- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Journey

28 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 116958)


 journey2-content

Tôi vẫn mê những cuộc hành trình. Có những hành trình thoáng qua trong tôi như cơn gió thoảng. Có những hành trình để lại trong tôi nhiều xúc động. Có những hành trình, dù xa xưa, vẫn đeo theo tôi như một bóng ma để nhiều năm sau này, bất ngờ hiển hiện khi tôi ngỡ đã quên. 

 

Chúng tôi đậu xe. Bãi mênh mông, từng vạt bụi tung mù theo bánh xe lăn. P nắm tay tôi theo dòng người tiến về phía sân khấu. Mùa thu tháng chín lơ lửng trên cao, man mát, dịu dàng như tách biệt hẳn với khung cảnh nhộn nhịp bên dưới. Người đi bộ tràn ra từ các lối đi, nhập vào con đường chính. Tiếng nhạc bập bùng vọng lại từ xa.

“Thấy dân Phi đi đông không?”

Tôi nhìn quanh, và nhận ra điều lạ lùng ấy. Từng tốp người Á đông, tóc đen, da sậm, nói cười rôm rả. Càng vào gần, không khí càng náo nhiệt. Mùi thức ăn luồn vào khứu giác. Khói bốc lên từ những bếp thịt nướng. P chen vào quầy thịt nướng. Tôi đứng chờ bên ngoài, lơ đãng nhìn dải nắng úa tàn trên ngọn cây. Mặt trời ngả xuống bên đồi. Màu nắng yếu ớt xuyên qua kẽ lá khiến tôi nhớ lại những lần đi nghe nhạc ngoài trời. Cũng màu nắng vàng hửng của mặt trời hấp hối. Cũng khung cảnh náo nhiệt. Cũng người qua kẻ lại tấp nập. Từng tốp người Phi Luật Tân đủ mọi lứa tuổi đổ về sân khấu. Tôi cũng chưa hiểu vì sao dân Phi Luật Tân lại mê ban Journey, mê loại nhạc Rock ồn ào. Journey là một ban nhạc Rock của Mỹ, thành lập vào năm 1973 ở thành phố San Francisco. Ban nhạc Journey nổi danh vào những năm đầu thập niên 80 với những bài hát trữ tình Faithfully, Send Her My Love, Wheel in the Sky, When You Love a Woman.

 

Không khí keo lại nơi cổng vào. Những đôi chân bước chậm, sát theo nhau. Trời tối dần. Tôi nhìn lên cao. Màu trời tím nhạt điểm vài vì sao nhấp nháy. Không gian đượm mùi thức ăn nồng nàn. Người đi nhộn nhịp. Chúng tôi đi theo những đốm đèn vàng dưới chân. Nhân viên soát vé chiếu đèn bấm soi đường. Chúng tôi tìm được số ghế của mình ở gần lối đi. Tôi ngồi xuống bên P, co ro vì lạnh. Nhạc thùng thùng điếc tai. Sân khấu nhóa đèn nhức mắt. Ban nhạc chính Journey chưa xuất hiện. Mọi người ồn ào ăn uống, không ai chú tâm vào đám ca sĩ phụ đang gân cổ hò hét. Ánh đèn đổ tràn lên người họ những lượn sóng màu rực rỡ. P mở túi thức ăn, đưa tôi cái hot dog cuốn trong giấy bạc. Ly beer P cầm trên tay sủi bọt trắng ngời. Tôi cầm cuốn giấy bạc còn ấm trong tay, không thấy đói. Tôi đang mải nghe những âm hưởng từ ký ức. Trừ cặp trai gái người Mỹ phía bên phải, quanh chúng tôi là những người Phi Luật Tân. Cặp trung niên bên phía trái. Đôi vợ chồng trước mặt. Đám thanh niên trai gái ngồi phía sau. Họ nói chuyện với nhau bằng thứ ngôn ngữ tôi không hiểu nhưng đã thuộc lòng trong trí nhớ.

Ang lamig naman.

Kailan siya darating?

Gutom na ako.

 

Nhưng hai mươi tám năm trước ở Freedom Plaza của trại tỵ nạn Bataan, tôi không nghe những câu nói đó. Chung quanh tôi là ngôn ngữ Việt, thứ ngôn ngữ hào hùng như những lời ca vang vang trên loa công viên. Sân khấu lộ thiên tỏa sáng. Ca sĩ Nguyệt Ánh trong chiếc áo dài vàng in ba sọc đỏ uốn lượn. Cả thân người cô nhịp nhàng theo tiếng nhạc. Tóc cô xõa dài. Ca sĩ Việt Dzũng ôm guitar đứng bên, mồ hôi lấp lánh trên vầng trán rộng. Cờ bay, cờ bay, oai hùng trên thành phố thân yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu. Cờ bay, cờ bay tung trời ta về với quê hương... Guitar dồn dập. Giọng Nguyệt Ánh cao vút. Giọng Việt Dzũng trầm hùng. Hai tiếng hát phóng vút lên cao, mất hút vào vùng núi Bataan huyền bí. Tôi như nhìn thấy mình, nhỏ bé trong khuôn viên trại, lọt thỏm giữa khu rừng nhiệt đới lạ lùng. Núi đồi Bataan ngàn đời câm lặng, đã mở ra đón những người tỵ nạn xa lạ.

Ban nhạc Journey vừa lên sân khấu. Dàn nhạc náo động. Đàn trống khua vang. Rừng người la hét, vỗ tay, huýt sáo. Giờ thì tôi biết tại sao dân Phi đến đây. Ca sĩ mới của ban nhạc Journey là người Phi Luật Tân. Màn ảnh lớn trên đầu sân khấu tập trung vào anh ca sĩ tóc dài ngang vai, quần jeans bụi, áo da đen lủng lẳng dây xích. Hello Pinoy. Arnel Pineda chào riêng khán giả Phi Luật Tân.

“Thằng này được tụi Journey tìm trên youtube.” P hét vào tai tôi.

Trên sàn diễn, kèn trống khua rộn. Cặp trung niên người Phi cũng đứng nhổm dậy. Bà vợ bụm tay lên miệng huýt sáo. Ông chồng nhìn tôi đang lúng túng ngồi trên ghế. P kéo áo tôi.

 

Tôi đứng lên. Sân khấu rộn ràng âm thanh. Ca sĩ Nguyệt Ánh vừa hát vừa khuyến khích mọi người cùng hát theo. Một cánh tay đưa lên. Hàng ngàn cánh tay đưa lên. Hàng vạn cánh tay đưa lên. Quyết đấu tranh cho một nền hòa bình công chính. Đập nát tan mưu toan. Đầu hàng cái quân xâm lăng. Hòa bình phải trong vinh quang. Đền công lao bao máu xương hùng anh... Tôi đứng bên Linh và Phúc, tim đập thình thịch bởi tiếng hát, tiếng vỗ tay, tiếng reo hò. Sau lưng tôi, Dũng và Thanh lẩm bẩm hát theo. Chúng tôi còn lạ lẫm với những lời ca dũng mãnh đang nghe. Chúng tôi vừa bỏ lại sau lưng Dáng Đứng Bến Tre, Vàm Cỏ Đông, Trị An Âm Vang Mùa Xuân.

 

 Trời đêm lấp lánh sao. Chúng tôi đi bộ từ Freedom Plaza về Vùng 8 sau buổi văn nghệ. Dũng cũng đến từ trại tỵ nạn Palawan. Dũng ở Sài gòn, vượt biên được tàu Mỹ vớt đem vào Palawan tạm trú cùng khoảng thời gian tôi ở đó. Thanh, Đạt, Phúc đến từ trại tỵ nạn Mã Lai. Linh được chuyển qua từ trại tỵ nạn Thái Lan. Chúng tôi quen nhau trong lớp học Anh văn dành cho minors. Đêm mát và trong. Chúng tôi đi bộ qua khu hành chánh của trại. Khác với Palawan chỉ toàn thuyền nhân Việt Nam. Bataan là trung tâm chuyển tiếp của người tỵ nạn Đông Nam Á. Những người ở Bataan đã được thanh lọc và chờ đi định cư ở đệ tam quốc gia. Gia đình tôi được chuyển đến đây từ đảo Palawan. Thành phố Bataan thuộc quận Morong, cách thủ đô Manila độ ba giờ xe. Chu vi trại rộng khoảng 3600 mẫu, chia làm mười vùng. Có những vùng dành riêng cho người tỵ nạn Lào và Cam Bốt. Dũng và Thanh ở Vùng 9. Gia đình tôi ở dãy nhà cuối Vùng 8, cạnh con đường ra suối và nghĩa địa của người tỵ nạn. Buổi sáng tôi vừa chứng kiến đám tang thuyền nhân chết bệnh trong trại. Một mảnh gỗ đơn sơ khắc tên người xấu số cắm ở đầu mộ. Người Việt đã để lại nhiều dấu vết trên con đường đi tìm tự do. Có những người đã chết ngay trên đất nước mình khi chưa kịp ra đi. Chết vì bị công an biên phòng bắn. Có những người chết trên biển vì bị hải tặc giết. Có những người chết trên hoang đảo vì đói. Có những người chết trong trại tỵ nạn, nơi tạm dừng chân. Có những người chết nơi xứ người, như sau này sẽ xảy ra ở Mỹ, ở Canada, ở Úc.

Thuyền nhân Việt Nam ở Bataan không còn ra biển ngóng về quê cũ mỗi chiều. Đã qua hết những ngày lênh đênh trên biển. Đã xa rồi những tên cướp biển đầu trâu mặt ngựa. Bataan là một trại tỵ nạn ai cũng muốn đến. Dân tỵ nạn ở Bataan buổi sáng đi học Anh văn, trưa lãnh thức ăn về nấu, chiều xếp hàng hứng nước tắm giặt, tối ngồi quán café nghe Phi Khanh hát Thu Vàng trong máy cassette. Buổi sáng tôi học Anh văn với đám bạn diện minor. Tôi ghi danh một lớp học đàn. Những ngón tay lần đầu lóng ngóng đặt lên phím đàn. Mỗi bấm tay là một mất mát. Mỗi nhịp điệu là tiếng thở dài. Tôi đàn Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Linh rơi nước mắt và giận tôi. Tôi hiểu. Lòng mẹ bao la hơn biển Thái Bình. Lòng mẹ nhân từ hơn biển Thái Bình. Biển đã cướp đi mạng sống của bao nhiêu người vượt biển. Chúng tôi phải đóng thuế cho biển để đổi lấy tự do. Bao nhiêu người phải tế biển để chúng tôi được sống. Chúng tôi nợ họ. Chúng tôi vừa vượt đại dương. Trí nhớ còn mới nguyên những kinh hãi chưa nhòa. Tôi đặt tay lên phím đàn. Năm cánh sao run rẩy. Sao biển đang thay hình đổi dạng, như mái tóc tôi cũng đã nhạt dần hơi muối. Tôi nhìn Linh, Phúc, Dũng, Thanh mắt ngấn nước. Tôi sẽ không bao giờ đàn Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào nữa. 

Chuyến xe đò đến Bataan khác hẳn chuyến xe đầu tiên đưa chúng tôi đến Manila. Mọi người nô nức, hồ hởi. Chúng tôi đang đi đến tương lai. Bataan là trạm nghỉ êm đềm. Xe đỗ bến ở đầu trại, mọi người được đưa vào khám sức khoẻ tổng quát. Nắng Bataan gay gắt như nắng Sàigòn. Đất đỏ tung mù sân trạm xá. Tôi nhớ gió biển Palawan mát rượi, nhớ bãi cát trắng mịn gót chân. Trong đầu vẫn còn rù rì tiếng sóng reo. Tôi thấy buồn cười với nỗi nhớ của mình. Palawan hay Bataan, đâu rồi cũng chỉ là những mảnh đất tạm dung trong cuộc hành trình. Trong trạm xá của trại, chúng tôi khai báo tên tuổi. Đám người tỵ nạn bị đẩy qua khu khám bệnh. Đàn ông một bên. Đàn bà một bên. Trong phòng khám che bằng vải màn, chúng tôi giật mình bối rối. Theo lệnh của nhân viên y tế người Phi, chúng tôi phải cởi hết áo quần. Từng đám đàn bà, con gái trần truồng bị lùa vào phòng khám. Tôi không hiểu họ định được bệnh gì qua mắt nhìn. Những người đàn bà Việt Nam luống cuống. Những cô thiếu nữ thanh tân đỏ mặt cúi gằm. Bầy người trần trụi diễu hành. Những đôi mắt đàn ông Phi sỗ sàng không che dấu. Tôi ngượng ngùng nhìn xuống thân thể mình khẳng khiu chờ thành thiếu nữ. Tôi nhìn các chị thịt da co rúm, tay lóng ngóng che đậy. Hai mươi lăm năm sau, khi xem cảnh chụp phụ nữ Việt Nam ở trần cho đàn ông Đại Hàn, Mã Lai, Đài Loan, Trung Cộng lựa mua, cảm giác rờn rợn pha lẫn tủi nhục của buổi chiều trạm xá lại trở về đầy ắp trong tôi. Hình ảnh bà Trưng bà Triệu cỡi voi uy nghi còn sáng ngời trong trí óc tôi. Những bài học lịch sử đất nước từ năm lớp sáu tôi vẫn còn nhớ như in. Cô Mỹ Dung dạy môn Lịch Sử có tài kể chuyện thu hút mê hồn. Bà Triệu ngang tàng chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, nhất định không khom lưng chịu làm tì thiếp người ta! Hai bà Trưng anh dũng, thu nạp binh lính, dựng cờ chống quân Hán xâm lược, hy sinh hạnh phúc riêng tư. Lịch sử đất nước tuôn ra từ đôi môi duyên dáng của cô làm chúng tôi mê mẩn.

Đất nước tôi oai hùng là thế! Anh thư nước tôi khí phách là thế!

 

Linh nắm chặt tay tôi khi đi qua trạm xá. Con cháu hai Bà vật vã đớn đau trên sàn tàu cướp biển. Hẳn Linh chưa thể nào quên những ngày dằng dặc bị giam hãm trên tàu đánh cá Thái Lan. Hẳn Linh chưa quên những tên cướp biển tìm kiếm thú vui trên thân xác Linh còi cọc.

“Kể đi, chúng làm gì Linh?”

Ngày đó chúng tôi ngây thơ hỏi về hành trình của nhau. Hành trình của những đứa trẻ mơ làm thủy thủ mà trôi dạt đói khát trên biển. Hành trình của những đứa trẻ mơ làm nàng tiên cá nhưng lọt vào tay cướp biển. Tôi nhìn vầng trán Linh lơ thơ tóc vàng cháy nắng. Nét hồn nhiên chưa trở lại trên khuôn mặt Linh. Bầu ngực con gái dậy thì luôn luôn khép chặt. Tôi như còn nghe tiếng Linh kêu to xé buốt. Bọn cướp Thái Lan giam Linh trên tàu một tháng. Cho ăn và giầy vò. Chúng quăng Linh xuống biển cùng hai can dầu để tự bơi vào bờ. Đôi mắt Linh còn in hằn nét bàng hoàng sợ hãi. Làm sao trả cho Linh nụ cười thơ trẻ. Làm sao trả cho Linh màu mắt trong chưa biết tủi nhục. Làm sao trả cho Linh thân thể con gái tinh khôi chưa vấy.

Linh bạn tôi. Năm ấy Linh mười lăm tuổi. 

 

Ban nhạc Journey vừa lên sân khấu đã thu hút hết tâm trí khán giả. Sau màn chào mở đầu, ban nhạc chơi liên tiếp không ngừng. Rừng người nhún nhảy theo tiếng nhạc. Cặp vợ chồng trung niên người Phi vỗ tay hào hứng. Bà vợ nhìn tôi nháy mắt cười. Không còn những âm thanh xa vắng vọng về từ quá khứ. Sân khấu loang loáng đèn màu. Tiếng guitar solo lúc dìu dặt tha thiết lúc gầm gào như thác đổ. Tôi nhìn lên bầu trời cao thẳm. Nền trời như vật vô tri giác, vẫn cao, vẫn lồng lộng, vẫn nhấp nháy sao. Chỉ có con người xao xuyến, chỉ có trái tim tôi rung động với ký ức. Những ngọn cây viền quanh rạp hát khẽ lay. Mắt tôi dừng lại trên những chiếc lá mang màu đêm quyến rũ. Đêm nhộn nhịp âm thanh như ngày tôi mười bốn.

 

Dũng, Thanh, Đạt, Linh cùng đứng bên tôi. Bataan. Freedom Plaza. Đêm đặc người. Đêm âm nhạc. Sân khấu ghép bằng gỗ mộc vừa đủ chỗ cho đôi song ca và anh nhạc sĩ. Đàn dạo tình tang. Đôi song ca giọng nhịp nhàng quyện quanh. Người đàn bà đứng đằng trước la lên. Trời, ca giống y chang Nhật Trường-Thanh Lan. Tôi nhìn Dũng thắc mắc. Thanh Lan, Nhật Trường là ai tôi chưa hề nghe. Tôi chỉ biết Ái Vân, Nhã Phương, Bảo Yến. Trên đường về Dũng kể tôi nghe chuyện Dũng đi bụi đời được nghe nhạc vàng Nhật Trường-Thanh Lan, Chế Linh-Thanh Tuyền. Tôi nhìn mặt Dũng nhỏ nhít. Dũng mười bảy. Dũng bụi đời mang biệt hiệu Đakao. Tôi nhìn Dũng da cháy nắng Palawan. Dũng Đakao bụi đời Mơ Thành Người Quang Trung. Dũng Palawan mơ gì?

Khi chúng tôi về âm nhạc vẫn còn rộn ràng ở Freedom Plaza. Qua khu hành chính, đến khu chợ trời Vùng 5. Qua dẫy trường học, đến con đường đưa về Vùng 8. Tôi khát khô cổ. Dũng moi tiền trong túi ra đếm. Mấy đồng pesos reo leng keng, vừa đủ mua một chai Mellow-Yellow ướp lạnh. Dũng rót một nửa cho tôi. Dòng nước óng chảy tựa mảnh lụa cong vòng. Bàn tay tôi bất chợt run rẩy. Rõ ràng là dòng nước chanh ngọt lịm tôi ao ước khi nằm trong lòng ghe, thân thể khô, cổ cháy khát. Đêm vụt trôi lơ lửng. Khoảng trời đen sao đêm nhấp nháy như những chuyến hành trình xa xưa của tôi và đám bạn minor mãi còn ẩn hiện.

 

Trên sân khấu, giọng Arnel Pineda vươn cao, ngân dài. Chuỗi âm thanh lồng lộng vút vào vùng đêm bình lặng. Ban nhạc dạo bản cuối cùng. Hành trình ban Journey kết thúc. Tôi nhìn bầu trời đêm, bắt đầu đếm những cuộc hành trình của dân tộc mình.

 

 

Nguyễn Xuân Tường Vy

San Jose

28 tháng tư, 2011 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
02 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 96590)
02 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 109789)
...Trong hoàn cảnh hiện nay, người làm văn học, trong hay ngoài nước, đặc biệt là giới trẻ, đang có cơ hội và khả năng tạo một sinh khí cho xã hội VN, giúp giảm thiểu những phá sản tinh thần đang xẩy ra. Muốn vậy, rất cần có sự đam mê, học hỏi, và lòng can đảm nói thật, viết thật. Không có nền văn học có giá trị nào được xây dựng trên sự giả dối và tránh né.
02 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 123321)
LTS: Nguyễn Hạnh Nguyên sinh năm 1985, tốt nghiệp thạc sĩ khoa học ngành Ngữ Văn. Hiện sống và làm việc tại Hạ Long, Quảng Ninh. Năm mới, bài viết mới lần đầu đăng ở trang mạng Hợp Lưu như một món quà xuân gởi đến quí văn hữu và bạn đọc đầu năm Tân Mão 2011. TCHL
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 109555)
Bài viết này duyệt lại huyền thoại trụ đồng Mã Viện xuất hiện từ khoảng thế kỷ thứ IV-V, nhưng không hề có dấu vết trên thực địa hay trong quốc sử Hán. Những dã sử về số lượng và vị trí trụ đồng chẳng những thiếu cơ sở, mà còn di động, từ châu Khâm tới Hà Tiên-An Giang—không ngừng nam tiến, giống như tấm bản đồ biển Đông Bắc Kinh mới công bố năm 2009, ấn chứng của “thực dân xã hội chủ nghĩa” [Han social-colonialism ], vò đựng mới cho tinh thần Đại Hán phong kiến.
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 100508)
Vichto Olegovich Pelevin sinh ngày 22.11.1967 tại Moskva, trong một gia đình quân nhân. Năm 1989 Pelevin thi vào trường đại học năng lượng, từ 1989-1990 học hàm thụ trường đại học viết văn Maxime Gorki. Pelevin bắt đầu sáng tác vào giữa những năm 80, mười năm sau, chưa đầy ba mươi tuổi, có trong tay hơn chục tiểu thuyết, truyện vừa và năm-sáu tập truyện ngắn, anh đã trở thành "hiện tượng bí hiểm nhất và nổi tiếng nhất trong thế hệ các nhà văn hậu Xô Viết".
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 122245)
Nhân viên trực phòng xác bật đèn. Ánh sáng xanh nhợt gây thêm sự lạnh lẽo. Hai bàn tay Sinh nắm chặt lại trong túi áo khoác. Gã nhân viên liếc nhìn Sinh, rất nhanh. Sinh tưởng như hai người kia cũng nghe được tiếng tim đập của mình. Gã nhân viên kéo chiếc hộp sắt hình quan tài nằm sâu trong vách tường. Nhẹ nhàng, cẩn thận như thể gã cũng ngại làm người nằm bên trong thức giấc.
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 112510)
...Anh là cơn gió chướng của đời em. Anh là nỗi ám ảnh không mặt mũi, nhưng tồn tại mãi trong ngăn kéo ký ức em. Em đọc được trong mắt anh ước muốn hoan lạc của một tình yêu với một thân xác. Một sự hoà hợp nhịp nhàng như sấm sét và mưa. Cho anh tan chảy như trăng trong ngõ ngách đêm.
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 119214)
... Thiếp không muốn về, cũng không muốn ngồi lên, cũng chẳng hề thấy lạnh. Thiếp chỉ muốn nằm đó, với chàng, muôn kiếp muôn đời gặm nhấm niềm yêu. Khởi đầu chỉ là những mưu toan mà trời ơi, sao người ta cứ phải dùng những tấm thân liễu yếu, sao người ta vẫn cứ phải nhờ vả chút nhan sắc bọt bèo.
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 107003)
Alexandre Lucien Abel de Rhodes mang gương mặt thống khổ và si mê của oan hồn chưa hề biết đến tình yêu. Những ai bắt gặp giáo sĩ những năm thánh chiến, thảng thốt nhận ra bóng ma mang nỗi buồn chín thối ruột gan của một người đàn ông chưa toại nguyện thân xác. Hôi thối đến nỗi những người lính Marốc của tiểu đoàn 10 Tabor tăng cường cho trung đoàn 3 Lê Dương phải bịt mũi trước xú uế nồng nặc bốc toả từ nhà thờ chính toà Cao Bằng.
30 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 132192)
Tôi đưa nàng đi, như mộng du, ra khỏi thành phố. Ánh đèn đường và ánh sáng trong các loại nhà ở hai bên quốc lộ loáng thoáng hắt vệt ra. Chúng tôi chỉ còn vài giờ ở bên nhau. Trước mặt tôi, vài chục cây số nữa là vài ngọn đèo lớn, một cung biển đẹp, tôi biết đưa nàng đi đâu để không hoang phí vài tiếng đồng hồ quý báu này. Chuyện gì sẽ xảy ra với cô gái tên Thu Sắc và chàng trai bị gọi là Thiền Sư. Hay chính nàng mới là Thiền Sư còn tôi đang sôi sục toàn thân nỗi nôn nao làm thú.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3809)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13277)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19629)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18609)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1600)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1753)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2271)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2393)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1429)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2199)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1931)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1984)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1344)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2384)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2579)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2353)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 230)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 783)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 982)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1091)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6393)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15875)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32125)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38850)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1453)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13875)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6891)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10654)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9863)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9985)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10774)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3433)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11111)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10340)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi