- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ

Sunday, February 13, 201112:00 AM(View: 122778)
 mua_dinhcamly-content
 Mưa_photo Dinh Cam Ly
 

*Viết tặng nhà văn Trần Vũ

 

Tìm hiểu bút pháp của một nhà văn, là tìm hiểu những gì ám ảnh hay ít nhất đã gây ấn tượng trong tâm trí nhà văn để làm nên bút pháp ấy. Trần Vũ đã mở đầu bài ký Di vật [1] bằng những dòng bộc bạch: ‘‘Mỗi con người ngày nay mang trong mình một di vật. Với tôi là chiến tranh và tiểu thuyết. Chiến tranh của suốt tuổi hoa niên không bao giờ chấm dứt và tiểu thuyết của một thời đại đã biến mất...” Chỉ mấy câu văn ngắn ngủi nhưng đã cho tôi hiểu về anh nhiều hơn những gì mà câu chữ truyền tải.

 

Theo tôi, “di vật” của Trần Vũ không chỉ có chiến tranh và tiểu thuyết mà còn là những cơn mưa. Không ngẫu nhiên mà trong truyện ngắn của anh, mưa được miêu tả trở đi trở lại nhiều lần, rất đẹp và đầy biến ảo. Trong một lần trò chuyện, anh chia sẻ rằng: ‘‘Tôi ưa mưa. Tôi không thấy ở đâu mưa đẹp bằng ở xứ nhiệt đới. Mưa làm cảnh vật xanh um lá và làm dịu không gian. Mưa đem đến sự reo vui của âm thanh và sự trong trẻo của nước. Mưa ở Á châu cuồng mạnh và ầm ĩ. Mưa như xối nước, mưa vang tiếng cười trẻ thơ và sự giao hòa trời đất lồng lộng... Sống xa quê, tôi rất nhớ những cơn mưa quê nhà”.

 

Khảo sát trên những văn bản tác phẩm của Trần Vũ, tôi thu được một kết quả khá thú vị: có tổng số 13 trên 27 truyện ngắn mà trong đó có sự hiện diện hình ảnh của những cơn mưa. Điều này đủ để nói lên rằng mưa chiếm một vị trí nhất định trong ký ức của anh ― có thể nói gần như một nỗi ám ảnh.

 

Cắt nghĩa hình ảnh mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ, bài viết của tôi chú ý hai phương diện sau: Mưa ― cảnh sắc thiên nhiên huyền ảo, dữ dội và say đắm; Mưa ― biểu tượng mang tính ẩn dụ đa nghĩa.

 

 

1. Mưa — cảnh sắc thiên nhiên huyền ảo, dữ dội và say đắm.

 

Đem theo ký ức vào những trang văn, mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ trước hết được miêu tả với vẻ đẹp huyền ảo, nên thơ gợi sự say đắm, trong trẻo. Đó là hình ảnh của cơn mưa chiều được ví như một dải lụa dài mềm mại, thướt tha vắt ngang qua không gian bao la của núi đồi trong truyện ngắn Nhã Nam [2]: ‘‘Nhã Nam buổi chiều mưa căng qua rừng vải giống lụa ướt máng dài tới núi..”. Nhìn từ trên cao, dải lụa mưa ấy sáng lên vẻ lung linh và thanh khiết làm lay động hồn người không thôi: “mưa Nhã Nam trong, đẹp như hạt ngọc”. Nếu mưa Nhã Nam mang vẻ đẹp mềm mại, duyên dáng thì những cơn mưa ở Thuận Hóa trong Cái chết sau quá khứ [3] lại mang vẻ đẹp vừa huyền ảo vừa cuồng nhiệt, đam mê, chan chứa. Đó là những trận mưa đầu thu với những hột mưa nhỏ mà tròn mọng: ‘‘mưa ở phá đẹp kì ảo. Cả một vùng trắng ngần trắng lịm, những tảng nước trắng xóa lồng lộn sa sầm xuống mặt đầm rồi tung bắn lên quẫy với hơi sương, giăng giăng mờ mờ, chạy chạy đường võng trên không. Mưa ở phá rầm rập ào ạt mạnh mẽ. Bầu trời trắng lòa lòa những nước là nước”. Còn là làn ‘‘mưa xuân trắng mờ mịt cánh đồng’’ khiến cho “cả một mặt ruộng như điểm sương, trổ mai trắng, mọc rưng rức đến ngút ngàn..”.

 

Như một đối tượng khách thể, mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ không chỉ mang vẻ đẹp huyền ảo, nên thơ, trong trắng mà còn chứa đựng cả những gì dữ dội, bí ẩn và đầy khắc nghiệt của thiên nhiên. Những tính cách tưởng như rất mâu thuẫn ấy lại là đặc trưng của mưa nhiệt đới ― những cơn mưa vốn đẫm ướt trong kí ức của nhà văn. Ai đã từng đọc truyện ngắn Trần Vũ, hẳn còn nhớ trận mưa kinh hoàng của một cơn bão trên đại dương trong Biển san hô [4]: ‘‘Cơn bão đổ ập bất ngờ không báo trước… mưa rơi ngay sau đó, mạnh bạo bắn đâm lớp lớp xuống mặt biển cũng dậy sóng theo […]. Cả đại dương tối sầm, xám xịt không trông rõ quá ba thước. Hạt mưa nặng như mũi dao đâm lún vào da mặt mọi người. Tiếng sóng reo dậy lên ở tứ phía…”.Không phải ngẫu nhiên mà trận mưa trong Biển san hô được nhà văn đặc tả đầy dữ dội, hung hãn tựa như cơn cuồng nộ của đất trời. Theo lời kể của Trần Vũ, đó là một trải nghiệm mà anh không thể nào quên trong quãng đời thuyền nhân của mình: “chúng tôi đang đóng bè bơi lóp ngóp trên biển, bỗng một trận mưa sa xuống làm mặt biển Thái Bình Dương đang bằng phẳng dậy lên những cột gai mưa như bàn chông”.Trong truyện ngắn Vĩ Diên [5], sự cuồng nộ của mưa một lần nữa lại được tái hiện trên trang văn: ‘‘Trận mưa đầu của tuần lễ Tro trút lên mái tất cả giông tố của núi rừng”. Và hẳn độc giả cũng không quên “những cơn mưa Miên nóng và độc ” được Trần Vũ nhắc tới trong Đồng cỏ Miên [6]: “Những giọt mưa nóng và nặng hạt” của một vùng đất lam sơn chướng khí không làm mát mà chỉ gây khó chịu. Chưa hết, nó còn làm cầu nối tới cõi chết khi gieo rắc bệnh tật cho con người. Theo lời kể của Trần Vũ, đó là một trải nghiệm mà anh không thể nào quên trong quãng đời thuyền nhân của mình:“Bên cạnh đó, mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ còn toát lên vẻ u ám, hiu hắt như cơn mưa của một ngày ám trời trên đầm Thị Nại trong Mùa mưa gai sắc [7]: “cả một mặt đầm gợn sắc mây, mưa lướt thướt mỏng như những cánh chuồn rù rì vẩn vơ trên mặt nước”. Hay mưa khô cằn ở Quy Nhơn: ‘‘Tôi biết Huệ đã lâu. Từ lúc Huệ còn niên thiếu, những trận mưa rào còn bất chợt đổ về qua qua ấp Tây Sơn, thứ mưa nóng và ẩm của vùng Qui Nhơn sỏi đá…” hoặc mang vẻ ảm đạm, đìu hiu, lạnh lẽo bao phủ không gian nghĩa trang trong Buổi sáng sinh phần [8]: ‘‘Mưa vẫn còn rơi lai rai khi Điềm vào tới nghĩa trang. Hai ven đường mồ mả mọc đìu hiu nằm men sau dẫy tường thấp. Gió thổi bời rời, phe phẩy dăm ba hột mưa ảm đạm. […] Trời mưa ri rỉ suốt cả một buổi làm bầu trời xám ngắt như đã ngã về chiều dù chỉ mới quá trưa”.

 

Tóm lại, với tư cách là một khách thể của thiên nhiên ― mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ được miêu tả với dáng vẻ khá đa dạng: vừa huyền ảo, trong trẻo, say đắm vừa dữ dội, cuồng nhiệt và bí ẩn. Những giọt mưa, những cơn mưa trở đi trở lại, không còn thuần túy là những cơn mưa của tự nhiên mà đã đan dệt thành nhiều biểu tượng ẩn dụ đặc sắc.

 

 

2. Mưa — biểu tượng mang tính ẩn dụ đa nghĩa.

 

Trong văn hóa nhân loại, mưa được coi là biểu tượng của những tác động của trời mà mặt đất tiếp nhận được. Mưa là tác nhân làm cho đất sinh sản, nhờ mưa mà đất được phì nhiêu, màu mỡ. Mưa là ân trời, cũng là đức hiền minh. Mưa đem đến sự phong nhiêu tinh thần và vật chất. Bên cạnh đó, mưa còn được nhìn nhận như là biểu tượng của tính dục: nước mưa được coi như tinh dịch. Trong biểu tượng giao phối giữa Trời và Đất, mưa là tinh khí làm thụ thai. Có khi mưa còn được đồng nhất với máu.

 

Với tần số xuất hiện không nhỏ, mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ còn xuất hiện với tư cách là một biểu tượng nghệ thuật đa nghĩa. Biểu tượng mưa trong truyện ngắn Trần Vũ không chỉ là sự tiếp nhận những ý nghĩa vốn có trong mẫu gốc mà thiên về sự sáng tạo, bổ sung các hướng nghĩa mới cho mẫu gốc. Tựu trung lại có một số hướng nghĩa chủ yếu sau đây:

 

 

2.1. Mưa — sức mạnh thanh tẩy, hồi sinh và tái sinh.

 

Mưa với tư cách là sức mạnh thanh tẩy, hồi sinh và tái sinh hiện diện trong một loạt truyện ngắn của Trần Vũ. Đó là những trận mưa được xem như nguồn ân sủng đặc biệt đối với những nữ giao liên trong Bên trong pháo đài [10]. Ngoài sự ngột ngạt, thiếu thốn, hiểm nguy của cuộc sống nơi những căn hầm nằm sâu trong lòng đất, họ còn có một nỗi khổ khó nói: ‘‘trong thâm tâm, lũ con gái mong mưa như đất hạn mong nước”. Mỗi khi trời mưa, họ ‘‘túa đi, thi nhau hứng những giọt nước trong suốt, rỉ nhiễu từ những rễ cây mọc len lỏi trong đất ”. Mưa đánh thức những kỉ niệm êm đềm và những tinh nghịch hồn nhiên trong họ: ‘‘Bốn đứa con gái vụt trở nên trẻ thơ, đùa giỡn tạt nước vào nhau…”. Sau những buổi tắm mưa như thế, cả thể xác và tinh thần của họ đều như được hồi sinh, tràn trề sức sống: “tóc Nhu óng ả mượt mà hẳn lên, thôi dính bệt từng mảng bùn đỏ ké… Da thịt Huệ cũng hồi sinh nuột nà, bay mất mùi bếp và tro than”. Họ cùng quây quần, thủ thỉ kể cho nhau nghe những mẩu chuyện góp nhặt được. Sự khốc liệt và gian khổ của chiến tranh như biến mất, chỉ còn lại tiếng cười khúc khích và sự thư thái trong tâm hồn của bốn nữ giao liên.

 

Tương tự như vậy, trận mưa lớn trong Giấc mơ thổ [11] cũng được nhà văn miêu tả như một tác nhân làm hồi sinh mạnh mẽ từ cỏ cây đến vách đá vô tri: ‘‘Trận mưa mạnh, những hột mưa to, nặng, chậm, sâu… Mưa xắn xuống bao lơn tưới ướt chậu quất. Hơi mưa man mát lẻn vào buồng kêu tí tách. Vách tường ẩm rêu chảy nhờn nước. Khối đá xù xì sát cửa sổ bắt đầu hồi sinh”. Không chỉ làm hồi sinh mạnh mẽ thiên nhiên, cơn mưa ấy còn đánh thức những nhạy cảm bất ngờ trong tâm hồn nhân vật Vĩnh. Anh có thể nghe thấy vạn vật ngoài kia đang “cựa mình tắm mưa”. Hơn cả việc đánh thức sự nhạy cảm của giác quan, cơn mưa ấy đã giúp Vĩnh thanh tẩy “những ám ảnh còn sót từ giấc mơ..”, đem lại sự ‘‘khoáng đạt nội tâm bất chợt”. Nếu chén trà thổ như một liều thuốc đặc biệt ru Vĩnh ngược dòng thời gian, sống với những nỗi ám ảnh của quá khứ thì cơn mưa là tác nhân “làm loãng” ảnh hưởng của nó, đưa anh trở về với hiện tại ― để cảm nhận những gì đang xảy ra xung quanh mình.

 

Không chỉ là nguồn sức mạnh rửa trôi đi những bụi bặm cuộc đời, mưa còn như chiếc cầu nối giúp đôi bạn trẻ trong Đầm lầy hạnh phúc [12] nhận ra và thấu hiểu tình yêu của chính mình. Cơn mưa cuốn trôi đi những giận hờn, lầm lỗi, muộn phiền. Họ đứng trong mưa ― những giọt mưa và nước mắt của họ hòa chung với nhau. Thượng đế đang chia vui hay cảm thương cho tình yêu và hạnh phúc tội nghiệp của họ? Thật khó mà biết được. Chỉ biết rằng dưới cơn mưa ướt đẫm, họ hiểu rằng không thể sống thiếu nhau: ‘‘Mùa hạ còn hay hết? Không còn là vấn đề. Mùa hạ chấm dứt với mọi người dưới kia, dưới cơn mưa đầu thu tầm tã.’’ Nhưng Hạ là tên thiếu nữ, sẽ ở mãi với người thanh niên thuyền nhân từ đây.

 

 

2.2. Mưa — tiếng gọi quyến rũ và đam mê của dục tính.

 

Dường như “hấp lực âm dương bẩm sinh thuộc bản tính khởi thủy hằng tồn trong bản thể con người’’ có một sức quyến rũ vô cùng kỳ lạ với tất cả những người cầm bút mà Trần Vũ không phải là một trường hợp ngoại lệ. Trong các truyện ngắn của mình, nhà văn không những khám phá con người từ chiều kích của dục tính mà đôi khi cũng tiếp cận thiên nhiên bằng chính lăng kính này. Điều đó lý giải tại sao không ít những cơn mưa trong tác phẩm của Trần Vũ vang vọng một thứ tiếng gọi của dục tính đầy đam mê, cuồng nhiệt và nồng nàn đến như vậy.

 

Đó là những váng mưa đài các, kiêu sa của Phú Xuân trong Mùa mưa gai sắc: “Mưa ở Phú Xuân là những váng mưa ngà ngọc, buông như buông trướng, kiêu sa đổ đều trên mái tường thành cung điện của Nguyễn Vương ”. Mưa được nhân hóa, gợi liên tưởng đến mái tóc của một người đàn bà đẹp đang làm duyên. Mưa như gọi mời chiêm ngưỡng vẻ đẹp lẳng lơ “da thịt” của Phú Xuân. Mưa còn như cất giấu trong mình nhung lụa, phú quý và quyền uy của nghiệp đế vương từ bao đời. Lần đầu tiên ra Phú Xuân, tắm mình trong những hột mưa đài các và lạnh lẽo ấy là “lần quan trọng nhất” trong đời Nguyễn Huệ. Từ đây ngọn lửa tham vọng trong mắt Huệ như cháy bùng lên mạnh mẽ và càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết ― như không bao giờ có thể dập tắt được. Rõ ràng, mưa ở Phú Xuân không chỉ là cơn mưa tự nhiên của đất trời mà là cơn mưa gợi những ham muốn quyền lực và khát vọng chiếm đoạt nơi Huệ. Sau này, Huệ thu phục Thăng Long bằng cách thức không khác gì hành động cưỡng bức chiếm đoạt thân xác của Ngọc Hân.

 

Tương tự như vậy, trong Cái chết sau quá khứ, mưa được miêu tả vô cùng quyến rũ. Mưa gợi lên những đam mê thầm kín nhưng cũng rất đỗi tự nhiên của con người. Mưa làm tỏa sáng vẻ đẹp quyến rũ của thân thể Ngự ― thân thể thiếu nữ tràn đầy sức sống và gợi tình: ‘‘Vải áo mớ ba chảy dán, bó rịt người, thân thể Ngự nổi lửng lên như một nhành lúa trổ vươn trên mặt ruộng lụt nước. Ngự xõa tóc xổ tung rã rượi, chân dầm trong nước, mắt dầm trong mưa. Ngự xòe hai cánh tay mở lòng đón mưa. Những hột mưa nhỏ và tròn mọng, Ngự bảo là đốt tay Phật, vỡ vào đâu, phúc đến đấy. Phật tắm phúc lên người Ngự. Tôi đứng ngẩn ngơ nhìn phúc của Thượng đế vỡ hoa trên da thịt Ngự”. Không chỉ là tác nhân làm bùng lên khát khao nhục dục, ở đây mưa còn là hiện thân của ước vọng thoát tục khi hóa thành những “giọt phúc” ― là ân sủng của đáng tối cao ban xuống. Tắm mình trong những “giọt phúc” ấy, vẻ đẹp của Ngự vừa gọi mời ái ân vừa rạng ngời sự thánh thiện tinh khôi.

 

Bên cạnh đó, mưa còn là chứng nhân cho cuộc tình vụng trộm ngang trái nhưng cũng vô cùng mãnh liệt của “tôi” và Ngự: ‘‘Mưa đêm nhỏ hột tâm tích, nước nhiễu tong tong […], hơi thở Ngự ấm rát. […] Ngự nhắm nghiền mắt, để yên cho da thịt nở dưới tay tôi. Bao nhiêu lửa ở đống củi, như chảy tuôn hết vào trong người Ngự, căng chín, nóng bỏng… tôi đang uống môi Ngự ngọt lịm nước mưa. Ngự là cuộc đời của lão Chu, là giọt nước tinh chất trong suốt vỡ trên cánh đồng tuổi trẻ bạt ngàn gió chướng trong tôi”. “Tôi” ân ái với Ngự hay ân ái với mưa? Bởi mỗi giọt mưa “tôi” uống từ môi Ngự là một giọt tình chảy lai láng vào trong mình “tôi”. Một bên muốn uống cho đầy nhưng vẫn không thỏa được cơn khát của tâm hồn khô cằn như cánh đồng hoang vu và cô độc. Còn một bên muốn bù đắp, gửi trao và giúp bên kia tìm lại những gì đã mất ― tuổi trẻ, mơ ước, khát vọng. Một cho đi và một nhận về.

 

Mặt khác, cũng trong truyện ngắn này, tác giả còn dành khá nhiều dòng văn để nói về mưa ― như một ẩn dụ khác của hành động tính dục nơi con người. ‘‘… Mà thịt da Ngự thẩm thấu lạ. Mỗi bận mưa giông cả một láng mưa, nhọn hoắt, buốt như kim quất qua mái chùa trước khi đâm xuống mặt hồ xanh ngọc, vậy mà khi gieo xuống mình Ngự, những kim mưa tan biến không để lại dấu vết”. Những câu văn không đơn thuần là tả thực mà còn khơi gợi một tầng ý nghĩa khác nữa. Phải chăng những giọt mưa từ trời rơi xuống cũng tựa như những giọt tinh dịch từ cơ thể người đàn ông trút sang cơ thể người đàn bà trong cơn cực cảm giao hoan. Tất cả đều biến mất, không để lại dấu vết bên ngoài.

 

Có thể nói, việc lồng ghép và miêu tả mưa qua lăng kính của dục tính là một trong những nét riêng của Trần Vũ. Cách tiếp cận này vừa quen vừa lạ. Quen vì đã phản ánh được điều mà tri thức văn hóa nhân loại đã ghi nhận: mưa là biểu tượng hôn phối của trời đất ― nước mưa rơi xuống làm vạn vật sinh sôi nảy nở, tốt tươi. Lạ, vì ngòi bút Trần Vũ táo bạo đồng nhất mưa với thân thể đầy quyến rũ gợi tình, gọi mời ái ân của phái nữ. Kiến tạo ý nghĩa cho biểu tượng mưa là một minh chứng cho thấy sự kế thừa và biến hóa trong sáng tác của Trần Vũ.

 

 

2.3. Mưa — nỗi thống khổ của kiếp người.

 

Bên cạnh những nét nghĩa nói trên, mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ còn là chứng nhân cho nỗi thống khổ của kiếp người. Đây là điểm ít thấy trong văn hóa phương Tây nhưng lại bắt rễ sâu xa trong văn hóa của người Việt. Nó kết đọng trong cách giải thích về nguồn gốc của mưa ngâu tháng 7 (truyền thuyết Ngưu Lang - Chức Nữ) và trong quan niệm coi mưa như nước mắt của trời khóc cho những mất mát của cõi người. Hướng nghĩa này có thể tìm thấy trong các truyện: Mưa bên chồng [13], Pháo thuyền trên dòng Yang–Tsé [14], Mùa mưa gai sắc, Cái chết sau quá khứ. Cả bốn tác phẩm đều phản ánh những bi kịch đau đớn của con người ở các hướng tiếp cận khác nhau. Trong mỗi tấn bi kịch ấy, đều có sự hiện diện của những cơn mưa ― vừa như nỗi oán hận, đau đớn, mất mát của chính những người trong cuộc, vừa tựa như là nước mắt của Trời nhỏ xuống khóc thương cho những kiếp người tội nghiệp.

 

Câu ca dao của người xưa: ‘Thân em như hạt mưa sa. Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày thật đúng với số phận của nhân vật Chuyên trong truyện ngắn Mưa bên chồng. Cuộc đời làm dâu của cô buồn nhiều hơn vui, cô đơn sầu tủi nhiều hơn là những phút giây êm đềm hạnh phúc. Chuyên đã sống trong mâu thuẫn giằng xé giữa một bên là bổn phận chung thủy của người vợ với một bên là khát vọng tình yêu nảy nở thầm kín nhưng mãnh liệt. Và cô đã đem nỗi lòng của mình bộc bạch với anh chồng ― người duy nhất có năng cảm thấu cô. Hành động vô tình này đã đẩy Chuyên đến bi kịch oan ức “tình ngay lý gian” khi bị chồng bắt gặp đang ngồi trong lòng anh chồng. Khoảnh khắc bi kịch đó, ngoài sự hiện diện của những người trong cuộc, mưa là một chứng nhân quan trọng. Ban đầu ‘‘mưa rơi nặng nề trên mái’’ như đồng điệu với tâm trạng của Chuyên rồi vụt chuyển biến thành cơn giận dữ ― mưa được ví như cơn thịnh lộ của lòng người bùng cháy lên: ‘‘Ngoài trời mưa đổ mỗi lúc một lớn. Mưa sắc như tiếng Bắc chanh chua của bố mẹ và em chồng. Mưa giận dữ như tiếng cãi vã to tiếng của anh cả và Trường trên lầu. Mưa vỗ thùm thụp trên mái tôn. Mưa vần vũ ngoài trời…”. Mỗi chi tiết tả mưa được đặt trong sự đối xứng song hành đã giúp lột tả rõ hơn tâm trạng bi kịch của nhân vật. ‘‘Mưa sắc”, ‘‘mưa giận dữ”, ‘‘mưa vần vũ’’ hay chính là ẩn dụ khác về sự hà khắc của nề thói đạo đức, của những cay độc từ miệng lưỡi người đời trút xuống đôi vai của Chuyên. Nước mưa hay cũng chính là nước mắt của cô tự khóc thương cho chính mình: ‘‘mưa khóc ngất trong lòng nàng”. Ở đây mưa không còn đơn thuần là cơn mưa tự nhiên của trời đất mà là mưa của tâm tưởng ― mưa của một cõi lòng đau đớn, tan nát, sợ hãi và hoang mang.

 

Cùng hiện diện với những thời khắc đầy bi kịch của con người, mưa trong truyện ngắn Pháo thuyền trên dòng Yang–Tsé bao phủ mối tình loạn luân của hai chị em ruột: Chi và Toàn. Tình yêu, tình thương, sự hy sinh là động lực để họ dám vượt qua rào cản của đạo đức để sống và yêu nhau. Tự thân hành động của họ mang ý nghĩa nổi loạn: nổi loạn với đạo đức xã hội và nổi loạn với chính mình. Trong khoảnh khắc họ trao thân cho nhau, làn mưa “rơi rả rích” ngập tràn không gian như là tấm màn che giấu, bao bọc cho tội lỗi của họ. Mưa kết hợp với ánh sáng làm họ trở nên đẹp hơn dưới cái nhìn của nhau: ‘‘Hai chúng tôi đứng gần nhau trong bóng tối, chỉ có ánh sáng của những hạt mưa, phản chiếu từ trụ đèn đường, hắt dội vào buồng điểm lăn tăn lấm tấm những hột nhỏ lóng lánh trên thân thể Toàn”. Mưa đồng lõa với họ nhưng đồng thời cũng cảnh báo họ. Đó là khi ánh chớp lóe lên, soi tỏ, đánh thức họ nhớ lại một biến cố kinh hoàng đã làm cho cuộc đời của họ bị biến dạng méo mó. Quá khứ vụt đồng hiện và sống động lạ lùng. Tưởng như những thanh mã tấu đang “bầm xuống xối xả, … từng nhát, từng nhát man rợ trên mặt mũi Toàn” và “sự đau đớn điên dại” của thân xác Chi đang hiện hữu trong tuyệt vọng. Chỉ một vài chi tiết nhưng cũng đủ nói lên rằng sự ám ảnh của vết thương quá khứ đến từ thảm họa vượt biển đối với họ là quá lớn. Sự ám ảnh không chỉ hiện hữu hằng ngày mà còn có mặt ngay cả những phút giây họ muốn quên đi nó nhất. Sau niềm hạnh phúc của những yêu thương máu mủ được gửi trao, họ bên nhau cảm nhận sự tĩnh lặng của đêm. Lúc này cơn mưa đã tạnh và trăng lên. Khung cảnh yên bình như đồng điệu với tâm trạng của họ: “Đêm thanh vắng che chở cho chúng tôi, không có con mắt của người ngoài, không có luân lý của cuộc đời, không có chi hết, chỉ có chị em chúng tôi yêu nhau”. Theo tôi, không phải ngẫu nhiên mà cuộc tình loạn luân của Chi và Toàn lại bắt đầu vào một đêm mưa. Mưa đấy ― là nước mắt của trời hòa cùng với nước mắt của người trong cuộc vừa cảm thương cho niềm hạnh phúc không trọn vẹn của họ: thứ hạnh phúc chắp vá lại sau những giông bão tàn khốc của quá khứ đã quét qua cuộc đời họ. Mưa đấy ― như lời nhắc nhủ họ rằng: bắt người thân phải hy sinh thân xác vì mình là ích kỷ và sự hy sinh thiếu lý trí sẽ dung túng tội ác. Có thể nói nhờ có sự hiện diện của mưa mà nỗi ám ảnh của mối tình “cật ruột” càng thêm đau đớn day dứt trong lòng những người trong cuộc cũng đồng thời là những nạn nhân tội nghiệp ― mối tình khởi đầu bằng một bi kịch và kết thúc là sự thắt lại của một bi kịch khác, không có lối thoát và chìm vào vô vọng.

 

Nếu Pháo thuyền trên dòng Yang–Tsé phản ánh bi kịch tình yêu loạn luân thì Mùa mưa gai sắc lại đào sâu vào một trong những bi kịch muôn thuở của người Việt: ‘‘hôn nhân, điền thổ, vạn cố chi thù”. Đằng sau mối tình của Nguyễn Huệ và Lê Ngọc Hân ― “người quốc sắc, kẻ thiên tài” vốn được lịch sử ngợi ca thực chất là gì? Thông qua lăng kính “siêu hư cấu”, Trần Vũ đã đem đến cho độc giả một cách tiếp cận mới. Thực chất cuộc hôn nhân của họ là sự phức hợp của những toan tính cá nhân đầy quyết liệt mà không hề được xây dựng trên nền tảng của tình yêu tự nguyện. Lê Ngọc Hân chấp nhận “bán thân xác” để thực hiện âm mưu trả thù và khát vọng trung hưng nhà Lê. Nguyễn Huệ chiếm đoạt, sở hữu thân xác Lê Ngọc Hân một mặt để thỏa mãn tham vọng quyền lực. Mặt khác, đó cũng là cách để lấp đi khoảng trống cô đơn trong tâm hồn. Có phải vì thế mà đêm hợp cẩn của họ thật bất thường: ‘‘Đêm hợp cẩn của Ngọc Hân, mưa xé qua rèm trướng phủ Chúa. Tất cả hầm bức của ban ngày nổ tung xuống góc lầu Tử Các. […] Tiếng sấm dậy vạch chớp những đường dài lóe rực nơi ô cửa ”. Không khí, ánh sáng rực rỡ sắc màu và sự rộn ràng hạnh phúc trong lòng những người trong cuộc hoàn toàn vắng bóng. Chỉ có duy nhất sự dữ dội, cuồng phong của đất trời xuyên qua màn mưa giông như tâm trạng “sắp thành đàn bà” của Lê Ngọc Hân: ‘‘tâm thần Ngọc Hân dao động theo giông bão trộn lẫn những bối rối lo lắng tìm cách khuất phục Huệ”. Suốt đêm hợp cẩn, Ngọc Hân bị hành xác bằng những trận mưa roi “vun vút cuồng nộ” và sự cưỡng bức thô bạo của Nguyễn Huệ. Mưa giông cũng vần vũ ngoài trời không ngớt: “những hột mưa gai sắc như muốn trổ mái bắn xuống mình Ngọc Hân ẩm ướt, tủi hổ”. Không phải là những giọt mưa bình thường mà là “những hột mưa gai sắc” ― những giọt nước như mang trong lòng nó sự cứng sắc, xù xì gai góc, nhọn hoắc mà chức năng duy nhất là làm đau đớn. Những hột mưa như những chiếc gai nhọn đâm vào, khoét sâu thêm mãi cõi lòng nhục nhã tan nát của Lê Ngọc Hân, nhân lên nỗi tủi hổ vô cùng.

 

Cuối cùng, Cái chết sau quá khứ là một sự trùng phức hai bi kịch tình yêu: tình yêu đồng tính và tình yêu loạn luân. Tác giả đã khéo léo lồng ghép những bi kịch này trong mối tình của tôi và Ngự ― thực ra là mối tình giữa người mẹ và con gái. Mối tình này phản ánh một điều có thật của người Việt: đó là sự khăng khít, tình cảm quyến luyến gắn bó giữa mẹ và con gái đến mức sinh con ra rồi yêu con gái của chính mình như say người yêu ― yêu nhiều đến mức thành ra loạn luân. Và mối tình ngang trái này không thể thiếu mưa như là một nhân chứng quan trọng. Mưa có mặt trong giây phút yêu đương chan hòa hạnh phúc của họ, khi tôi “uống môi Ngự ngọt lịm nước mưa”. Rồi biến cố ập tới chia cắt họ thì mưa cũng mang nỗi đau của sự chia ly. Những giọt mưa không còn là những hạt nước trong ngần ấm áp mà mang trong mình tất cả sự lạnh lẽo và đau đớn của lòng người: ‘‘Những cơn mưa tầm thu trở về qua đất Thuận Hóa lạnh tăm tăm từ sau khi Ngự đi ở Nội. Váng mưa không còn trong mà đục. Hột mưa nặng như có huyết, nhễu xuống da buốt thấu xương tủy.[…] Mỗi giọt nước là một khối chờ đợi, thai nghén, thành hình, dâng tròn rồi căng cứng mạch máu đầu óc đến lúc vỡ tung vào hư không vắng lặng. Tất cả tẻ nhạt, trầm buồn, u uất”. Bằng phép so sánh lạ hóa, hình ảnh mưa nhân lên những xúc cảm và đem đến cho người đọc nhiều liên tưởng. ‘‘Hột mưa nặng như có huyết” ― mưa được đồng nhất với máu ― của xót xa khi Ngự bị đem tiến cung để đổi lấy vinh hoa phú quý. Mưa thoát thai từ những mong ước ấp ủ là ‘‘khối chờ đợi, thai nghén, thành hình …” của niềm yêu thương bị đánh mất, chỉ còn lại nỗi u uất.

 

Như những chứng nhân từ nỗi đau khổ của kiếp người, mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ được nhìn từ khoảng cách rất gần với con người. Đôi khi, mưa không còn là hiện tượng tự nhiên khách quan mà nhập vào cõi lòng, hòa cùng tâm trạng của nhân vật. Lý giải điều này, có thể bắt nguồn từ cảm thức chủ quan và dụng ý sáng tạo của nhà văn.

 

 

*

 

Nói đến thành công về mặt bút pháp nghệ thuật trong truyện ngắn Trần Vũ, có thể kể ra một số phương diện tiêu biểu. Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót nếu bỏ qua hệ thống các biểu tượng trong tác phẩm của anh. Nhìn chung hệ thống biểu tượng trong truyện ngắn của Trần Vũ tương đối đa dạng, độc đáo và sinh động. Ngoài biểu tượng mưa, có thể kể đến hệ thống biểu tượng không gian và biểu tượng đồ vật: như đàn dương cầm trong truyện Dương Cầm [15], căn hầm trong Bên Trong Pháo Đài, bức tranh trong Vườn Thượng Uyển Bỏ Hoang [16], căn nhà trong Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu [17], bức tường trong Gia Phả [18], mồ mả trong Buổi Sáng Sinh Phần, v.v.. Giữa những biểu tượng này, mưa xuất hiện với tần số cao nhất và chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa biến hóa.

 

Còn không gian? Đọc lại nhập đề của Cái Chết Sau Quá Khứ một lần nữa để thấy hết chất dữ dội của thiên nhiên ập vào con người:

 

‘‘Ngày xưa, những cơn mưa đầu thu về qua đất Thuận Hoá tuyệt dữ dội. Lão Chu là người thường rủ tôi đi ngắm mưa. Lão đứng hàng giờ ở phá, ngẩng cổ, ngửa mặt thách thức cơn giận dỗi của trời đất. Mưa chúi xuống đất, mưa tắm lên đầu, mưa cắm đầy miệng lão, song lão Chu vẫn trơ trẽn cướp giật thức uống với thượng đế. Lão phá ra cười; tiếng cười sằng sặc lăn lộn trên sóng. Lão Chu nuôi tôi bằng tiếng cười khật khùng điên dại của lão. Nhưng dạo đó tôi còn trẻ, chưa khùng, cũng chưa dại. Tôi chỉ mới bắt đầu biết say mưa. Mà mưa ở phá đẹp kỳ ảo. Cả một vùng trắng ngần, trắng lịm, những tảng nước trắng xóa lồng lộn sa sầm xuống mặt đầm rồi tung bắn lên quẫy với hơi sương, giăng giăng mờ mờ, chạy chạy đường võng trên không. Mưa ở phá rầm rập, ào ạt mạnh mẽ. Bầu trời trắng lòa lòa những nước là nước.

Từ khi biết say mưa, tôi đâm biết say Ngự. Những lần theo lão Chu ra phá, Ngự đẹp man dã. Vải áo mớ ba chảy dán, bó rịt người, thân thể Ngự nổi lửng như một nhành lúa trổ vươn trên mặt ruộng lụt nước. Ngự xõa tóc xổ tung rã rượi, chân dầm trong nước, mắt dầm trong mưa. Ngự xòe hai cánh tay mở lòng đón mưa. Những hột mưa nhỏ mà tròn mọng. Ngự bảo là đốt tay Phật, vỡ vào đâu, phúc đến ấy. Phật tắm phúc lên người Ngự. Tôi đứng ngẩn ngơ nhìn phúc của Thượng Đế vỡ hoa trên da thịt Ngự. Lão Chu lại rống tiếng cười sang sảng, thỏa mãn đã uống hết cơn bão mùa vào bụng. Lão trỏ ngón tay lóng nhọn chỉ lên trời, rồi chỉ vào bụng hỏi: Cuộc đời muốn cái chi? Lần nào cũng như lần ấy, trăm lần như một, lão Chu tự giải đáp một mình. Lão gọi Ngự, vít lấy đầu cổ ướt nhẹp của Ngự, cắn vào rái tai Ngự, rồi run run trả lời: Ngự là cuộc đời! Ngự là cuộc đời! Lão Chu lại ré lên cười the thé sung sướng. Mỗi lần lão Chu làm những cử chỉ khật khùng đáng ghét đó, thay vì bực tức, Ngự lại phát tiếng cười con gái đương thì ròn tan. Giọng cười của Ngự cũng như của lão Chu bắn theo mưa, châm chích, rả rích, làm tay chân tôi bủn rủn. Vì không hẳn chỉ đơn thuần là giọng cười mà là tiếng kêu khát vọng của một loài sinh vật thèm khát thiên nhiên lẫn hạnh phúc của sự sống. Lão Chu ngắm Ngự, rồi nhìn tôi kiêu hãnh. Bão đã đong đầy bụng lão, bão ngập trong ruột, bão làm căng lòng dạ khác thường của lão Chu. Lão tiến lại gần hỏi: Mi hiểu không? Tôi trả lời: Tôi hiểu, tôi hiểu... Mưa ở Thuận Hóa cực kỳ huyền ảo.’’

 

Và một đoạn khác nữa, đầy tương phản trong tính chất thơ mộng:

 

 “…Những cuống sen xanh mát rượi, những lá sen mượt mà trải rộng như những lát chiếu hoa điều đỏ nắng, che chở cho tôi với Ngọc Trản trốn Phật Thích Ca. Nước hồ lạnh mát. Trong vắt. Ngọc Trản lặn thât sâu, tóc bềnh bồng như vi cá. Lúc tôi với Ngọc Trản trồi lên giữa những đài sen nhụy vàng óng ánh, sư ông và các sãi đã về chùa, chỉ còn âm vang tiếng hét lão Chu váng âm rơi vỡ rợp trên những tàu sen chật mặt nước. Cả một đầm sen xanh ngắt run rẩy lay động. Các cuống sen cong búp, như thể tiếng kêu của lão Chu làm chúng sợ hãi. Từng hột nước, từng hột nước chảy lăn trên mình Ngọc Trản. Tôi cúi xuống vết thương giữa bụng Ngọc Trản còn nở ngát.”

 

 

Có còn là văn hay đã là họa phẩm? Tôi từng tự hỏi câu này, như nhà thơ Phan Tấn Hải từng nhận xét: Trần Vũ vẽ tranh dã thú, thuộc trường phái dã thú… Nếu đem vào những màn mưa giăng mắc để tạo không khí riêng cho mỗi câu truyện ― cho từng câu truyện thấm đẫm cảm giác hư ảo và mênh mang ― thì Trần Vũ đạt đến điều anh muốn. Dưới màn mưa không rõ tiếng, không rõ hình, ngòi bút của nhà văn lay động nhân vật biến chúng từ người thành thú, từ thú hóa người cực hung hãn, giao hoan giữa thú với thú, hay giữa thú với người hoặc ăn tươi nuốt sống nhau không còn là nghi vấn, vì người đọc thẩm thấu nét họa vô tình bước vào một thế giới tuy giả định đã đầy mê hoặc.

 

Văn chương, nói như Kundera, là cường độ của sự rung cảm. Sự rung cảm của một ngòi bút diễn ra qua suy nghĩ mà trong suy nghĩ có hình ảnh, rồi bên trong là tính tượng trưng của biểu tượng. Với Trần Vũ, là Mưa.

 

Nguyễn Hạnh Nguyên 

Hạ Long, tháng 2-2011.

 



[1] ký Di Vật, tập san Hợp Lưu in lần đầu năm 2008

 

[2] truyện ngắn Nhã Nam, nguyệt san Văn Học in lần đầu năm 1996

 

[3] trung thiên truyện Cái Chết Sau Quá Khứ , nguyệt san Thế kỷ 21 in lần đầu năm 90,

 

[4] trung thiên truyện Biển San Hô đăng lần đầu trên nguyệt san Làng Văn năm 1988

 

[5] truyện ngắn Vĩ Diên, tập san Hợp Lưu in lần đầu năm 2000,

 

[6] truyện ngắn Đồng Cỏ Miên đăng lần đầu trên nguyệt san Làng Văn năm 1988

 

[7] truyện ngắn Mùa Mưa Gai Sắc, tập san Hợp Lưu in lần đầu năm 1992

 

[8] ] truyện ngắn Buổi Sáng Sinh Phần, nguyệt san Văn in lần đầu năm 1991,

 

[10] truyện ngắn Bên Trong Pháo Đài, nguyện san Văn Học in lần đầu năm 1989

 

[11] trung thiên truyện Giấc Mơ Thổ, tập san Hợp Lưu in lần đầu năm 1994

 

[12] truyện ngắn Đầm Lầy Hạnh Phúc, nguyệt san Văn in lần đầu năm 1989, in lại trong tập Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu, nxb Thời Văn 1991

 

[13] truyện ngắn Mưa Bên Chồng, nguyệt san Thế kỷ 21 in lần đầu năm 90, in lại trong tập Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu, nxb Thời Văn 1991

 

[14] truyện ngắn Pháo Thuyền Trên Dòng Yang-Tsé, Văn Học in lần đầu năm 1991

 

[15] truyện ngắn Đàn Dương Cầm, nguyện san Văn Học in lần đầu năm 1989

 

[16] truyện ngắn Vườn Thượng Uyển Bỏ Hoang đăng lần đầu trên nguyệt san Làng Văn năm 1988

 

[17] truyện ngắn Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu, Văn Học in lần đầu năm 1989

[18] truyện ngắn Gia Phả, tập san Hợp Lưu in lần đầu năm 1992,

 

 

Send comment
Your Name
Your email address
Friday, July 4, 202510:24 PM(View: 16349)
và chúng đã, đang lừa được những người khốn khổ / làm họ khổ hai lần, vì đã khổ rồi, lại bị lừa dối / chúng chôn họ hai lần, đã chết rồi, chúng bới họ lên, giả danh họ, rồi khi dùng xong rồi, thì quăng ném xuống lỗ huyệt và lấp kín / chúng toan giơ tay che kín bầu trời / đánh cắp mặt trời / cướp đi ánh sáng / cướp đi những khả năng của nhận thức, của lương tri / phá nát những bến bờ cuối cùng của hy vọng / bịt đi những tia sáng cuối cùng từ bàn tay cuối cùng giơ lên mong tìm niềm hy vọng cuối...
Friday, July 4, 20251:21 AM(View: 19298)
Tôi có quá nhiều con súc sắc trong cuộc sống / Gieo con nào trật lất con ấy / Muốn xỉu ra tài / Và ngược lại /
Friday, July 4, 202512:16 AM(View: 13036)
Một ngày của trung tuần tháng Chín năm 2002, sau khi thoát ra được vòng rào con Đập Mạn Loan, con đập lịch sử, con đập thủy điện đầu tiên trên sông Langcang-Mekong. Từ huyện Manwan bằng đường bộ, chúng tôi lên tới cổ thành Đại Lý (Dali) trời cũng đã sẩm chiều. Đại Lý vẫn được so sánh như một tiểu Kathmandu của Nepal, nơi có nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử của hơn 1 triệu sắc dân Bạch (Bai) với gốc rễ văn hóa lâu đời từ hơn 3 ngàn năm. Từ thế kỷ thứ 7, đã có một nước Nam Chiếu (Nanzhao) rất hùng mạnh từng đánh bại quân nhà Đường vào thế kỷ thứ 8. Sang thế kỷ thứ 10 trở thành vương quốc Đại Lý cho tới thế kỷ 14, thời Nguyên Mông (Mongol Yuan) thì không chỉ Đại Lý mà toàn vùng Vân Nam đã trực thuộc vào nước Trung Hoa.
Sunday, June 29, 202512:48 PM(View: 16133)
Người ta thường nói nhiều về những trường trung học danh tiếng, những đại học uy nghi, những ngôi trường gắn với bảng vàng truyền thống và hào quang thành đạt. / Ngược lại, rất hiếm người nhắc đến những mái trường nhỏ bé, nơi học trò không tìm kiếm bằng cấp danh giá, không bảng vàng thành tích, không diễn văn khai giảng, không có những kỳ thi náo động – chỉ có những giờ học thầm lặng giữa tiếng quạt máy và mùi nhựa cháy của board mạch. Học để sống, để làm một người thợ lương thiện giữa cuộc đời xô lệch. Trong ký ức ông , giữa muôn vàn lối rẽ của đời sống sau biến cố 1975, có một nơi như thế. Đó là Trường Điện Tử ĐaKao, ngôi trường không có tên trong hệ thống chính quy, nhưng từng là phao cứu sinh cho bao người trôi dạt giữa dòng đời hậu chiến.
Thursday, June 12, 20259:55 AM(View: 18091)
trái bóng vẫn lăn... / mấy ngày ở Seattle / theo đà chiếc bánh lăn / một sáng chế mà người bạn đường một thuở đang gửi gắm / thấy chiếc xe đạp vẫn bươn bả trên đường / dù ở nơi nào / xa vạn dặm quê hương
Wednesday, June 11, 20259:50 PM(View: 20845)
Anh còn có gì / Ngoài khung cửa nhỏ / Em về qua phố / Nắng rực đường đi! -- Em mỉm môi cười: Tình trao ai đó? Lòng anh không gió / Cũng lộng niềm vui /
Friday, June 6, 20254:06 PM(View: 15716)
Năm ấy, khi còn đang mài đũng quần để lấy tấm bằng Master, anh làm thêm trong một hầm rượu. Một quán rượu nằm nửa chìm nửa nổi dọc bờ sông Seine. Anh không muốn xin tiền nàng vào những khoản bí mật của một thằng đàn ông đã đến tuổi tự lập từ lâu, nên cuộc đi làm thêm diễn ra cũng bí mật, kín đáo y như cái quán rượu huyền bí này- nửa chìm, nửa nổi. Sơ mi trắng, nơ đen, chạy băng băng giữa các thực khách, luôn nhoẻn cười quá ư lễ độ, vô cùng nhũn nhặn phô hàm răng khểnh, không ai nhận ra ngài trợ giảng một trường đại học trong trang phục bồi bàn, nói tiếng Pháp chuẩn âm Paris.
Friday, June 6, 20253:23 AM(View: 14912)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
Friday, June 6, 20252:58 AM(View: 15865)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
Saturday, May 31, 20251:27 PM(View: 18839)
Tôi không phải là một “cư dân mạng” thuần thành, nhãn hiệu mà người ta thường dùng để chỉ những người sống trong thế giới ảo nhiều hơn trong thế giới thật. Tuy vậy, tôi vẫn nặng lòng biết ơn tất cả những nhân tài về kỹ thuật tân tiến trên thế giới đã đóng góp vào việc giữ gìn và phát huy kho tàng văn minh của nhân loại qua các nền tảng trên mạng như Google, Facebook, Wikipedia, YouTube... và gần đây hơn nữa là ChatGPT. Những nguồn thông tin đó đã giúp chúng ta học hỏi, tìm hiểu về vốn kiến thức đồ sộ của con người từ đời nay sang đời khác, trong một thời gian rất ngắn. Cuối thế kỷ trước, khi mạng lưới toàn cầu đã ra đời nhưng chưa thông dụng mấy, tôi từng phải vào thư viện biết bao nhiêu lần, nhiều khi chỉ để tra tìm một chữ, một khái niệm, trong suốt thời gian viết luận án của mình. Ngày nay, chỉ cần “nhấp con chuột” một cái, chúng ta đã có thể tìm được điều mình muốn tìm trong tích tắc.
Friday, August 7, 2026(View: 3808)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
Saturday, August 16, 2025(View: 13261)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
Wednesday, December 18, 2024(View: 19629)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
Wednesday, December 18, 2024(View: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
Sunday, October 18, 20266:14 PM(View: 1592)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
Sunday, October 18, 20266:04 PM(View: 1744)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
Friday, October 9, 20266:39 PM(View: 2255)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
Friday, October 9, 20266:09 PM(View: 2388)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(View: 1427)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(View: 2194)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(View: 1923)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(View: 1973)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
Sunday, October 18, 20264:43 PM(View: 1339)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
Friday, October 9, 20265:49 PM(View: 2382)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
Friday, October 2, 202612:54 AM(View: 2573)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
Wednesday, September 23, 202610:53 PM(View: 2336)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
Tuesday, October 27, 2026(View: 227)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
Wednesday, October 21, 2026(View: 779)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
Monday, October 19, 2026(View: 981)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
Monday, October 19, 2026(View: 1060)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
Friday, June 5, 2026(View: 6388)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
Friday, June 6, 2025(View: 15865)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
Friday, December 22, 2023(View: 32123)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
Wednesday, April 27, 2022(View: 38846)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(View: 1446)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(View: 13875)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(View: 6882)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(View: 10651)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(View: 9851)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(View: 9971)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(View: 10766)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
Monday, September 14, 20262:19 AM(View: 3432)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
Friday, October 31, 202510:09 PM(View: 11109)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
Saturday, October 25, 20251:53 AM(View: 10339)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi