- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,229

Journey

28 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 80320)


 journey2-content

Tôi vẫn mê những cuộc hành trình. Có những hành trình thoáng qua trong tôi như cơn gió thoảng. Có những hành trình để lại trong tôi nhiều xúc động. Có những hành trình, dù xa xưa, vẫn đeo theo tôi như một bóng ma để nhiều năm sau này, bất ngờ hiển hiện khi tôi ngỡ đã quên. 

 

Chúng tôi đậu xe. Bãi mênh mông, từng vạt bụi tung mù theo bánh xe lăn. P nắm tay tôi theo dòng người tiến về phía sân khấu. Mùa thu tháng chín lơ lửng trên cao, man mát, dịu dàng như tách biệt hẳn với khung cảnh nhộn nhịp bên dưới. Người đi bộ tràn ra từ các lối đi, nhập vào con đường chính. Tiếng nhạc bập bùng vọng lại từ xa.

“Thấy dân Phi đi đông không?”

Tôi nhìn quanh, và nhận ra điều lạ lùng ấy. Từng tốp người Á đông, tóc đen, da sậm, nói cười rôm rả. Càng vào gần, không khí càng náo nhiệt. Mùi thức ăn luồn vào khứu giác. Khói bốc lên từ những bếp thịt nướng. P chen vào quầy thịt nướng. Tôi đứng chờ bên ngoài, lơ đãng nhìn dải nắng úa tàn trên ngọn cây. Mặt trời ngả xuống bên đồi. Màu nắng yếu ớt xuyên qua kẽ lá khiến tôi nhớ lại những lần đi nghe nhạc ngoài trời. Cũng màu nắng vàng hửng của mặt trời hấp hối. Cũng khung cảnh náo nhiệt. Cũng người qua kẻ lại tấp nập. Từng tốp người Phi Luật Tân đủ mọi lứa tuổi đổ về sân khấu. Tôi cũng chưa hiểu vì sao dân Phi Luật Tân lại mê ban Journey, mê loại nhạc Rock ồn ào. Journey là một ban nhạc Rock của Mỹ, thành lập vào năm 1973 ở thành phố San Francisco. Ban nhạc Journey nổi danh vào những năm đầu thập niên 80 với những bài hát trữ tình Faithfully, Send Her My Love, Wheel in the Sky, When You Love a Woman.

 

Không khí keo lại nơi cổng vào. Những đôi chân bước chậm, sát theo nhau. Trời tối dần. Tôi nhìn lên cao. Màu trời tím nhạt điểm vài vì sao nhấp nháy. Không gian đượm mùi thức ăn nồng nàn. Người đi nhộn nhịp. Chúng tôi đi theo những đốm đèn vàng dưới chân. Nhân viên soát vé chiếu đèn bấm soi đường. Chúng tôi tìm được số ghế của mình ở gần lối đi. Tôi ngồi xuống bên P, co ro vì lạnh. Nhạc thùng thùng điếc tai. Sân khấu nhóa đèn nhức mắt. Ban nhạc chính Journey chưa xuất hiện. Mọi người ồn ào ăn uống, không ai chú tâm vào đám ca sĩ phụ đang gân cổ hò hét. Ánh đèn đổ tràn lên người họ những lượn sóng màu rực rỡ. P mở túi thức ăn, đưa tôi cái hot dog cuốn trong giấy bạc. Ly beer P cầm trên tay sủi bọt trắng ngời. Tôi cầm cuốn giấy bạc còn ấm trong tay, không thấy đói. Tôi đang mải nghe những âm hưởng từ ký ức. Trừ cặp trai gái người Mỹ phía bên phải, quanh chúng tôi là những người Phi Luật Tân. Cặp trung niên bên phía trái. Đôi vợ chồng trước mặt. Đám thanh niên trai gái ngồi phía sau. Họ nói chuyện với nhau bằng thứ ngôn ngữ tôi không hiểu nhưng đã thuộc lòng trong trí nhớ.

Ang lamig naman.

Kailan siya darating?

Gutom na ako.

 

Nhưng hai mươi tám năm trước ở Freedom Plaza của trại tỵ nạn Bataan, tôi không nghe những câu nói đó. Chung quanh tôi là ngôn ngữ Việt, thứ ngôn ngữ hào hùng như những lời ca vang vang trên loa công viên. Sân khấu lộ thiên tỏa sáng. Ca sĩ Nguyệt Ánh trong chiếc áo dài vàng in ba sọc đỏ uốn lượn. Cả thân người cô nhịp nhàng theo tiếng nhạc. Tóc cô xõa dài. Ca sĩ Việt Dzũng ôm guitar đứng bên, mồ hôi lấp lánh trên vầng trán rộng. Cờ bay, cờ bay, oai hùng trên thành phố thân yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu. Cờ bay, cờ bay tung trời ta về với quê hương... Guitar dồn dập. Giọng Nguyệt Ánh cao vút. Giọng Việt Dzũng trầm hùng. Hai tiếng hát phóng vút lên cao, mất hút vào vùng núi Bataan huyền bí. Tôi như nhìn thấy mình, nhỏ bé trong khuôn viên trại, lọt thỏm giữa khu rừng nhiệt đới lạ lùng. Núi đồi Bataan ngàn đời câm lặng, đã mở ra đón những người tỵ nạn xa lạ.

Ban nhạc Journey vừa lên sân khấu. Dàn nhạc náo động. Đàn trống khua vang. Rừng người la hét, vỗ tay, huýt sáo. Giờ thì tôi biết tại sao dân Phi đến đây. Ca sĩ mới của ban nhạc Journey là người Phi Luật Tân. Màn ảnh lớn trên đầu sân khấu tập trung vào anh ca sĩ tóc dài ngang vai, quần jeans bụi, áo da đen lủng lẳng dây xích. Hello Pinoy. Arnel Pineda chào riêng khán giả Phi Luật Tân.

“Thằng này được tụi Journey tìm trên youtube.” P hét vào tai tôi.

Trên sàn diễn, kèn trống khua rộn. Cặp trung niên người Phi cũng đứng nhổm dậy. Bà vợ bụm tay lên miệng huýt sáo. Ông chồng nhìn tôi đang lúng túng ngồi trên ghế. P kéo áo tôi.

 

Tôi đứng lên. Sân khấu rộn ràng âm thanh. Ca sĩ Nguyệt Ánh vừa hát vừa khuyến khích mọi người cùng hát theo. Một cánh tay đưa lên. Hàng ngàn cánh tay đưa lên. Hàng vạn cánh tay đưa lên. Quyết đấu tranh cho một nền hòa bình công chính. Đập nát tan mưu toan. Đầu hàng cái quân xâm lăng. Hòa bình phải trong vinh quang. Đền công lao bao máu xương hùng anh... Tôi đứng bên Linh và Phúc, tim đập thình thịch bởi tiếng hát, tiếng vỗ tay, tiếng reo hò. Sau lưng tôi, Dũng và Thanh lẩm bẩm hát theo. Chúng tôi còn lạ lẫm với những lời ca dũng mãnh đang nghe. Chúng tôi vừa bỏ lại sau lưng Dáng Đứng Bến Tre, Vàm Cỏ Đông, Trị An Âm Vang Mùa Xuân.

 

 Trời đêm lấp lánh sao. Chúng tôi đi bộ từ Freedom Plaza về Vùng 8 sau buổi văn nghệ. Dũng cũng đến từ trại tỵ nạn Palawan. Dũng ở Sài gòn, vượt biên được tàu Mỹ vớt đem vào Palawan tạm trú cùng khoảng thời gian tôi ở đó. Thanh, Đạt, Phúc đến từ trại tỵ nạn Mã Lai. Linh được chuyển qua từ trại tỵ nạn Thái Lan. Chúng tôi quen nhau trong lớp học Anh văn dành cho minors. Đêm mát và trong. Chúng tôi đi bộ qua khu hành chánh của trại. Khác với Palawan chỉ toàn thuyền nhân Việt Nam. Bataan là trung tâm chuyển tiếp của người tỵ nạn Đông Nam Á. Những người ở Bataan đã được thanh lọc và chờ đi định cư ở đệ tam quốc gia. Gia đình tôi được chuyển đến đây từ đảo Palawan. Thành phố Bataan thuộc quận Morong, cách thủ đô Manila độ ba giờ xe. Chu vi trại rộng khoảng 3600 mẫu, chia làm mười vùng. Có những vùng dành riêng cho người tỵ nạn Lào và Cam Bốt. Dũng và Thanh ở Vùng 9. Gia đình tôi ở dãy nhà cuối Vùng 8, cạnh con đường ra suối và nghĩa địa của người tỵ nạn. Buổi sáng tôi vừa chứng kiến đám tang thuyền nhân chết bệnh trong trại. Một mảnh gỗ đơn sơ khắc tên người xấu số cắm ở đầu mộ. Người Việt đã để lại nhiều dấu vết trên con đường đi tìm tự do. Có những người đã chết ngay trên đất nước mình khi chưa kịp ra đi. Chết vì bị công an biên phòng bắn. Có những người chết trên biển vì bị hải tặc giết. Có những người chết trên hoang đảo vì đói. Có những người chết trong trại tỵ nạn, nơi tạm dừng chân. Có những người chết nơi xứ người, như sau này sẽ xảy ra ở Mỹ, ở Canada, ở Úc.

Thuyền nhân Việt Nam ở Bataan không còn ra biển ngóng về quê cũ mỗi chiều. Đã qua hết những ngày lênh đênh trên biển. Đã xa rồi những tên cướp biển đầu trâu mặt ngựa. Bataan là một trại tỵ nạn ai cũng muốn đến. Dân tỵ nạn ở Bataan buổi sáng đi học Anh văn, trưa lãnh thức ăn về nấu, chiều xếp hàng hứng nước tắm giặt, tối ngồi quán café nghe Phi Khanh hát Thu Vàng trong máy cassette. Buổi sáng tôi học Anh văn với đám bạn diện minor. Tôi ghi danh một lớp học đàn. Những ngón tay lần đầu lóng ngóng đặt lên phím đàn. Mỗi bấm tay là một mất mát. Mỗi nhịp điệu là tiếng thở dài. Tôi đàn Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Linh rơi nước mắt và giận tôi. Tôi hiểu. Lòng mẹ bao la hơn biển Thái Bình. Lòng mẹ nhân từ hơn biển Thái Bình. Biển đã cướp đi mạng sống của bao nhiêu người vượt biển. Chúng tôi phải đóng thuế cho biển để đổi lấy tự do. Bao nhiêu người phải tế biển để chúng tôi được sống. Chúng tôi nợ họ. Chúng tôi vừa vượt đại dương. Trí nhớ còn mới nguyên những kinh hãi chưa nhòa. Tôi đặt tay lên phím đàn. Năm cánh sao run rẩy. Sao biển đang thay hình đổi dạng, như mái tóc tôi cũng đã nhạt dần hơi muối. Tôi nhìn Linh, Phúc, Dũng, Thanh mắt ngấn nước. Tôi sẽ không bao giờ đàn Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào nữa. 

Chuyến xe đò đến Bataan khác hẳn chuyến xe đầu tiên đưa chúng tôi đến Manila. Mọi người nô nức, hồ hởi. Chúng tôi đang đi đến tương lai. Bataan là trạm nghỉ êm đềm. Xe đỗ bến ở đầu trại, mọi người được đưa vào khám sức khoẻ tổng quát. Nắng Bataan gay gắt như nắng Sàigòn. Đất đỏ tung mù sân trạm xá. Tôi nhớ gió biển Palawan mát rượi, nhớ bãi cát trắng mịn gót chân. Trong đầu vẫn còn rù rì tiếng sóng reo. Tôi thấy buồn cười với nỗi nhớ của mình. Palawan hay Bataan, đâu rồi cũng chỉ là những mảnh đất tạm dung trong cuộc hành trình. Trong trạm xá của trại, chúng tôi khai báo tên tuổi. Đám người tỵ nạn bị đẩy qua khu khám bệnh. Đàn ông một bên. Đàn bà một bên. Trong phòng khám che bằng vải màn, chúng tôi giật mình bối rối. Theo lệnh của nhân viên y tế người Phi, chúng tôi phải cởi hết áo quần. Từng đám đàn bà, con gái trần truồng bị lùa vào phòng khám. Tôi không hiểu họ định được bệnh gì qua mắt nhìn. Những người đàn bà Việt Nam luống cuống. Những cô thiếu nữ thanh tân đỏ mặt cúi gằm. Bầy người trần trụi diễu hành. Những đôi mắt đàn ông Phi sỗ sàng không che dấu. Tôi ngượng ngùng nhìn xuống thân thể mình khẳng khiu chờ thành thiếu nữ. Tôi nhìn các chị thịt da co rúm, tay lóng ngóng che đậy. Hai mươi lăm năm sau, khi xem cảnh chụp phụ nữ Việt Nam ở trần cho đàn ông Đại Hàn, Mã Lai, Đài Loan, Trung Cộng lựa mua, cảm giác rờn rợn pha lẫn tủi nhục của buổi chiều trạm xá lại trở về đầy ắp trong tôi. Hình ảnh bà Trưng bà Triệu cỡi voi uy nghi còn sáng ngời trong trí óc tôi. Những bài học lịch sử đất nước từ năm lớp sáu tôi vẫn còn nhớ như in. Cô Mỹ Dung dạy môn Lịch Sử có tài kể chuyện thu hút mê hồn. Bà Triệu ngang tàng chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, nhất định không khom lưng chịu làm tì thiếp người ta! Hai bà Trưng anh dũng, thu nạp binh lính, dựng cờ chống quân Hán xâm lược, hy sinh hạnh phúc riêng tư. Lịch sử đất nước tuôn ra từ đôi môi duyên dáng của cô làm chúng tôi mê mẩn.

Đất nước tôi oai hùng là thế! Anh thư nước tôi khí phách là thế!

 

Linh nắm chặt tay tôi khi đi qua trạm xá. Con cháu hai Bà vật vã đớn đau trên sàn tàu cướp biển. Hẳn Linh chưa thể nào quên những ngày dằng dặc bị giam hãm trên tàu đánh cá Thái Lan. Hẳn Linh chưa quên những tên cướp biển tìm kiếm thú vui trên thân xác Linh còi cọc.

“Kể đi, chúng làm gì Linh?”

Ngày đó chúng tôi ngây thơ hỏi về hành trình của nhau. Hành trình của những đứa trẻ mơ làm thủy thủ mà trôi dạt đói khát trên biển. Hành trình của những đứa trẻ mơ làm nàng tiên cá nhưng lọt vào tay cướp biển. Tôi nhìn vầng trán Linh lơ thơ tóc vàng cháy nắng. Nét hồn nhiên chưa trở lại trên khuôn mặt Linh. Bầu ngực con gái dậy thì luôn luôn khép chặt. Tôi như còn nghe tiếng Linh kêu to xé buốt. Bọn cướp Thái Lan giam Linh trên tàu một tháng. Cho ăn và giầy vò. Chúng quăng Linh xuống biển cùng hai can dầu để tự bơi vào bờ. Đôi mắt Linh còn in hằn nét bàng hoàng sợ hãi. Làm sao trả cho Linh nụ cười thơ trẻ. Làm sao trả cho Linh màu mắt trong chưa biết tủi nhục. Làm sao trả cho Linh thân thể con gái tinh khôi chưa vấy.

Linh bạn tôi. Năm ấy Linh mười lăm tuổi. 

 

Ban nhạc Journey vừa lên sân khấu đã thu hút hết tâm trí khán giả. Sau màn chào mở đầu, ban nhạc chơi liên tiếp không ngừng. Rừng người nhún nhảy theo tiếng nhạc. Cặp vợ chồng trung niên người Phi vỗ tay hào hứng. Bà vợ nhìn tôi nháy mắt cười. Không còn những âm thanh xa vắng vọng về từ quá khứ. Sân khấu loang loáng đèn màu. Tiếng guitar solo lúc dìu dặt tha thiết lúc gầm gào như thác đổ. Tôi nhìn lên bầu trời cao thẳm. Nền trời như vật vô tri giác, vẫn cao, vẫn lồng lộng, vẫn nhấp nháy sao. Chỉ có con người xao xuyến, chỉ có trái tim tôi rung động với ký ức. Những ngọn cây viền quanh rạp hát khẽ lay. Mắt tôi dừng lại trên những chiếc lá mang màu đêm quyến rũ. Đêm nhộn nhịp âm thanh như ngày tôi mười bốn.

 

Dũng, Thanh, Đạt, Linh cùng đứng bên tôi. Bataan. Freedom Plaza. Đêm đặc người. Đêm âm nhạc. Sân khấu ghép bằng gỗ mộc vừa đủ chỗ cho đôi song ca và anh nhạc sĩ. Đàn dạo tình tang. Đôi song ca giọng nhịp nhàng quyện quanh. Người đàn bà đứng đằng trước la lên. Trời, ca giống y chang Nhật Trường-Thanh Lan. Tôi nhìn Dũng thắc mắc. Thanh Lan, Nhật Trường là ai tôi chưa hề nghe. Tôi chỉ biết Ái Vân, Nhã Phương, Bảo Yến. Trên đường về Dũng kể tôi nghe chuyện Dũng đi bụi đời được nghe nhạc vàng Nhật Trường-Thanh Lan, Chế Linh-Thanh Tuyền. Tôi nhìn mặt Dũng nhỏ nhít. Dũng mười bảy. Dũng bụi đời mang biệt hiệu Đakao. Tôi nhìn Dũng da cháy nắng Palawan. Dũng Đakao bụi đời Mơ Thành Người Quang Trung. Dũng Palawan mơ gì?

Khi chúng tôi về âm nhạc vẫn còn rộn ràng ở Freedom Plaza. Qua khu hành chính, đến khu chợ trời Vùng 5. Qua dẫy trường học, đến con đường đưa về Vùng 8. Tôi khát khô cổ. Dũng moi tiền trong túi ra đếm. Mấy đồng pesos reo leng keng, vừa đủ mua một chai Mellow-Yellow ướp lạnh. Dũng rót một nửa cho tôi. Dòng nước óng chảy tựa mảnh lụa cong vòng. Bàn tay tôi bất chợt run rẩy. Rõ ràng là dòng nước chanh ngọt lịm tôi ao ước khi nằm trong lòng ghe, thân thể khô, cổ cháy khát. Đêm vụt trôi lơ lửng. Khoảng trời đen sao đêm nhấp nháy như những chuyến hành trình xa xưa của tôi và đám bạn minor mãi còn ẩn hiện.

 

Trên sân khấu, giọng Arnel Pineda vươn cao, ngân dài. Chuỗi âm thanh lồng lộng vút vào vùng đêm bình lặng. Ban nhạc dạo bản cuối cùng. Hành trình ban Journey kết thúc. Tôi nhìn bầu trời đêm, bắt đầu đếm những cuộc hành trình của dân tộc mình.

 

 

Nguyễn Xuân Tường Vy

San Jose

28 tháng tư, 2011 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1095)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1165)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1845)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5880)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5851)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13187)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30087)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81228)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20245)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 517)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối