì thức ăn và sinh tồn. Nhưng con người tự cho quyền hạn tàn sát lẫn nhau trong tham vọng chiến tranh, vì cái gọi là lý tưởng của một số ít người.
Bầy nhện đảo một vòng lớn rồi mất dạng. Trong trại Ngàn gió tăng dần lời đồn đãi rằng trận chiến sẽ xảy ra ngày chúng bay rời đảo. Không ai biết ngày trận chiến xảy ra cũng là bắt đầu cho đoạn kết của quân đội Thiên hoàng. Và ngày này đã được lịch sử xác định. Tất cả sẽ chìm dưới những thảm bom Hoa Kỳ. Hầu hết những gì thuộc về sự sống sẽ biến thành sự chết. Kể cả hầu hết hai mươi mốt ngàn lính trẻ tinh nhuệ cùng với tướng Kuribayashi đến đây để phòng thủ đảo. Kể cả hầu hết cỏ cây. Rồi bom nguyên tử sẽ nổ ở Hiroshima. Vấn đề là không có cách khuyên họ đầu hàng trước mà không khiến họ nghi ngờ chúng tôi làm gián điệp hoặc điên khùng. Định mệnh đã vô lý đưa chúng tôi đến đây để bị liên lụy trong sự thảm sát này, và như không cho một lối thoát. Thiếu tá Hiroyuki Agawa, chỉ huy Hiến binh Kempeitai của không đoàn chiến thuật Yokosuka tăng cường, chỉ lập lại lời hứa «khi nào thuận tiện» khi chúng tôi van nài ông giúp đỡ việc di tản về Yokohama và xin được trú ngụ ở Đông Kinh. Còn đi châu Mỹ thì «không thể nào». Giản dị là những chuyến bay rời đảo, nếu không phải để giết người, là tự sát. Họ quá bận rộn sắp xếp cái chết của phe mình và của phe đối nghịch. Còn ai nhàn rỗi để quan tâm đến sự sống của hai kẻ xa lạ như chúng tôi?
Tôi nằm uể oải trong cơn sốt bắt đầu khi trời chạng vạng tối. Ngày đến, cơn sốt lên cao hơn với sức nóng hừng hực từ nắng bên ngoài. Khó chịu nhất là độ ẩm trong không khí khiến tôi ướt mồ hôi và cổ họng khô rát. Có lẽ giờ này anh đang làm việc ngoài biển. Nghĩ đến nước khiến tôi thấy mát. Giòng sông quê tôi luôn mát rượi. Anh và tôi thường lội qua khúc sông ngắn, rồi nhảy lên bờ thi nhau chạy đến gốc mận già. Tôi nuốt nước miếng, thèm những quả mận ngọt, sẵn nước. Giọt mồ hôi chảy vào môi mằn mặn. Tôi cố dỗ giấc ngủ để trở về gốc mận. Tôi sẽ thấy dễ chịu hơn nếu có anh bên cạnh. Ở trên tàu, tôi đã bị sốt như vậy. Anh đắp khăn mát lên trán và cổ cho tôi. Chiếc khăn nhúng nước biển còn lẫn những hạt sương mai. Hay anh đã hong khăn ướt trong gió mát. Hãy nằm yên để anh lấy đi cơn sốt. Anh đã nói vậy và tôi đã khỏe ra. Tôi thấy nhớ Cát nhiều. Thôi tôi không mơ nữa, muốn dậy đi tìm anh. Nhưng giấc mơ không ngưng, chiếc khăn mềm mại di chuyển trên trán, hơi mát truyền xuống cổ. Tôi cố mở mắt. Vài hình thù hiện ra mờ ảo. Một người đang cúi sát bên, nhưng không phải là vóc dáng của anh. Và chiếc khăn không ngừng di chuyển, và hơi mát trở thành hơi thở nóng đốt. Tôi bật dậy, lùi xa.
Đôi mắt Shuhun không rời thân thể tôi, ánh mắt đờ đẫn của người mất trí. Tôi tuyệt vọng như chưa bao giờ tuyệt vọng. Ánh mắt lẽ ra trông chừng, đang tấn công tôi. Shuhun rướn người chồm lên như một con thú sẵn sàng xé toạt con mồi. Hắn sẽ nghiền nát tôi thành thứ đồ vật chết. Tôi không cam lòng. Shuhun là niềm hy vọng duy nhất, tôi muốn tin hắn thật sự có chỗ không tệ. Tôi muốn đánh cuộc rằng khi không mất trí thì hắn thật sự không tệ, sẽ không cưỡng ép người khác, như hắn chưa bao giờ cưỡng ép tôi. Lối thoát duy nhất, nếu có, là đánh thức lương tâm của Shuhun. Tôi chạy vụt ra khỏi cửa về phía biển. Gió lồng lộng dậy những hạt cát khô bay khắp nơi. Cát nói tôi gầy đi, có thể bay bổng trong gió. Tiếng chân thình thịch chạy theo sau như tôi đã đoán. Tôi đánh cuộc rằng Shuhun sẽ cứu tôi. Nếu bị thua, tôi sẽ mất hết, từ linh hồn đến thể xác. Tôi lo không thể nói lời từ biệt với anh. Tôi không định chết nhưng kết quả không luôn nằm trong sự sắp đặt của mình. Nước xanh hiện ra trước mắt. Tôi chạy như đã từng chạy cho Cát đuổi bắt. Đã sắp đến bờ sông, mau mau để Cát không bắt kịp. Rồi đất ẩm. Rồi nước vướng chân. Tôi trượt người vào lòng nước, nhắm mắt, buông trôi. Cơn sốt biến mất tự lúc nào. Tôi thấy mình trong lòng sông cũ, giòng nước bất ngờ siết mạnh, cuốn tôi đi trong hạnh phúc tuổi thơ, cảm giác của những ngày vô tư ùa về, cảm giác bình yên mà đã từ lâu không đến. Một cánh tay to ôm ngang người và kéo tôi trở lại.
Mấy hôm sau, Shuhun mất đi sự hung tợn hằng ngày, không to tiếng la mắng hay đánh đập thuộc hạ. Khi gặp tôi, hắn không đến gần, chỉ quan sát từ xa. Cát nhạy bén, nhìn ra điều bất thường. Anh vốn căm ghét Shuhun và những tên lính Nhật thường nhìn tôi thèm muốn. Họ là những mụn nhọt mưng mủ mà anh không thể trừ khử hoặc tránh né. Anh chán ghét sự bất lực phải nương tựa vào người khác. Nhưng anh làm được gì ngoài chờ đợi. Trí óc anh đầy những phương trình không sao giải ra. Sự phẫn nộ bao lần dâng lên rồi lại nén xuống. Đến khi anh biết có thể mất tôi, cảm giác vỡ bờ. Cát lao vào Shuhun, như cuộc đời không còn đáng sống.
Tôi không thấy Shuhun ngã, chỉ thấy những đấm tay và chân đá quất trên thân thể của Cát. Tôi không nghe Cát kêu, chỉ nghe tiếng bật khóc của mình. Đừng!Teishi! Shuhun mang gương mặt của kẻ sắp giết người, tay sờ lên đốc gươm. Tôi lại nghe tiếng mình thét: Shuhun! Yamete! Tất cả phản ứng xảy ra trong chớp mắt, hoàn toàn bằng bản năng, ý thức còn đang ngộp trong cú sốc. Lưỡi kiếm katana lạnh lùng vừa tuốt sáng đã dừng lại. Nước mắt tôi làm dịu lòng Shuhun, tôi đã kiểm chứng được. Trong lúc hắn còn bần thần, tôi nắm lấy Cát, lôi anh chạy.
Chúng tôi băng qua nhiều vùng đất, chân dẫm lên nước mắt của mình, tủi nhục bám gót. Rồi các vệt nước mắt cũng khô dần. Cuối cùng chỉ còn lại trận nắng thở bừng bừng trên đất mọc lan các nhánh rong. Bất chợt, Cát dừng lại và hôn tôi mạnh bạo. Anh chụp lấy cằm không cho tôi cưỡng. Anh ôm ghì làm tôi ngã. Anh chưa bao giờ mạnh bạo với tôi như vậy. Chúng tôi ngã sõng soài xuống nền cát ướt trên đám rêu nhuyển ẩm và tanh. Thân thể anh nặng trên tôi và vòng tay anh quấn siết thành xiềng xích muốn vĩnh viễn khoá tôi lại. Tôi choáng ngộp trong sự tham lam dồn dập. Toàn thân thấy đau nhưng tôi không than; tôi muốn chia sẻ nỗi đau đang tràn ngập tâm hồn anh. Tôi ôm lấy Cát. Ôm lấy những giọt mồ hôi từ cơ thể hâm hấp của anh. Ôm lấy vết máu từ thương tích của anh. Máu vẫn còn tươi. Anh vẫn sống. Khát khao chiếm hữu dâng lên trong anh. Trong tôi. Từng lớp đè nén trong nhiều thời gian tróc lên tựa những lớp sơn cũ, đang tróc vỏ. Hai chúng tôi muốn vùi vào nhau, muốn dụi thân thể chúng tôi vào nhau, vào những nơi chưa từng biết đến. Chúng tôi muốn chạm. Muốn cùng đi qua.
Bất chợt, anh trượt khỏi tôi, vật người trên cát, nét mặt đầy mâu thuẫn. Có lẽ lằn mức đã định khiến anh không yên, như bao nhiêu lần trước chúng tôi đã vạch mức, đã đồng ý để dành nhau cho đêm tân hôn. Đêm tân hôn chưa chắc sẽ bao giờ đến. Ngay lúc này tôi muốn thuộc về anh. Lúc này, khi tôi còn cơ hội trải nghiệm với người đàn ông tôi yêu những khám phá đầu tiên. Lúc này, trước khi tôi cần làm những quyết định táo bạo ngược lại với ý muốn của anh. Tôi nhẹ nhàng xoay cằm Cát, rồi hôn đắm đuối môi anh, áp làn da trên lồng ngực âm vang nhịp sống của cả hai chúng tôi, và bằng những ngón tay trả lại anh những ngất ngây anh đã cho tôi. Những lượn sóng tiếp tục dập vào ghềnh đá làm tung nước lên bãi cát chỗ chúng tôi nằm. Nước vẫn mát lạnh dưới mặt trời gắt gỏng. Nước mát nhắc nhở nơi nào đó trong vùng biển lân cận một chiếc tàu sẽ cập bến để đưa những quân nhân bị thương về quân cảng Sasebo chữa trị. Sasebo cách Đông Kinh không xa. Chỉ cần được phép lên tàu, chúng tôi sẽ thoát khỏi nơi này. Nhưng không ai biết chắc ngày mai sẽ ra sao, ngay cả chúng tôi là những người trở về từ tương lai.


Lô cốt 23

Hình ảnh của Shuhun thường đến trong âm thanh ào ạt của biển vào buổi trưa. Tôi còn cảm giác được cánh tay của hắn cương quyết giành tôi lại từ cơn sóng dữ. Sau những giằng co, biển đã nhượng bộ trả chúng tôi về bờ. Vẫn còn sặc sụa và không một lời cám ơn, tôi đã ném cho hắn một cái nhìn quyết liệt trước khi chạy đi. Không một dấu hiệu rượt đuổi, chỉ có tiếng gào của Shuhun: Kumo! Tiếng gào của hắn kéo dài, vang vào cơn rít não nuột của gió, bắt kịp những bước chân xa lánh của tôi, và níu kéo. Kumo! Hắn lại gào. Không biết vì sao chân tôi chậm bước, rồi như không thể tự kiểm soát, đầu quay lại nhìn về hướng Shuhun. Hắn vẫn đứng đó như khối đồng vụt rũ rượi, hụt hơi, tróc hết sắt thép, chỉ còn vóc dáng xương thịt, gương mặt đầy xúc động. Tôi ngỡ ngàng nhận ra tình cảm này, sự đau lòng khi suýt mất một người thân yêu. Có lẽ hắn, cũng như tôi, bàng hoàng với những cảm xúc của chính hắn vừa được khám phá. Sau lưng Shuhun, nắng tung rạng rỡ màu bạc trên trăm con sóng. Trăm sóng bạc mạnh mẽ đánh tấp nập vào bờ, bọt sóng để lại những viên thủy tinh óng ánh trên bãi cát đen dài. Thiên nhiên hào phóng trao tặng điều đẹp đẽ trong lúc bất ngờ nhất. Gió vương vất âm thanh Kumo tựa một lời hứa của Shuhun sẽ bảo vệ mạng sống của tôi ― của anh và tôi.
Đêm. Mây và những cánh nhện đỏ vẫn bay. Tôi là Mây. Bằng những ý nghĩ trong suốt, tôi bay về hướng Đông, nơi tôi muốn đến. Tôi là Kumo. Bằng những ý nghĩ bình an tự tạo, tôi thuyết phục mình tiếp tục đi đến lô cốt nữa, rồi lô cốt nữa, và cuối cùng dừng lại ở số 23, nơi tôi cần đến. Khuất sau cây cỏ, lô cốt 23 nhô lên khỏi mặt đất độ chừng nửa thước. Khung châu mai dài hẹp nhìn ra biển. Bên trong là một căn hầm lạnh tanh, sâu dưới mặt đất. Ánh sáng màu đồng phát ra từ chiếc lồng đèn rantan treo trong góc, chập chờn treo ngọn lửa lung linh. Khi tôi bước vào, Shuhun đã chờ sẵn. Hắn ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu rộng, giữ nét mặt thâm trầm và phong thái uy nghi của một samurai. Trước mặt hắn là một khay gỗ đựng bầu rượu tokkuri bằng sa thạch lục đỏ và hai ly tròn ochoko. Trên bầu rượu vẽ đôi cánh nhện đỏ. Vài sợi khói len ra từ miệng bình, tỏa hương saké ngây ngây mùi gạo ủ. Tôi ngập ngừng đi về chỗ ngồi đối diện Shuhun, nơi đã đặt sẵn một chiếc kimono xếp ngay ngắn, và quỳ xuống. Shuhun giữ nguyên thái độ, dõi theo tôi bằng ánh mắt của một con thú dữ rình mồi. Tôi hiểu mình muốn gì và cần trả giá gì. Ít ra, sự hứng thú của Shuhun sẽ khiến những tên lính Nhật biết lánh né. Hình ảnh của đám lính thô tục khiến tôi nhợn trong cổ. Tôi cột cao mái tóc chấm vai, xoắn đuôi tóc thành búi tròn, và dùng chiếc đũa xuyên ngang để ghim lại. Vài lọn tóc ngắn rơi lại xuống má. Bằng tất cả cố gắng, tôi ngăn được sự căng thẳng lộ qua nét mặt mình. Nhưng tôi không ngăn được quả tim đập mạnh, đập nhanh. Một khoảng cách nào đó xuất hiện giữa tâm hồn và lý trí. Tâm hồn chống đối phản bội Cát, phản bội mấy nghìn năm Khổng giáo. Lý trí phân giải làm geisha của riêng Shuhun vẫn hơn làm trò chơi cho thiên hạ. Thật ra, tôi không có tài làm geisha. Tôi không biết đàn, không biết ca múa, không biết uống rượu. Nhưng tôi có khả năng bán những giấc chiêm bao, để đưa Shuhun vào thế giới huyền ảo. Bản năng của người đàn bà sẽ dạy tôi từng bước một. Tôi đứng lên quay lưng về phía Shuhun. Không gian chợt lắng như không còn một hơi thở nào, dù là hơi thở của người hay của gió. Tôi chậm rãi mở từng nút áo. Đêm nay, tôi phải tạm quên thực tại, quên mình là ai, quên tôi có người yêu và không ai nhục nhã vì tôi. Đêm nay, tôi là một đám mây huyễn mộng chứa sắc cầu vồng. Đám mây treo trên cao để người không với đến nhưng vẫn khiến người chìm đắm. Khi tôi trút xuống bộ áo vải thô trên mình, đầu óc tỉnh táo lạ lùng. Giống bông vụ đã ném xuống, và vòng xoay đang bắt đầu, không còn gì suy nghĩ, chỉ xoay. Tôi rũ tung chiếc áo kimono. Mảnh lụa phất lên một nền trời thiên thanh ngập những nhành hoa anh đào đỏ thắm mềm mại giăng quanh người tôi. Chúng quấn lấy hai đùi, thắt chặt nơi eo, và trổ những nụ e ấp quanh bầu ngực. Tôi và chiếc áo lụa đem mùa xuân lộng lẫy đến căn hầm đá lạnh. Gió rú lên vì chúng tôi, cả chiếc lồng đèn cũng chao động khiến căn hầm ngả nghiêng như đang treo giữa trời, một chiếc bóng đổ trên tường và một đôi tay dịu dàng quấn chiếc thắt lưng đỏ quanh eo tôi, áp sát gù kimono vào trũng lưng. Shuhun đã đến trước mặt. Thân người hắn vạm vỡ như một bức tường kiên cố, áp đảo và vây hãm. Thứ tường bít kín thân thể một người đàn bà. Tôi nhìn vào đôi mắt đang di chuyển khắp người mình. Đôi mắt lộ vẻ hài lòng.
Tôi nghiêng bầu rượu tokkuri bằng hai tay như Shuhun dạy. Giòng nước trong suốt rơi êm ả vào ly ochoko trên tay hắn. Bằng cử chỉ lịch sự và trước ánh mắt ngạc nhiên của tôi, hắn rót rượu lại cho tôi. Shuhun dạy đảo tròn ly ochoko để hương rượu xông vào mũi, thưởng thức trước tiên qua khứu giác, rồi mới nhấp từng chút rượu một. Rượu saké ấm thật khác xa với rượu nếp than mà mẹ thường làm. Vẫn là hương gạo ủ thơm nhưng thật khó uống. Vài giọt đầu tiên khiến tôi hụt hẫng, đầu lưỡi không nếm được một chút nào của vị ngọt mà bộ não chờ đợi. Những giọt sau nối tiếp những giọt sau. Hai má tôi nóng ran. Những tiếng động chung quanh nhỏ dần, đến một lúc nào đó, chúng âm vang như đến từ hư vô. Không gian ấm áp, nhẹ tênh như một giấc mơ. Lòng tôi hết lo âu căng thẳng. Shuhun uống cạn từng ly, quan sát tỉ mỉ từng biến đổi trên tôi. Tôi biết mình đang say, thân thể đang tê dại, lý trí đang u mê, tâm hồn đang buông thả. Tôi là Kumo. Còn Shuhun là lượn triều đang dâng. Tôi ngắm hắn. Người đàn ông trước mặt dáng vẻ đáng sợ, nhưng hắn chưa bao giờ hại mà trái lại đã cứu tôi. Biết đâu hắn sẽ chịu giúp Cát và tôi về quân cảng Sasebo. Nghĩ đến Cát, tôi thấy nhớ anh, nhớ cảm giác đê mê bên ghềnh đá. Anh nói rằng tôi gợi cảm khi đôi má đỏ au và đôi mắt long lanh, rằng ý thức thân thể khác phái của anh đến từ thân thể tôi. Tôi mỉm cười ngây ngô với ký ức mới tinh.
Shuhun hân hoan như tưởng cuối cùng tôi đã dành nụ cười cho hắn, và nhìn hắn bằng đôi mắt long lanh. Hắn ra dấu cho tôi ngồi yên, rồi với tay nới rộng cổ áo kimono, để lộ nửa bờ vai. Tôi co người khi bàn tay Shuhun chạm qua làn vải. Những chấm tàn nhang nhạt trên vai tôi cũng co mình, ẩn sâu vào da. Tôi phân vân chưa biết phản ứng tiếp ra sao, hình như đầu óc chậm chạp hẳn và tay chân không nghe sự kiểm soát. Nhưng Shuhun đã ngồi lại chỗ. Ánh mắt hắn chập chùng say mê, như đang ngắm thưởng món đồ ưa thích. Rồi, hắn cất tiếng hát. Tiếng hát điệu đám ma, chậm và âm thấp gần như gầm gừ trong miệng với phát âm khó khăn cho từng chữ, mỗi chữ phải phát ra trong không gian rồi rơi xuống nặng nề. Tôi không hiểu lời nhạc, nhưng liên tưởng đến âm hướng hồn tử sĩ khi lính Nhật thả xác đồng đội xuống biển. Giòng rượu tiếp tục trôi êm ả từ tay Shuhun, vào ly của ai, tôi không còn phân biệt được. Tôi tựa người vào cánh tay chống xuống đất để giữ thăng bằng. Cảm giác lao đao thật ngộ nghĩnh. Trong khoảnh khắc mất thăng bằng, mình nghi vấn ý nghĩa của thăng bằng. Sao mình phải cố gắng làm người đứng vững? Sao mình không thể nghiêng ngửa tùy hứng thú? Và Shuhun có gì đáng sợ? Hắn là một samurai văn võ song toàn, có tinh thần ái quốc, có phong độ, dũng cảm... Và hắn còn là một geisha không tệ, vừa biết tiếp rượu vừa biết hát giúp vui. Tôi bật cười với ý nghĩ tinh nghịch. Shuhun thoáng chút không hiểu nhưng vẫn cười theo. Hắn đổi giọng hát vui tươi, ánh mắt sáng tinh. Có lẽ tôi trông xốc xếch, lả lơi. Có lẽ quê tôi sẽ cho rằng tôi đĩ thõa. Nhưng biết làm gì hơn khi tôi đến từ một nơi mà từ đàn ông đến đàn bà đều bị cưỡng hiếp, bị tước đoạt tự trọng. Phải, tôi đĩ thõa, để tìm một cách sinh tồn có giá trị hơn. Tôi đã tự mắng, mà không thấy buồn. Tôi chợt vui, không vì lý do gì. Chỉ vì tôi nhớ cảm giác vui, nên tôi vui. Tôi bạo dạn với tay sang định kéo cổ áo Shuhun, ai bảo hắn kéo cổ áo tôi. Nhưng cánh tay với không đến, thân người tôi đổ xuống chiếu, những cánh nhện đỏ bay nhởn nhơ ra từ sa thạch lục đỏ, căn hầm quay tròn theo chiếc lồng đèn rantan, tôi là Mây, mây bay trên trời nên tôi gần sao, những vì sao lấp lánh trên trần hầm. Tôi ư a hát theo Shuhun. Tiếng hát của hắn mỗi lúc càng thắm thiết làm tan cả ánh trăng bên ngoài khung châu mai. Và trời tối sầm. Rồi mưa bão rơi. Mưa, nhưng những cánh nhện vẫn bay. Những chiếc cánh trong suốt đã biến mất chỉ còn lại thân mình đỏ chơi vơi, nhưng chúng vẫn gắng bay ra khỏi Iwo Jima. Bay. Không ngừng… Tôi gọi Cát cùng bay theo bầy nhện đỏ về Đông Kinh. Tôi gọi Shuhun giúp chúng tôi đi Sasebo, phải là cả hai. Không ai trả lời. Tôi gượng người dậy, nhưng không nhấc gì lên nổi. Hơi lạnh từ đất xông thấm qua lưng. Cảm giác đảo lộn trong bao tử. Thật khó chịu. Tôi muốn vùng vẫy, muốn thoát ra khỏi hình ảnh trụy lạc này, muốn bạt tai tên Nhật đã dám kéo cổ áo mình, muốn thoát ra khỏi số mạng khắt khe. Nhưng tôi có sức lực gì mà vùng vẫy. Chỉ mấy ly saké quái ác cũng đủ đè chân tay tôi lại. Chỉ với hai cánh, con nhện đỏ cũng có khả năng tự vệ hơn tôi. Tôi. Món hàng miễn phí. Mưa vẫn đổ ở ngoài. Mưa còn đổ trong lòng tôi. Trong những chập chờn vây quanh, thật là đâu và giả là đâu?
 Banzaï, Kumo! Kampaï, Kumo! Giọng Shuhun mê man chìm đắm. Banzaï! Kampaï! Hắn vẫn muốn tiếp tục uống, tiếp tục say sưa, không muốn ra khỏi giấc chiêm bao. Kumo! Kampaï!


Mặt trời đỏ

Khi tôi thức tỉnh, nắng đã đem hơi ấm tràn ngập căn hầm. Giá lạnh của trận mưa khuya chỉ là một cảm giác đã qua. Không thể chối rằng cảm giác phụ thuộc vào thời gian. Tại thời điểm này đây, tâm hồn tôi như bầu trời đen tối bị những sét đánh chéo nhau làm rối loạn. Tôi nhìn quanh. Những thứ đã tạo nên khung cảnh lãng mạn bây giờ nằm trơ trẽn trong ánh nắng. Lồng đèn rantan đã tắt lịm. Khay rượu đổ kềnh lây lất. Áo kimono bó cứng người. Ánh mắt tôi dừng sững trên gói bạc «học bổng» của Shuhun để lại, nghe âm vang lời chúc của một người sắp chết mong tôi thành đạt trong cuộc sống.
Sống một kiếp người mới. Tôi nên thấy hân hoan rộn ràng, khoe với bầy nhện đỏ rằng tôi không cần đôi cánh nhỏ. Tôi có thể bay. Bay về phía Đông của bình minh và hy vọng. Shuhun đã hứa giúp Cát và tôi rời Iwo Jima. Chúng tôi sẽ theo chuyến phi cơ tải thương cuối cùng đi Sasebo. Tôi muốn vùng dậy chạy đi tìm Cát để báo tin mừng. Đầu óc hối thúc nhưng thân thể không rời nan chiếu. Cảm giác mừng vui không tràn ngập trái tim. Làm sao biện bạch với Cát tôi đã làm geisha cho một đêm trăng hoa. Làm sao giải thích với chính mình nỗi vui mừng không đến. Tôi thoáng nhận ra mình không còn giản dị như áng mây bay qua những triền đồi tuổi thơ trong vô tư của thoai thoải phẳng lặng.
Phẳng lặng có bao giờ trở lại trong lòng tôi. Hồi còi báo động tập họp xoáy hai bên màn tang làm nhức nhối hơn cơn đau đầu. Thời gian lại đi thêm một nấc, kéo lê theo giọng đám ma của quốc thiều Kimigayo. Tôi như trông thấy xác người lính bị ném xuống biển. Phía Đông sẽ nằm sau lưng Shuhun khi hắn cúi gập người trên bãi cát hướng về phía Tây. Phía của vịnh Leyte. Tin thảm bại vịnh Leyte đổ ập xuống, và từ đó, Iwo Jima như con thú vật vã trước cái chết. Hồi còi trưa nay phải vì Shuhun. Tôi muốn vùng chạy vào trại Ngàn gió, đến trước đám chỉ huy đang hân hoan nhìn Shuhun như một công cụ tuyên truyền lòng ái quốc, hất đổ những ly rượu qua loa vinh danh sự hy sinh. Tôi muốn trông thấy hắn lần cuối, để lập lại những lời đã nói không thành câu trong cơn say đêm qua. Tôi muốn thét Shuhun hãy về Đông Kinh! Hãy về cùng Sakai! Dù lòng tôi hiểu rõ quân nhân chỉ có thể rời đảo bằng lệnh thuyên chuyển. Tôi muốn gào Shuhun đừng chết! Nhưng lòng quyết tâm của hắn sẽ chối từ tôi. Không còn phi cơ khu trục để Shuhun làm ngọn gió thần. Thần phong chấm dứt. Tự vẫn, là cách chứng minh hoàn thành sứ mệnh phụng sự Thiên hoàng. Tình yêu của hắn, dù là đối với đất nước hoặc một áng mây, đều chỉ một chiều, không đòi hồi báo. Nên món nợ chỉ mình tôi mang. Và thời gian tiếp tục đi những nấc. Và buổi lễ tiễn đưa tiếp tục tiến hành. Và cảm giác ở mỗi nấc gắn liền với nỗi đau thân thể của Shuhun. Cho đến lúc nỗi đau quá sức chịu đựng, tôi tìm quên bằng trí tưởng, trôi theo dấu vết lương tâm đối diện với món nợ của mình. Shuhun hiện ra trong nguyên vẹn con người. Bao lần ánh mắt in trên vách. Bao lần hắn đứng lặng nhìn theo. Cánh tay giành tôi lại từ sóng dữ. Món tiền tử lãnh trước. Làm sao giải thích tôi vay mượn quá nhiều mà không trả. Làm sao giải thích sự níu kéo này, đối với một người tự chọn cái chết. Tình cảm của con người như một gốc cây tẻ nhiều rễ róc.
Tâm tư tôi xám đặc cơn giông trên bãi cát Shuhun nằm chết. Gió run rẩy trên vết dao rọc ngang mở toang bụng, ruột đổ ra ngoài. Vết dao biện bạch lòng ái quốc. Thân thể hắn đã cạn, xanh mét, máu đã trào hết ra lênh láng trên cát, máu nóng không đông vì nhiệt huyết chưa muốn dứt. Tôi nghe vết dao đâm thẳng, tuy máu không chảy và nước mắt không rơi, bao nhiêu sức lực dồn vào tiếng nấc nuốt ngược vào trong. Nỗi đau câm lặng mới xứng đáng để chào biệt Shuhun. Mặt trời đỏ xuống dần. Sắc đỏ loang ra biển rồi theo sóng tràn vào bờ đọng trên cát.

tramhuong_2__hl114Con đường đi Sasebo trải bằng mây, lớp mây trông êm ái như đệm bông gòn dầy đặc. Tất cả những đe dọa chết chóc vụt biến mất, như Iwo Jima không tồn tại bên dưới những làn mây. Cảm giác như trôi trong giòng sông, nhưng lại không phải là giòng sông cũ, hình như tôi đã trưởng thành hơn. Cát đã không tin khi tôi kể cho anh nghe về những nấc thời gian và những cảm giác tạm bợ của chúng. Tình yêu và lòng ái quốc trong thâm tâm anh chưa hề thay đổi. Với tôi, tình yêu không gói trọn trong cảm giác. Tuyệt đối không. Tôi muốn anh hiểu tình yêu của tôi đối với anh và quê hương vẫn nguyên vẹn. Ra đi, không vì đánh mất lòng ái quốc, ai mà không yêu nước. Ra đi, vì đánh mất niềm tin, trong ý nghĩa của thiếu sót sự tín nhiệm làm nền tảng trung thành. Làm sao trung thành với một hệ thống bất tín.
Cơn giông xám đặc không rời khỏi tôi. Có khi tôi nguyền rủa những kẻ đã lợi dụng Shuhun. Tuy lòng tôi hiểu đúng hay sai là tùy mình nhìn từ góc nào. Lý trí cứng rắn hơn, cho rằng kết quả cuối cùng biện minh cho phương tiện. Sự hùng mạnh của Nhật Bản chứng minh Shuhun có lý lẽ riêng khi tín nhiệm vào những giá trị của danh dự và một mực trung thành với Nhật hoàng. Còn chúng tôi? Vẫn là những thuyền nhân. Những thành đạt dùng để đóng góp và trả nợ ân tình của nơi chứa chấp. Chúng tôi gặp nhau ngắn ngủi rồi chia tay, mỗi người theo định mệnh của chính mình. Shuhun và mặt trời đỏ của hắn, còn chúng tôi mang thân phận của những cánh nhện đỏ không ngừng bay.

Trầm Hương
24 tháng 5-2011

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 122593)
... T ừ phòng tắm bước ra, nàng ngây người nhìn tôi phì phèo điếu thuốc lá, buồn cười thật anh nhỉ, lúc trên ôtô em cứ buồn ngủ rũ ra, chỉ muốn nhanh chóng đến nơi thuê nhà, đến đây lại tỉnh như sáo? Tôi lặng lẽ đốt thuốc. Mỉm cười nhưng không bắt chuyện.
01 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 122028)
M áy bay hạ cánh ở phi trường Liên Khương, trời Đà Lạt mát lạnh với buổi sáng sớm còn mờ hơi sương. Người đàn ông ngồi bên cạnh trên máy bay hẹn tôi sẽ lấy vé. Rồi anh biến mất trong dòng người. Tôi điện thoại cho Hà đến đón, xe honda 100 phân khối Hà phóng như bay trên con đường lộng gió, hai bên đồi thông bạt ngàn, hoa dã quỳ vàng rực rỡ.
26 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 147298)
L ẩn quẩn từ một buổi chiều nơi ranh giới của giọt nước nào rất mỏng cơn mưa hối hả sau ngày oi nồng đầu hạ cố làm dịu những cồn cào nơi ngực về một hoang tưởng không tên phập phồng thở
26 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 103518)
H ải quân Hoàng gia Nhật dạy cho tôi một nghề nghiệp duy nhất: Phi công khu trục. Hủy diệt những kẻ thù của tổ quốc, bay và bắn. Tôi đã sống như vậy suốt 5 năm, trên những vùng trời Trung Hoa và Thái Bình dương. Tôi không biết đến đời sống nào khác ngoài đời sống của người lính.
26 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 90448)
N hư mọi người đều biết, Victor Hugo (1802-1885) vừa là nhà thơ trữ tình và châm biếm vừa là kịch tác gia cách tân vừa là nhà văn xã hội Pháp thế kỉ XIX rất ư năng động và sung sức, có nhiều tác phẩm đủ ba thể loại đó để đời. Chẳng hạn, chỉ cần nhắc tới cuốn truyện đầm đià nước mắt Les Misérables (Những kẻ khốn nạn – 1862) (1) là ít ai quên, đặc biệt ở Việt nam...
26 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 123075)
Đ êm úp mặt vào vách, tôi nhớ đến người con gái trên chiếc thuyền nan. Dưới ánh trăng thân thể nàng trắng ngần như tượng sứ. Trong giấc ngủ chập chờn, đôi tay nàng vẫn đều đều khỏa nước, khỏa lấp cả sự day dứt trong tôi. Tôi thấy cả nàng và tôi đều đứng ngoài trò chơi ấy, nàng ngồi bên tôi ngắm những cụm cỏ xanh um buồn bã...
26 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 147841)
C ần gì phải viện dẫn đến những lời chứng dối Khi đám đông nghe bài giảng trên núi chẳng chút động tâm Khi quân gian đem gươm giáo bắt thầy mình như bắt kẻ cướp Thì những lời chứng dối cũng chẳng ăn thua gì
25 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 130128)
Lời giới thiệu: Bài “Giã Từ Trung Quốc” được dịch từ bản Anh ngữ tựa là “Walking Out on China”(do Wen Huang dịch từ tiếng Trung Hoa) của nhà văn đối kháng Trung Hoa, Liao Yiwu, xuất bản trên The New York Times số ra ngày 15 tháng 9, 2011. Ông Liao, tên Hán Việt là Liêu Diệc Vũ, cũng còn được biết tới dưới tên Lao Wei, sinh năm 1958 tại tỉnh Sichuan, đúng vào năm Mao trạch Động phát động chiến dịch Một Bước Nhẩy Vọt đã đưa cả nước vào nạn đói trầm trọng...
22 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 120249)
C ơn mưa bất chợt ập xuống phi trường vào chủ nhật của tuần lễ thứ ba trong tháng sáu. Tôi là người hành khách cuối cùng ra khỏi chuyến bay từ Paris trở về trong đêm hôm ấy. Không biết là mình đã ngủ vùi đến mấy ngày. Nhưng khi tỉnh dậy nhìn kim đồng hồ đã ba giờ sáng.
22 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 147454)
L ần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh quê ở Nha Trang, sinh ở Hà Nội. Tốt nghiệp Cử Nhân Luật, khóa cuối cùng của Đại học Luật Khoa Sài Gòn, tháng 12-1974. Có nhiều thi phẩm đã xuất bản từ 1991 đến 2009 tại Việt Nam. Hiện sống và làm việc tại Hoa Kỳ. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu những bài thơ của Nguyễn Thị Khánh Minh. TCHL
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3851)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19664)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18645)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1647)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1810)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2325)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2435)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1472)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2216)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1960)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2006)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1385)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2425)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2639)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2385)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 249)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 821)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1014)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1128)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6423)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15902)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32166)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38869)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1494)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6919)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10724)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9916)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10035)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10840)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3465)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11158)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10370)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi