- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CÂY XƯƠNG RỒNG NGUYỄN HỮU ĐANG

15 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 113864)


pq_nhdang_1994 
                               

Anh có thật xương rồng

Hay xương người nghĩa khí

Ngã xuống rồi hóa thân?       

Phùng Quán

 

           “Gió thổi mùa thu hương cốm mới…” Câu thơ của Nguyễn Đình Thi luôn gợi nhớ tới những buổi sáng Hà Nội rất mát rất trong của những ngày còn thơ ấu. Do đó năm 1994, chúng tôi chọn đúng mùa Cốm để về thăm lại Hà Nội sau nhiều năm sống ở hải ngoại. Chúng tôi dẫn theo cô út, vì cô bé còn đang đi học không vướng bận gia đình hay công việc làm như các anh chị nó.  

Cũng vào thời gian đó chúng tôi tình cờ đọc được bài báo cũ của Phùng Quán viết chuyện về thăm Nguyễn Hữu Đang, một bậc đàn anh trong nhóm Nhân Văn mà Phùng Quán vẫn ngưỡng mộ và cùng chung chí hướng xây dựng một xã hội lý tưởng. Sau đó  họ đã  theo nhau sa vào mấy chục năm tù đày điêu đứng.

Riêng tôi, dù đã theo dõi vụ án Nhân Văn từ hồi còn ít tuổi, vì vào những năm giữa thập niên 1950,  báo chí miền Nam đã luôn luôn nhắc đến vụ này, tôi không chú ý nhiều đến nhân vật Nguyễn Hữu Đang mà lại thuộc lòng  những lời thơ khẳng khái của Phùng Quán: 

            Yêu ai cứ bảo là yêu

            Ghét ai cứ bảo là ghét

            Dù ai ngon ngọt nuông chiều

            Cũng không nói yêu thành ghét

            Dù ai cầm dao dọa giết

            Cũng không nói ghét thành yêu

 

            Ngoài ra tôi được biết những tên tuổi khác trong nhóm như  Phan Khôi,Trần Dần,  Phùng Cung, Hoàng Cầm … là do những thơ văn của họ được phổ biến. Trong trí tưởng tôi, họ như những nhân vật trong huyền thoại hay trong truyện cổ tích. 

            Như nhiều người, khi đọc bài “Tìm Thăm Nguyễn Hữu Đang” của Phùng Quán, chúng tôi rất xúc động. Cụ là một người xuất sắc về đủ mọi lãnh vực: văn chương, khoa học, chính trị, thông thạo nhiều thứ tiếng, mà suốt hơn 50 năm qua đã bị đọa đầy đến cùng cực. Chồng tôi thì liên tưởng đến những nhân vật trong truyện kiếm hiệp, Nguyễn Hữu Đang như một Lệnh Hồ Xung bị đầy xuống hắc lao dưới lòng đất, chân tay cùm kẹp đêm ngày, sống mà như chết trong bóng tối mịt mùng, bao năm mới thoát ra được để lại nhìn thấy ánh mặt trời. Cụ Đang càng đáng phục là dù phải sống trong tình huống cơ cực mà phong cách ngôn từ của cụ vẫn an nhiên như một bậc vương giả trí thức “Anh lôi dưới gầm giường ra một cái xô tôn thủng đáy, đặt lên miệng xô tấm ván gỗ: Đây là bàn ăn, anh giới thiệu và vần tiếp ra hai cái vại muối dưa sứt miệng. Còn đây là ghế ngồi, vừa vững chãi lại vừa mát. Chú thử ngồi mà xem,  có khác gì ngồi trên đôn sứ đời Minh?”

           Thức ăn của cụ thì toàn là cóc, nhái. Và cô đơn đến độ phải đeo lục lạc vào thắt lưng để nghe tiếng kêu loong coong mà thấy đỡ đơn độc.  Nhưng mối ưu tư nhất của ông già này là làm sao lúc chết không làm phiền đến ai “Ở đây, nơi quê hương bản quán, tôi đã chọn sẵn chỗ nằm để chết…Đấy dưới chân bụi tre có một chỗ trũng, phủ đầy lá tre rụng…tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó trước khi nhắm mắt xuôi tay”.    

            Tôi rùng mình, nhớ lại câu thơ của Tô Thùy Yên:

            Sống ở trên đời ghê gớm quá

            Mà ta sống được có kỳ không?

            Chúng tôi suy nghĩ mãi là nên mang món quà gì biếu ông cụ?  Chưa quen biết, không dám mạo muội biếu tiền vì sợ xúc phạm, mà ở Việt Nam những năm đó có tiền chưa chắc đã có vật dụng tốt để mua.  Đọc lại cảnh sống của cụ, chúng tôi quyết định đem về một cái túi ngủ (sleeping bag), có lẽ là đắc dụng, tuy nó chiếm hết một phần tư chiếc va li lớn.             

            Ra khỏi phi trường Nội Bài, sau khi đã lo xong thủ tục, ba vợ chồng con cái chúng tôi bước ngay vào bầu không khí nóng và ẩm của Hà Nội. Trong số họ hàng bà con ra đón, đi đầu thấy có một ông già cao lớn tóc trắng mặc áo sơ-mi đỏ xậm, ông anh họ của chúng tôi vội giới thiệu đây là nhà thơ Hoàng Cầm. Dù vẫn biết sẽ về gặp nhà thơ vì ông là người cùng quê vừa là bạn học với những anh chị lớn tuổi trong họ nhưng chúng tôi ngạc nhiên không ngờ ông lại cất công ra tận phi trường đón chúng tôi. 

            Sau buổi tối hàn huyên và sắp đặt chương trình tại khách sạn, ngày hôm sau chúng tôi cùng mấy người trong họ và cả nhà thơ Hoàng Cầm về thăm quê cũ và viếng mộ cha tôi. Xong việc, người em họ lớn tuổi hẹn ngày đưa chúng tôi đến gặp cụ Đang tại nhà Phùng Quán vì cụ gần như  thường xuyên ở đó. Tôi không ngờ Phùng Quán vẫn còn sống và chị Quán lại là em của bạn chị tôi. Trái đất thật là nhỏ.

Bữa đó là ngày 9 tháng 9 năm 1994, một ngày Hà Nội có liễu rủ mượt mà, nắng thu trải ánh vàng dịu trên mặt hồ Tây gợn sóng. Khu tập thể trường Chu Văn An  trông hoang dã, cây cối um-tùm. Căn nhà của Phùng Quán nhìn ra mặt hồ thoáng mát. Phía sau là một căn gác đã được anh dựng lên bằng những gỗ và tranh nhặt nhạnh được để tiếp các bạn. Anh đặt tên là “Chòi Ngó Sóng”.

            Bước chân vào cổng, chúng tôi gặp ngay một ông trông chưa có vẻ già lắm, mặc sơ mi cộc tay màu xanh, tóc cũng hớt ngắn, dáng vẻ dắn dỏi nhanh nhẹn. Tôi cúi đầu chào “Thưa… chắc đây là ông Phùng Quán?”. Hưng, người em họ tôi cười “Không, đây là bác Đang”. Tôi sửng sốt nghĩ thầm: Trời đất, tính ra năm nay cụ đã ngoài 80 mà sao trông cụ trẻ thế này? Đi theo cụ, qua một cái bể non bộ có những bông hoa súng vươn trên mặt nước và  lối đi rải rác mấy chậu lan, chúng tôi tới gian có bàn nước là chỗ tiếp khách, chị Bội Trâm, vợ anh Quán tươi cười ra đón. Trông chị nhỏ nhắn, phong thái lịch thiệp mà  cương nghị, rõ ra một người đã qua nhiều thử thách trong đời. Một ông già cao gầy, mặc bộ bà ba trắng ngà, tóc búi củ hành sau gáy, râu tóc muối nhiều hơn tiêu, nước da màu đồng, đang ngồi trên ghế tràng kỷ. Thấy chúng tôi ông vội xỏ chân vào dép đứng lên chào. Đây mới thật là nhà thơ Phùng Quán. Năm đó anh mới có 63 tuổi, mà tôi tưởng anh già hơn nhiều.  Và anh vẫn còn sống.  Thế mới lạ. Sau này chị Trâm nói chuyện, chính Quyên con gái anh chị học ở đại học Hà Nội, thầy giáo nhắc đến nhóm Nhân Văn và nói là Phùng Quán đã chết rồi, mấy người bạn nhìn cháu cười, Quyên phải nói “Thưa thầy, bố con vẫn còn sống”. Trách gì người ở xa ngàn dặm như chúng tôi.

          Sau khi đã nhận anh em thứ bậc do tình quen biết giữa hai gia đình, nhà tôi nhắc đến bài viết của anh Quán về cụ Đang đã là động lực khiến chúng tôi đến thăm ngày hôm nay. Anh đứng lên lấy tặng chúng tôi cuốn Trăng Hoàng Cung và cho chúng tôi xem xấp hình chụp buổi lễ thọ cụ Đang năm ngoái khi cụ 80 tuổi, gọi là “Lễ Mừng Sống Dai”. 

Bữa đó anh tặng cụ Đang một chậu xương rồng và đọc bài thơ:

Cây chi cây lạ lùng

Không cành cũng không lá

Chỉ toàn thân với thân

Mà thân thì dựng ngược

Như gậy gộc nghĩa quân

Toàn những góc với cạnh

Lại tua tủa gai chông

Nhựa độc hơn bọ nẹt

Gai buốt nhọn hơn gươm

Người nghèo đem luộc kỹ

Ăn lại lành thay cơm

Mọc lên từ cát lửa

Hồn vẫn xanh mát trong

Che chở người lương thiện

Trộm cướp đều ngại ngùng

Cây như một biểu tượng

Đời gọi cây xương rồng

Xương rồng ơi, xương rồng

Anh có thật xương rồng

Hay xương người nghĩa khí

Ngã xuống rồi hóa thân?       

Cụ Đang hào hứng nói thêm:

- Hôm đó có đủ mặt anh em, cũng đến một trăm người: Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Cung, họa sĩ Hoàng Lập Ngôn, Hữu Mai chủ tịch Hội Nhà Văn  … Hôm đó là không bàn, không ghế,  thịt heo quay cứ chặt ra lót lá chuối. Có lạc rang và một thùng rượu lớn, ai muốn cứ việc đến múc, tôi chỉ mời mỗi người một chén đầu tiên.
Chị Trâm giải thích:

- Chúng tôi nghĩ nếu cụ Đang còn ở mãi nông thôn, không ai biết đến, nên báo chí cứ bảo là cụ chết rồi. Anh em bàn định là phải làm cho cụ Đang“sống dậy”. Nhưng phải cẩn thận vì mình vẫn là đối tượng đang bị theo dõi. Hôm đó mọi người ngồi hết cả từ trong nhà ra tới bên ngoài. Có anh Phùng Cung nói lời chúc mừng đầu tiên, cụ Đang phát biểu rồi tới anh Quán. Nhưng nói gì xong là đánh máy, in ra rồi phát cho mọi người để sau này không ai xuyên tạc được là mình nói đến chính trị.

Anh Quán cười, nhấm một ngụm nước trà:

- Nói thật với chị, tính tôi vẫn lười, nhưng hôm nay biết thế nào anh chị cũng đến, tôi

phải đi đón anh Đang. Tôi đạp xe sang nhà Phùng Cung bảo thằng cháu “Mày đi với chú

đèo cụ Đang giúp chú một quãng”, vì cũng mệt mà xa lắm.

Chị Quán đỡ lời:

- Nhà cụ Đang tận Nghĩa Đô. Cụ ở trên căn hộ lầu năm, nhưng nhờ trời qua bao nhiêu gian khổ mà cụ vẫn còn được như vậy. 

Cụ Đang cười hồn nhiên:

- Bình thường thì tôi có bốn cái khỏe: Ăn khoẻ, ngủ khỏe, nói khỏe và đạp xe khoẻ.

Ăn thì tôi phải ăn hết 3 lạng gạo mới đủ no, ngủ thì tôi ngủ 8 tiếng, nói thì hội trường đông đến 500 người, micro tôi gạt ra một bên, chỉ nói tiếng không cũng đủ nghe rồi. Còn đi xe đạp thì mỗi ngày tôi đạp 50, 60 cây số giữa trời nắng chang chang là thường.  Nhưng bây giờ cũng bắt đầu thấy mệt, vác cái xe đạp lên lầu năm cũng đã thấy nặng lắm.    

Nhà tôi hỏi:

- Thưa cụ, bây giờ cụ đang viết gì?

- Tôi cũng muốn tranh thủ cái thời gian này để viết, nhưng mà cũng rất tiếc là từ nay cho đến lúc chết cũng chẳng còn bao lâu, không hiểu có viết được nhiều không, nhưng còn viết được ngày nào thì cứ viết, còn nước còn tát. Khi mình còn ở trong nhà tù thì không nghĩ là triển vọng nó thế nào cả, vì không biết lúc nào được thả về, không biết lúc nào sống, lúc nào chết, nên chỉ cố thích ứng với trại giam mà thôi. …Vì cái chỗ tôi bị giam giữ không giống như những nơi giam giữ khác…Ở nơi đó nguyên tắc đã đến là không về, bất kể án phạt của anh là bao nhiêu, chung thân, 10 năm hay 20 năm cũng  vậy. Khi người ta đưa đến đấy là ngầm cái ý là không về, cứ ở đó vĩnh viễn, cho nên tôi đã không nghĩ ngợi gì… Tới giờ này được thả ra và ngồi viết cũng có vấn đề là mình phải nắm được tình hình xã hội, phải có một lượng thông tin cho đủ nhiều.  35 năm nay, tôi sống cách ly với xã hội, đủ biết là sự lạc hậu về tinh thần rất lớn: Người ta đọc đến hàng ngàn cuốn sách, mình chưa đọc cuốn nào. Người ta đọc đến hàng vạn bài báo mình chưa đọc bài nào. Người ta dự đến hàng trăm buổi họp mình chưa dự một buổi nào. Thế là lạc hậu lắm. Lạc hậu về số lượng thông tin như thế thì rất khó khăn, vì khi viết ra không biết người ta đã viết chưa, có trái ngược không, có trùng hợp không, hay có khi lại còn bị lôi thôi.  Ếch ngồi đáy giếng viết ra, dù những chuyện riêng tư, cũng sợ không ăn khớp với trình độ chung của người đọc và cái nhu cầu chung của xã hội, nên tôi càng thấy khó…”. 

            Sau khi ngồi nghe anh Quán vừa uống trà, hút thuốc lào vừa đọc những bài thơ đắc ý của anh, chúng tôi được mời lên Chòi Ngó Sóng để ngắm cảnh Hồ Tây về chiều và xem những bút tích cuả các văn hữu đề tặng. Thấy cụ Đang còn có vẻ muốn nói một điều gì, anh Quán nhìn ông bạn như chờ đợi.       

Cụ Đang cất tiếng:

- Thường thì sự cảm động làm người ta trở nên vụng về lúng túng. Lúng túng trong ngôn ngữ, trong cử chỉ. Nhân đây tôi cũng nói đến một chi tiết vui, là tôi có để ý đến chị (Tôi kêu thầm: Chết rồi, chuyện gì đây?)... là đi đã lâu mà về trông vẫn còn trẻ trung thế này.  Mà theo ý riêng của tôi, ở nước ngoài đã lâu,  thường là phải Âu hóa trong tinh thần, Âu hóa về ngoại hình. Do cứ nghĩ như thế về tuyệt đại đa số các bà con ta ở nước ngoài về, tự nhiên tôi để ý đến mái tóc của chị. 

Đáng lẽ ra, hợp lý ra là phải uốn cho giống người ta, cho hòa hợp với những người xung quanh, chứ trông khác người ta không có lợi, nhưng sao mái tóc của chị lại như thế này?  Tôi muốn hỏi tại sao lắm, nhưng tôi hỏi mà xin chị đừng trả lời. Vì không có câu trả lời thì tôi mới có toàn quyền suy diễn theo ý tôi. Tôi chợt nghĩ một lúc nào đó, tôi sẽ viết một bài. Thơ tôi không biết làm, nhưng tôi sẽ viết về buổi gặp gỡ anh chị và cháu ngày hôm nay và về mái tóc của chị. Và chị cứ để tôi cái quyền nghĩ mái tóc của chị  mang một ý nghĩa là lúc nào cũng mang tổ quốc quê hương trên đầu. Có thể là không đúng nhưng chị cứ cho tôi cái quyền đó.

            Nghe cụ nói, anh Quán đưa mắt tò mò nhìn lại tôi và chị Trâm nói thêm mấy câu đùa vui phụ họa. Vợ chồng tôi chỉ nhìn nhau cười và cám ơn cụ.

            Ngày hôm sau gặp ở nhà hàng, với một số người trong họ hàng chúng tôi và có cả Hoàng Cầm, Phùng Quán, cụ ký tặng chúng tôi bài viết “Bộ Vòng Sơ-men”, hồi ký về mối tình duy nhất trong đời cụ:

            Mùa hè năm 1946,  trong khung cảnh Hà Nội nhộn nhịp tưng bừng, chàng trai hào hoa, đầy quyền lực Nguyễn Hữu Đang tình cờ được gặp một cô gái tuyệt sắc tên Huyền Nhiên là em họ của một người bạn. Dù đang hăng say hoạt động chống Pháp với nhiều trách nhiệm quan trọng, chàng đã để lòng rung động về sắc đẹp và trí thông minh của cô.  Hai người đã đi đến hứa hẹn và thể hiện là chàng đã trân trọng tặng Huyền Nhiên một bộ vòng sơ-men bằng bạc (một bộ vòng đeo tay các cô gái trẻ thời trước rất ưa thích gồm có bảy chiếc vòng thanh mảnh, tượng trưng cho bảy ngày trong tuần, nên gọi là vòng semaine)

            Nhưng khi đó chiến tranh đến hồi sôi động, quân Pháp đã đánh đến Hải Phòng, dân Hà Nội phải tản cư. Và chàng trai thời chiến lao vào bóng tối hoạt động. Sau chín năm xa cách vì ly loạn và tiếp theo đó là vụ án Nhân Văn, gần 35 năm tù đày với 15 năm biệt giam, chàng trai ngày xưa giờ đã trở thành một cụ già đơn độc nghèo khó. 

Khi bị đưa về an trí ở Trà Vy, Thái Bình, cụ nhận được tin người xưa, goá chồng đã lâu, mới từ trần trong một bệnh viện. Trước khi lìa đời bà nhờ tháo bỏ chiếc nhẫn và chuỗi hạt để lại cho gia đình, bà chỉ xin đeo vào tay cho bà bộ vòng sơ-men mà bà vẫn giữ trên tủ thờ để mang theo xuống mộ phần.                                                                                                                                                                    

            Trở lại Hoa Kỳ, chúng tôi nhận được thư anh Phùng Quán có đoạn:

“..Anh ngồi bên cửa sổ nhìn ra Hồ Tây đầy sương mù và cạnh anh là anh Đang đang ngủ say, đắp chiếc chăn “hồ cừu” vợ chồng em tặng.  Anh bỗng nhớ câu thơ của Nguyễn Du “Gió lạnh cả thế gian thổi thốc vào một người đơn độc”.  Với tấm lòng và công trình của hai em và cháu đã ngăn bớt làn gió lạnh đó..

            Trong nhóm bạn hữu quen thuộc, nhiều người đã đọc về cụ Đang, rất cảm phục lý tưởng và nghị lực kiên cường của cụ, họ đã chung góp cùng chúng tôi ít nhiều gửi về làm quà biếu cụ.

            Ít lâu sau chúng tôi lại nhận được tin cụ qua anh Quán là cụ Đang đã được cấp một căn hộ 35 mét vuông ở khu Trung Ương, hưởng lương hưu Thứ Trưởng.  Chúng tôi rất vui, thế là đời sống của cụ sẽ được ổn định.               

 

         Tết Bính Tý, 1996, lại nhận được lá thư dài kín 4 trang giấy của cụ:
Hà Nội ngày 22-2-96
… “Hoàn cảnh của tôi thì đã được cải thiện từng bước: Tháng 5-95 tôi đã được phân phối nhà ở loại trung bình , diện tích … như thế là tương đối dễ chịu…Tôi vẫn sống một mình, tự  nấu lấy ăn một cách đơn giản… Nếu rồi ra người ta trả lại đầy đủ quyền lợi chính đáng của tôi (cấp bậc Bộ Trưởng và thâm niên cách mạng từ năm 1930)…Nhưng

khả năng ấy còn xa…
Theo sự mong muốn thiết tha của tôi, mà cũng là sự mong muốn của bạn bè và những người chuộng sự thật về lịch sử, tôi đang cố gắng bố trí sinh hoạt hàng ngày sao cho hợp lý để có nhiều thì giờ tập trung viết hồi ký…
Hai bạn ạ,
Tôi có chút hạnh phúc là sức khoẻ tốt… Ngoài ra, cuộc sống cuối đời của tôi còn tình yêu thương của những bạn tốt như hai bạn.  Dù xa nhau nửa vòng trái đất, các bạn vẫn nghĩ đến tôi …. Xin chúc các bạn sống lâu hơn tôi và thành công trong mọi mong muốn, chủ trương, hành động.
Xiết chặt tay,

Nguyễn Hữu Đang” 

            Những lời lẽ trong thư của cụ luôn làm chúng tôi cảm động và áy náy vì nghĩ mình đã làm được gì cho một người như cụ Đang mà được cụ coi như người thân và giãi bày tâm sự. Phải chăng chúng tôi đã đến đúng thời, đúng chỗ, khi mà những người trong nhóm Nhân Văn vừa được tạm “cởi trói”, họ còn đang dè dặt hít thở bầu không khí tự do thì chúng tôi đem đến chút gió mát từ bên ngoài về?                                       

                                                       *    *
                                                          *           

            Cuối mùa thu năm 2001, cả gia đình chúng tôi hẹn nhau cùng về gặp ở Hà Nội và chúng tôi sẽ đưa các con đi dọc từ Bắc xuống Nam để  thăm lại quê hương xứ sở. 

Tới Hà Nội, chúng tôi đến thăm chị Bội Trâm và cụ Đang ở quán ăn Vọng Ba Lâu, hậu thân của “Chòi Ngó Sóng” ngày xưa.  Quán này do chị Trâm chung với một cô giáo bạn mở ra làm phương tiện sinh sống. Cháu của cụ Đang sẽ đưa cụ bằng xe ôm tới gặp chúng tôi.   

            Khu tập thể trường Chu Văn An cạnh Hồ Tây không còn đìu hiu lau lách như ngày nào, thay vào đó là cảnh hàng quán đông đúc, taxi chạy tới chạy lui nườm nượp.Khu nhà cũ không còn nhận ra. Buổi tối đèn mắc như sao, nhưng tôi chỉ nhớ nhà hàng có cầu thang lên khá rộng rãi. Chúng tôi chọn ngồi ở một bàn dưới nhà sát bờ hồ. Đâu còn Phùng Quán, đâu còn “Chòi Ngó Sóng” với những bài thơ đề trên vách mà một chiều thu năm xưa tôi hỏi “Hoàng Hạc Lâu của anh phải không?”

            Tối nay chỉ có gia đình tôi ngồi với cụ Đang vì chị Trâm còn phải chạy tới chạy lui bận rộn trông nhà hàng. Tính ra cụ đã 88 tuổi, trông sắc diện cụ đã khác năm xưa nhiều.  Lưng cụ còng hơn, trông cụ như nhỏ đi, tóc cụ đã bạc hết, tai cụ đã không còn nghe được nữa. Điều này chúng tôi biết từ ít lâu nay và đã sửa soạn giấy tờ để bút đàm. Khi đọc những hàng chữ viết còn cứng cáp rất đẹp và lời văn sắc gọn, tôi thấy cụ vẫn rất minh mẫn và chưa mất cái tính chất dí dỏm trong cảm nghĩ.

Tôi viết:

- Xin kính chào cụ. Mừng cụ vẫn mạnh. Cám ơn cụ đã hỏi thăm chúng tôi khi bà chị tôi về thăm.

Cụ viết trả lời:

- Tôi vẫn nhớ buổi gặp bà An, bà mặc áo dài Việt Nam may bằng gấm quí, hoa rất đẹp.

Ít khi tôi được tiếp một vị khách sang trọng và ân cần đến thế.  (Ký: Nguyễn Hữu Đang)

Tôi lại viết tiếp:

- Thưa cụ, bà An có chiếu lại cuốn phim thấy cụ rất vui và khoẻ mạnh. Cụ mua được máy nghe chưa ạ?

- Tôi chưa có máy nghe vì ông bạn mà tôi gửi tiền và nhờ tìm mua còn mắc bận nhiều việc quá kể cả việc xây ngôi nhà 4 tầng. Vả lại bệnh điếc của tôi đã dịu đi làm cho tôi tin tưởng ở cái triển vọng tai trở lại bình thường. Cũng là ỷ lại vào cái số phận tốt như ông bà và cháu Thuấn Anh mong muốn (Ký: Nguyễn Hữu Đang)

Chồng tôi viết:

- Thưa cụ, cụ cũng nên xúc tiến sớm để có máy nghe, để được bình thường. Hôm nay chúng tôi và các cháu có vào thăm Viện Bảo Tàng và có thấy hình cụ.

Cụ trả lời:

- Cái hình ấy không có nhà nhiếp ảnh nào chụp được. Đây là do một sĩ quan tình báo Mỹ tên Thomas chụp từ xa bằng máy đặc biệt. Sau này nhà viết sử Mỹ là David Marr  đã đưa vào cuốn sử của ông “The Revolution 1945”.  Nếu tôi nhớ đúng thì hồi trước chính ông đã chụp photocopy gửi cho tôi chương ấy. Hôm nay tôi có dịp cảm tạ tấm lòng ân cần của bạn. Cảm ơn! Cảm ơn! (Ký: Nguyễn Hữu Đang)

Nhà tôi lại viết:

- Cụ còn nhớ nhiều quá. Lúc tôi đọc cuốn sử, thấy họ nhắc đến tên cụ mấy lần nên mới in ra gửi cụ. Hôm nay nếu cụ không nhắc lại thì tôi cũng quên rồi. Nghe nói cụ có viết hồi ký, cụ đã viết xong chưa?

- Đã bắt đầu. Cách nay 3 hôm, người ta đem đến cho tôi một triệu đồng đề nghị tôi viết và tôi đã nhận lời.

Sau mỗi câu đàm thoại, cụ lại ký tên rất trang trọng. Tôi thầm nghĩ chắc cụ vẫn quen hành xử như hồi còn làm Thứ Trưởng bộ Thông Tin và Tuyên Truyền cách nay hơn nửa thế kỷ? Hay cụ tưởng đang phải “làm việc” với quản giáo? Tôi không biết giả thuyết nào đúng.

 

            Đưa cụ về bằng taxi, trời tối, xóm nhỏ chỗ nào cũng giống chỗ nào. Người ta ngồi la liệt ở hàng quán vỉa hè. Cụ cũng không rõ lối vào. Dĩ nhiên là chúng tôi cũng chịu thua. Sau anh taxi phải theo cùng vào xóm hỏi thăm, có vài người nhận ra cụ và dẫn chúng tôi về đến căn hộ của cụ bây giờ nằm trên tầng hai. Sức khoẻ bây giờ đã khác xưa, cụ không còn đạp xe được nữa, nói gì 50, 60 cây số mỗi ngày hay vác xe đạp lên tận lầu năm. Đi đâu là phải có người chở cụ đi. Hèn chi cụ không nhớ đường về nhà.
            Chung lối lên cầu thang là một căn hộ khác, không thấy ai, nhưng có tiếng chó sủa oăng oẳng sau lần cửa đóng. Trong căn phòng cụ ở, nhiều vật dụng lặt vặt cùng sách vở hình ảnh  bầy rải rác trên mấy chiếc bàn nhỏ trong phòng. Tôi nhìn thấy có hình cụ  và một nhạc sĩ lão thành, có chữ ký của nhạc sĩ dưới lời đề tặng “Yêu Anh”, hình khác cùng  một nhà văn có tiếng, với lời xưng tụng “Người Dựng Nóc Nhà” và nhiều hình ảnh tài liệu khác. Tôi chú ý đến bức hình khá lớn treo trên tường gần cửa ra vào. Ảnh một người đàn bà đẹp, tuổi trung niên vấn tóc trần, nét mặt thanh thoát. Tôi khẽ hỏi cụ: “Đây có phải là bà Huyền Nhiên mà cụ viết trong truyện?”. Không nghe rõ nhưng cụ hiểu tôi hỏi gì, cụ gật đầu “Phải, hôm qua là ngày giỗ bà ấy. Năm nào các con bà cũng đến đón tôi đến dự đám giỗ của bà”.       
          Tôi nhìn quanh. Một cụ già dù nay đã được phục hồi lương bổng, nhưng ở một mình hiu quạnh giữa một thành phố đông người, không biết cụ có thấy ấm lòng hơn những ngày bị an trí ở Thái Bình, phải đeo lục lạc để nghe tiếng reo cho đỡ cô đơn?     

Quay ra cửa tôi còn nghe thấy cụ nói chuyện với nhà tôi, hẹn sẽ gửi cho anh giấy tờ  hình ảnh gì đó. Tôi chào cụ, cúi đầu đi xuống cầu thang, lòng thầm nghĩ cụ đã già quá rồi, chắc gì đã có lần gặp lại?  

         Cụ đã qua đời với tuổi 94.  Sống suốt một đời đấu tranh gian khổ, nhưng cụ đã ra đi trong sự tiếc thương, quí trọng của mọi người dành cho một bậc hào kiệt (chữ của Phùng Quán).

         Nhớ buổi tối năm 1994 khi ra khỏi tiệm ăn, cụ lại nói: “Tôi sẽ viết về mái tóc của bà, tôi sẽ đặt tên là Mái Tóc Quê Hương”. Tôi cũng chỉ mỉm cười vâng dạ, nghĩ thầm sau suốt một đời bị tù đày vùi dập cụ vẫn chưa bị “tẩy não”, chưa bị mất đi cái tính mơ mộng lãng mạn của một thanh niên Hà Nội năm nào.

 

         Đời sống bận rộn, ngày nọ tiếp ngày kia, năm lại năm qua nơi xứ người, tôi đã không còn nhớ nhiều chi tiết của những lần gặp mặt xưa kia, nếu không nhờ vào những cuốn băng thâu hình, thâu tiếng cùng những bút tích của cụ. 

        Giở lại những kỷ vật ngày nào, nghe lại Phùng Quán, Hoàng Cầm đọc thơ, nghe tiếng nói sang sảng của cụ Đang, tôi có cảm tưởng họ như những nhân vật  trong cuốn truyện cổ tích hồi tôi còn nhỏ, trong một thời điểm nào đó đã hiện ra, chia sẻ với chúng tôi một khoảng thời gian thật ngắn ngủi và nay họ lại quay trở về những trang sách huyền thoại, cổ tích của tôi.  

NGUYỄN-ĐẶNG BẮC NINH

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
26 Tháng Mười Một 202510:53 CH(Xem: 14476)
nhà anh ở có một cây ổi ngọt / gần hết năm trái trỉu nặng thấy thương / con sóc nhảy lên cao rồi nhảy xuống / chạy tung tăng khắp đám cỏ quanh vườn
20 Tháng Mười Một 20251:10 SA(Xem: 12577)
Ngô Thế Vinh’s Anthology II - Portraits of Literature, Art, and Culture is a masterful act of reclamation, a radiant arras woven from the lives and legacies of eighteenliterary, artistic, and cultural figures who defined South Vietnam’s vibrant intellectual scene before the cataclysm of April 30, 1975. This collection is not merely a gallery of portraits but a resolute stand against oblivion, preserving the humane, dynamic, and innovative spirit of the Republic of Vietnam (RVN). With a physician’s precision and an exile’s longing, Vinh crafts a narrative that resurrects a cultural heritage nearly erased by decades of suppression, offering readers a window into an era that was as fleeting as it was profound.
18 Tháng Mười Một 20257:53 CH(Xem: 15084)
Năm 1998- Tôi nhớ thời đó mình nhác học, hay đi chơi điện tử và mượn sách văn viết riêng về từng tác giả về đọc hết, đọc cũng không hiểu gì nhiều mà đọc vì thích thôi. Tuy nhiên trong một lần hiếm hoi làm siêng dành cho môn Toán, trong cái điều kiện là hôm đó cúp điện nữa, tự dưng có nhã hứng lấy bài tập toán ra làm. Ba là người dạy cho tôi, và trước khi giải ba hỏi: "Con muốn giải theo cách của ba, hay giải theo cách của thầy trên trường?"
18 Tháng Mười Một 20257:28 CH(Xem: 10826)
Khi qua Mỹ định cư,tôi liên lạc ngay với Trần Hoài Thư (cuối năm 2005). Mãi đến 12 năm sau (2017) khi về hưu, tôi mới có dịp liên lạc với nhà văn Lê Thị Huệ và nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh. Những người nầy đã khuyến khích tôi cầm bút trở lại.
18 Tháng Mười Một 20257:22 CH(Xem: 11806)
Có ai giống như tui còn nhớ lại thời mình hồi còn nhỏ xíu, cỡ hai tuổi không ta? Tui không nói dóc đâu. Bây giờ ở tuổi 65 tui vẫn nhớ hồi đó đó.Cái trí nhớ "kỳ cục" của tui nó toàn nhớ rõ cái gì đâu đâu. Tui lớn hơn cái thằng em kề tui 2 tuổi. Hồi Má tui đi sanh nó, tui nhớ mình cứ ngồi ngoài cửa mà chờ. Ba tui dỗ ngọt rằng là:sẽ cõng tui trên lưng theo ý tui, vì trời lạnh quá, mà tui vẫn cứ chờ mà hổng chịu vào nhà. Khi Má đi sanh về, Má trùm đầu mang vớ đi nhè nhẹ vào cái buồng nhỏ trong nhà, Ba tui bồng thằng em. Tui lót tót theo sau. Tui nhớ ba tui nói với Má về tui: "Nó là đứa sống t Tui lớn hơn cái thằng em kề tui 2 tuổi. Hồi Má tui đi sanh nó, tui nhớ mình cứ ngồi ngoài cửa mà chờ. Ba tui dỗ ngọt rằng là:sẽ cõng tui trên lưng theo ý tui, vì trời lạnh quá, mà tui vẫn cứ chờ mà hổng chịu vào nhà. Khi Má đi sanh về, Má trùm đầu mang vớ đi nhè nhẹ vào cái buồng nhỏ trong nhà, Ba tui bồng thằng em. Tui lót tót theo sau. Tui nhớ ba tui nói với Má về tui: "Nó là đứa sống tì
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 12170)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
18 Tháng Mười Một 20256:53 CH(Xem: 16379)
Iio Sōgi (1421−1502) rất nổi tiếng trong giới văn chương đương thời. Ông sáng tác vô cùng sung mãn và để lại hơn chín mươi tác phẩm - tuyển tập, nhật ký, phê bình thơ và tiểu luận về văn học cổ điển. Thiền giả thi sĩ Matsuo Bashō coi ông là một trong những người thầy nghệ thuật của mình. Nhà văn R. H. Blyth nhận xét rằng ông “gần như quá thi vị và nghệ sĩ đến mức không thể là con người”. Những bài thơ dưới đây do Bạt Xứ dịch từ bản tiếng Anh của William Scott Wilson. - Bạt Xứ
09 Tháng Mười Một 202510:34 CH(Xem: 8618)
"Tuyển tập II chân dung văn nghệ sĩ" là một công trình mới của Nhà văn Ngô Thế Vinh, giới thiệu 18 văn nghệ sĩ và nhà văn hoá thành danh thời trước 1975 ở miền Nam Việt Nam. Những tác phẩm, chân dung và chứng từ trong tuyển tập này minh chứng cho một nền văn nghệ nhân bản, năng động và đột phá đã bị bức tử sau biến cố 30/4/1975. Do đó, tuyển tập là một nguồn tham khảo quí báu về di sản của nền văn nghệ và giáo dục thời Việt Nam Cộng Hoà. (NGUYỄN VĂN TUẤN)
09 Tháng Mười Một 202510:13 CH(Xem: 10749)
Đêm qua bão đi ngang qua Qui Nhơn. Mưa to lắm, gió phần phật rít lên từng cơn mưa theo tiếng hú của mùa dông bão. May quá, tôi đã về nhà bình an. / Mấy ngày đi bụi, bù lăn bù lóc dầm mưa dãi nắng bên ngoài tôi sốt rồi. Hôm qua đầu choáng váng, nhức đau cả toàn thân; tôi ghé trạm xá đo huyết áp nhưng huyết áp không sao mà tôi sốt lên đến 40 độ... Là tôi đó, cái tuổi 60 đã già rồi mà lại không ở yên một chỗ cứ thích rong chơi. Đêm nay, tôi trùm mền nằm nghe bão dông, tôi lạnh đến run người. Thành phố lại bị cúp điện, điện thoại hết pin không thể sạc được, tôi nằm chờ trời sáng.
03 Tháng Mười Một 20254:17 CH(Xem: 15049)
Sao không ở cùng tôi thêm chút nữa, cơn mưa... để rót đầy tình tự mùa Thu trên bờ úa nắng, để riêng che một cõi hương xưa đằm thắm theo về. Hương ngai ngái của đất vừa chớm ướt, sợi mưa chỉ còn là nỗi run rẩy trên bàn tay bé nhỏ lá ơi, hãy chắt chiu đến tận cùng có thể, cho tôi nhìn sâu thẳm âm thanh là những hạt long lanh đến thế.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3805)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13236)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19624)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1554)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1724)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2236)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2363)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1416)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2179)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1908)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1947)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1315)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2351)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2545)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2327)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 216)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 764)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 971)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1053)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6379)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15860)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32118)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38827)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1412)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13871)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6868)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10631)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9830)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9953)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10756)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3424)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11097)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10331)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi