- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ

13 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 120296)
 mua_dinhcamly-content
 Mưa_photo Dinh Cam Ly
 

*Viết tặng nhà văn Trần Vũ

 

Tìm hiểu bút pháp của một nhà văn, là tìm hiểu những gì ám ảnh hay ít nhất đã gây ấn tượng trong tâm trí nhà văn để làm nên bút pháp ấy. Trần Vũ đã mở đầu bài ký Di vật [1] bằng những dòng bộc bạch: ‘‘Mỗi con người ngày nay mang trong mình một di vật. Với tôi là chiến tranh và tiểu thuyết. Chiến tranh của suốt tuổi hoa niên không bao giờ chấm dứt và tiểu thuyết của một thời đại đã biến mất...” Chỉ mấy câu văn ngắn ngủi nhưng đã cho tôi hiểu về anh nhiều hơn những gì mà câu chữ truyền tải.

 

Theo tôi, “di vật” của Trần Vũ không chỉ có chiến tranh và tiểu thuyết mà còn là những cơn mưa. Không ngẫu nhiên mà trong truyện ngắn của anh, mưa được miêu tả trở đi trở lại nhiều lần, rất đẹp và đầy biến ảo. Trong một lần trò chuyện, anh chia sẻ rằng: ‘‘Tôi ưa mưa. Tôi không thấy ở đâu mưa đẹp bằng ở xứ nhiệt đới. Mưa làm cảnh vật xanh um lá và làm dịu không gian. Mưa đem đến sự reo vui của âm thanh và sự trong trẻo của nước. Mưa ở Á châu cuồng mạnh và ầm ĩ. Mưa như xối nước, mưa vang tiếng cười trẻ thơ và sự giao hòa trời đất lồng lộng... Sống xa quê, tôi rất nhớ những cơn mưa quê nhà”.

 

Khảo sát trên những văn bản tác phẩm của Trần Vũ, tôi thu được một kết quả khá thú vị: có tổng số 13 trên 27 truyện ngắn mà trong đó có sự hiện diện hình ảnh của những cơn mưa. Điều này đủ để nói lên rằng mưa chiếm một vị trí nhất định trong ký ức của anh ― có thể nói gần như một nỗi ám ảnh.

 

Cắt nghĩa hình ảnh mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ, bài viết của tôi chú ý hai phương diện sau: Mưa ― cảnh sắc thiên nhiên huyền ảo, dữ dội và say đắm; Mưa ― biểu tượng mang tính ẩn dụ đa nghĩa.

 

 

1. Mưa — cảnh sắc thiên nhiên huyền ảo, dữ dội và say đắm.

 

Đem theo ký ức vào những trang văn, mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ trước hết được miêu tả với vẻ đẹp huyền ảo, nên thơ gợi sự say đắm, trong trẻo. Đó là hình ảnh của cơn mưa chiều được ví như một dải lụa dài mềm mại, thướt tha vắt ngang qua không gian bao la của núi đồi trong truyện ngắn Nhã Nam [2]: ‘‘Nhã Nam buổi chiều mưa căng qua rừng vải giống lụa ướt máng dài tới núi..”. Nhìn từ trên cao, dải lụa mưa ấy sáng lên vẻ lung linh và thanh khiết làm lay động hồn người không thôi: “mưa Nhã Nam trong, đẹp như hạt ngọc”. Nếu mưa Nhã Nam mang vẻ đẹp mềm mại, duyên dáng thì những cơn mưa ở Thuận Hóa trong Cái chết sau quá khứ [3] lại mang vẻ đẹp vừa huyền ảo vừa cuồng nhiệt, đam mê, chan chứa. Đó là những trận mưa đầu thu với những hột mưa nhỏ mà tròn mọng: ‘‘mưa ở phá đẹp kì ảo. Cả một vùng trắng ngần trắng lịm, những tảng nước trắng xóa lồng lộn sa sầm xuống mặt đầm rồi tung bắn lên quẫy với hơi sương, giăng giăng mờ mờ, chạy chạy đường võng trên không. Mưa ở phá rầm rập ào ạt mạnh mẽ. Bầu trời trắng lòa lòa những nước là nước”. Còn là làn ‘‘mưa xuân trắng mờ mịt cánh đồng’’ khiến cho “cả một mặt ruộng như điểm sương, trổ mai trắng, mọc rưng rức đến ngút ngàn..”.

 

Như một đối tượng khách thể, mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ không chỉ mang vẻ đẹp huyền ảo, nên thơ, trong trắng mà còn chứa đựng cả những gì dữ dội, bí ẩn và đầy khắc nghiệt của thiên nhiên. Những tính cách tưởng như rất mâu thuẫn ấy lại là đặc trưng của mưa nhiệt đới ― những cơn mưa vốn đẫm ướt trong kí ức của nhà văn. Ai đã từng đọc truyện ngắn Trần Vũ, hẳn còn nhớ trận mưa kinh hoàng của một cơn bão trên đại dương trong Biển san hô [4]: ‘‘Cơn bão đổ ập bất ngờ không báo trướcmưa rơi ngay sau đó, mạnh bạo bắn đâm lớp lớp xuống mặt biển cũng dậy sóng theo […]. Cả đại dương tối sầm, xám xịt không trông rõ quá ba thước. Hạt mưa nặng như mũi dao đâm lún vào da mặt mọi người. Tiếng sóng reo dậy lên ở tứ phía…”.Không phải ngẫu nhiên mà trận mưa trong Biển san hô được nhà văn đặc tả đầy dữ dội, hung hãn tựa như cơn cuồng nộ của đất trời. Theo lời kể của Trần Vũ, đó là một trải nghiệm mà anh không thể nào quên trong quãng đời thuyền nhân của mình: “chúng tôi đang đóng bè bơi lóp ngóp trên biển, bỗng một trận mưa sa xuống làm mặt biển Thái Bình Dương đang bằng phẳng dậy lên những cột gai mưa như bàn chông”.Trong truyện ngắn Vĩ Diên [5], sự cuồng nộ của mưa một lần nữa lại được tái hiện trên trang văn: ‘‘Trận mưa đầu của tuần lễ Tro trút lên mái tất cả giông tố của núi rừng”. Và hẳn độc giả cũng không quên “những cơn mưa Miên nóng và độc ” được Trần Vũ nhắc tới trong Đồng cỏ Miên [6]: “Những giọt mưa nóng và nặng hạt” của một vùng đất lam sơn chướng khí không làm mát mà chỉ gây khó chịu. Chưa hết, nó còn làm cầu nối tới cõi chết khi gieo rắc bệnh tật cho con người. Theo lời kể của Trần Vũ, đó là một trải nghiệm mà anh không thể nào quên trong quãng đời thuyền nhân của mình:“Bên cạnh đó, mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ còn toát lên vẻ u ám, hiu hắt như cơn mưa của một ngày ám trời trên đầm Thị Nại trong Mùa mưa gai sắc [7]: “cả một mặt đầm gợn sắc mây, mưa lướt thướt mỏng như những cánh chuồn rù rì vẩn vơ trên mặt nước”. Hay mưa khô cằn ở Quy Nhơn: ‘‘Tôi biết Huệ đã lâu. Từ lúc Huệ còn niên thiếu, những trận mưa rào còn bất chợt đổ về qua qua ấp Tây Sơn, thứ mưa nóng và ẩm của vùng Qui Nhơn sỏi đá…” hoặc mang vẻ ảm đạm, đìu hiu, lạnh lẽo bao phủ không gian nghĩa trang trong Buổi sáng sinh phần [8]: ‘‘Mưa vẫn còn rơi lai rai khi Điềm vào tới nghĩa trang. Hai ven đường mồ mả mọc đìu hiu nằm men sau dẫy tường thấp. Gió thổi bời rời, phe phẩy dăm ba hột mưa ảm đạm. […] Trời mưa ri rỉ suốt cả một buổi làm bầu trời xám ngắt như đã ngã về chiều dù chỉ mới quá trưa”.

 

Tóm lại, với tư cách là một khách thể của thiên nhiên ― mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ được miêu tả với dáng vẻ khá đa dạng: vừa huyền ảo, trong trẻo, say đắm vừa dữ dội, cuồng nhiệt và bí ẩn. Những giọt mưa, những cơn mưa trở đi trở lại, không còn thuần túy là những cơn mưa của tự nhiên mà đã đan dệt thành nhiều biểu tượng ẩn dụ đặc sắc.

 

 

2. Mưa — biểu tượng mang tính ẩn dụ đa nghĩa.

 

Trong văn hóa nhân loại, mưa được coi là biểu tượng của những tác động của trời mà mặt đất tiếp nhận được. Mưa là tác nhân làm cho đất sinh sản, nhờ mưa mà đất được phì nhiêu, màu mỡ. Mưa là ân trời, cũng là đức hiền minh. Mưa đem đến sự phong nhiêu tinh thần và vật chất. Bên cạnh đó, mưa còn được nhìn nhận như là biểu tượng của tính dục: nước mưa được coi như tinh dịch. Trong biểu tượng giao phối giữa Trời và Đất, mưa là tinh khí làm thụ thai. Có khi mưa còn được đồng nhất với máu.

 

Với tần số xuất hiện không nhỏ, mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ còn xuất hiện với tư cách là một biểu tượng nghệ thuật đa nghĩa. Biểu tượng mưa trong truyện ngắn Trần Vũ không chỉ là sự tiếp nhận những ý nghĩa vốn có trong mẫu gốc mà thiên về sự sáng tạo, bổ sung các hướng nghĩa mới cho mẫu gốc. Tựu trung lại có một số hướng nghĩa chủ yếu sau đây:

 

 

2.1. Mưa — sức mạnh thanh tẩy, hồi sinh và tái sinh.

 

Mưa với tư cách là sức mạnh thanh tẩy, hồi sinh và tái sinh hiện diện trong một loạt truyện ngắn của Trần Vũ. Đó là những trận mưa được xem như nguồn ân sủng đặc biệt đối với những nữ giao liên trong Bên trong pháo đài [10]. Ngoài sự ngột ngạt, thiếu thốn, hiểm nguy của cuộc sống nơi những căn hầm nằm sâu trong lòng đất, họ còn có một nỗi khổ khó nói: ‘‘trong thâm tâm, lũ con gái mong mưa như đất hạn mong nước”. Mỗi khi trời mưa, họ ‘‘túa đi, thi nhau hứng những giọt nước trong suốt, rỉ nhiễu từ những rễ cây mọc len lỏi trong đất ”. Mưa đánh thức những kỉ niệm êm đềm và những tinh nghịch hồn nhiên trong họ: ‘‘Bốn đứa con gái vụt trở nên trẻ thơ, đùa giỡn tạt nước vào nhau…”. Sau những buổi tắm mưa như thế, cả thể xác và tinh thần của họ đều như được hồi sinh, tràn trề sức sống: “tóc Nhu óng ả mượt mà hẳn lên, thôi dính bệt từng mảng bùn đỏ ké… Da thịt Huệ cũng hồi sinh nuột nà, bay mất mùi bếp và tro than”. Họ cùng quây quần, thủ thỉ kể cho nhau nghe những mẩu chuyện góp nhặt được. Sự khốc liệt và gian khổ của chiến tranh như biến mất, chỉ còn lại tiếng cười khúc khích và sự thư thái trong tâm hồn của bốn nữ giao liên.

 

Tương tự như vậy, trận mưa lớn trong Giấc mơ thổ [11] cũng được nhà văn miêu tả như một tác nhân làm hồi sinh mạnh mẽ từ cỏ cây đến vách đá vô tri: ‘‘Trận mưa mạnh, những hột mưa to, nặng, chậm, sâu… Mưa xắn xuống bao lơn tưới ướt chậu quất. Hơi mưa man mát lẻn vào buồng kêu tí tách. Vách tường ẩm rêu chảy nhờn nước. Khối đá xù xì sát cửa sổ bắt đầu hồi sinh”. Không chỉ làm hồi sinh mạnh mẽ thiên nhiên, cơn mưa ấy còn đánh thức những nhạy cảm bất ngờ trong tâm hồn nhân vật Vĩnh. Anh có thể nghe thấy vạn vật ngoài kia đang “cựa mình tắm mưa”. Hơn cả việc đánh thức sự nhạy cảm của giác quan, cơn mưa ấy đã giúp Vĩnh thanh tẩy “những ám ảnh còn sót từ giấc mơ..”, đem lại sự ‘‘khoáng đạt nội tâm bất chợt”. Nếu chén trà thổ như một liều thuốc đặc biệt ru Vĩnh ngược dòng thời gian, sống với những nỗi ám ảnh của quá khứ thì cơn mưa là tác nhân “làm loãng” ảnh hưởng của nó, đưa anh trở về với hiện tại ― để cảm nhận những gì đang xảy ra xung quanh mình.

 

Không chỉ là nguồn sức mạnh rửa trôi đi những bụi bặm cuộc đời, mưa còn như chiếc cầu nối giúp đôi bạn trẻ trong Đầm lầy hạnh phúc [12] nhận ra và thấu hiểu tình yêu của chính mình. Cơn mưa cuốn trôi đi những giận hờn, lầm lỗi, muộn phiền. Họ đứng trong mưa ― những giọt mưa và nước mắt của họ hòa chung với nhau. Thượng đế đang chia vui hay cảm thương cho tình yêu và hạnh phúc tội nghiệp của họ? Thật khó mà biết được. Chỉ biết rằng dưới cơn mưa ướt đẫm, họ hiểu rằng không thể sống thiếu nhau: ‘‘Mùa hạ còn hay hết? Không còn là vấn đề. Mùa hạ chấm dứt với mọi người dưới kia, dưới cơn mưa đầu thu tầm tã.’’ Nhưng Hạ là tên thiếu nữ, sẽ ở mãi với người thanh niên thuyền nhân từ đây.

 

 

2.2. Mưa tiếng gọi quyến rũ và đam mê của dục tính.

 

Dường như “hấp lực âm dương bẩm sinh thuộc bản tính khởi thủy hằng tồn trong bản thể con người’’ có một sức quyến rũ vô cùng kỳ lạ với tất cả những người cầm bút mà Trần Vũ không phải là một trường hợp ngoại lệ. Trong các truyện ngắn của mình, nhà văn không những khám phá con người từ chiều kích của dục tính mà đôi khi cũng tiếp cận thiên nhiên bằng chính lăng kính này. Điều đó lý giải tại sao không ít những cơn mưa trong tác phẩm của Trần Vũ vang vọng một thứ tiếng gọi của dục tính đầy đam mê, cuồng nhiệt và nồng nàn đến như vậy.

 

Đó là những váng mưa đài các, kiêu sa của Phú Xuân trong Mùa mưa gai sắc: “Mưa ở Phú Xuân là những váng mưa ngà ngọc, buông như buông trướng, kiêu sa đổ đều trên mái tường thành cung điện của Nguyễn Vương ”. Mưa được nhân hóa, gợi liên tưởng đến mái tóc của một người đàn bà đẹp đang làm duyên. Mưa như gọi mời chiêm ngưỡng vẻ đẹp lẳng lơ “da thịt” của Phú Xuân. Mưa còn như cất giấu trong mình nhung lụa, phú quý và quyền uy của nghiệp đế vương từ bao đời. Lần đầu tiên ra Phú Xuân, tắm mình trong những hột mưa đài các và lạnh lẽo ấy là “lần quan trọng nhất” trong đời Nguyễn Huệ. Từ đây ngọn lửa tham vọng trong mắt Huệ như cháy bùng lên mạnh mẽ và càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết ― như không bao giờ có thể dập tắt được. Rõ ràng, mưa ở Phú Xuân không chỉ là cơn mưa tự nhiên của đất trời mà là cơn mưa gợi những ham muốn quyền lực và khát vọng chiếm đoạt nơi Huệ. Sau này, Huệ thu phục Thăng Long bằng cách thức không khác gì hành động cưỡng bức chiếm đoạt thân xác của Ngọc Hân.

 

Tương tự như vậy, trong Cái chết sau quá khứ, mưa được miêu tả vô cùng quyến rũ. Mưa gợi lên những đam mê thầm kín nhưng cũng rất đỗi tự nhiên của con người. Mưa làm tỏa sáng vẻ đẹp quyến rũ của thân thể Ngự ― thân thể thiếu nữ tràn đầy sức sống và gợi tình: ‘‘Vải áo mớ ba chảy dán, bó rịt người, thân thể Ngự nổi lửng lên như một nhành lúa trổ vươn trên mặt ruộng lụt nước. Ngự xõa tóc xổ tung rã rượi, chân dầm trong nước, mắt dầm trong mưa. Ngự xòe hai cánh tay mở lòng đón mưa. Những hột mưa nhỏ và tròn mọng, Ngự bảo là đốt tay Phật, vỡ vào đâu, phúc đến đấy. Phật tắm phúc lên người Ngự. Tôi đứng ngẩn ngơ nhìn phúc của Thượng đế vỡ hoa trên da thịt Ngự”. Không chỉ là tác nhân làm bùng lên khát khao nhục dục, ở đây mưa còn là hiện thân của ước vọng thoát tục khi hóa thành những “giọt phúc” ― là ân sủng của đáng tối cao ban xuống. Tắm mình trong những “giọt phúc” ấy, vẻ đẹp của Ngự vừa gọi mời ái ân vừa rạng ngời sự thánh thiện tinh khôi.

 

Bên cạnh đó, mưa còn là chứng nhân cho cuộc tình vụng trộm ngang trái nhưng cũng vô cùng mãnh liệt của “tôi” và Ngự: ‘‘Mưa đêm nhỏ hột tâm tích, nước nhiễu tong tong […], hơi thở Ngự ấm rát. […] Ngự nhắm nghiền mắt, để yên cho da thịt nở dưới tay tôi. Bao nhiêu lửa ở đống củi, như chảy tuôn hết vào trong người Ngự, căng chín, nóng bỏng… tôi đang uống môi Ngự ngọt lịm nước mưa. Ngự là cuộc đời của lão Chu, là giọt nước tinh chất trong suốt vỡ trên cánh đồng tuổi trẻ bạt ngàn gió chướng trong tôi”. “Tôi” ân ái với Ngự hay ân ái với mưa? Bởi mỗi giọt mưa “tôi” uống từ môi Ngự là một giọt tình chảy lai láng vào trong mình “tôi”. Một bên muốn uống cho đầy nhưng vẫn không thỏa được cơn khát của tâm hồn khô cằn như cánh đồng hoang vu và cô độc. Còn một bên muốn bù đắp, gửi trao và giúp bên kia tìm lại những gì đã mất ― tuổi trẻ, mơ ước, khát vọng. Một cho đi và một nhận về.

 

Mặt khác, cũng trong truyện ngắn này, tác giả còn dành khá nhiều dòng văn để nói về mưa ― như một ẩn dụ khác của hành động tính dục nơi con người. ‘‘… Mà thịt da Ngự thẩm thấu lạ. Mỗi bận mưa giông cả một láng mưa, nhọn hoắt, buốt như kim quất qua mái chùa trước khi đâm xuống mặt hồ xanh ngọc, vậy mà khi gieo xuống mình Ngự, những kim mưa tan biến không để lại dấu vết”. Những câu văn không đơn thuần là tả thực mà còn khơi gợi một tầng ý nghĩa khác nữa. Phải chăng những giọt mưa từ trời rơi xuống cũng tựa như những giọt tinh dịch từ cơ thể người đàn ông trút sang cơ thể người đàn bà trong cơn cực cảm giao hoan. Tất cả đều biến mất, không để lại dấu vết bên ngoài.

 

Có thể nói, việc lồng ghép và miêu tả mưa qua lăng kính của dục tính là một trong những nét riêng của Trần Vũ. Cách tiếp cận này vừa quen vừa lạ. Quen vì đã phản ánh được điều mà tri thức văn hóa nhân loại đã ghi nhận: mưa là biểu tượng hôn phối của trời đất ― nước mưa rơi xuống làm vạn vật sinh sôi nảy nở, tốt tươi. Lạ, vì ngòi bút Trần Vũ táo bạo đồng nhất mưa với thân thể đầy quyến rũ gợi tình, gọi mời ái ân của phái nữ. Kiến tạo ý nghĩa cho biểu tượng mưa là một minh chứng cho thấy sự kế thừa và biến hóa trong sáng tác của Trần Vũ.

 

 

2.3. Mưa nỗi thống khổ của kiếp người.

 

Bên cạnh những nét nghĩa nói trên, mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ còn là chứng nhân cho nỗi thống khổ của kiếp người. Đây là điểm ít thấy trong văn hóa phương Tây nhưng lại bắt rễ sâu xa trong văn hóa của người Việt. Nó kết đọng trong cách giải thích về nguồn gốc của mưa ngâu tháng 7 (truyền thuyết Ngưu Lang - Chức Nữ) và trong quan niệm coi mưa như nước mắt của trời khóc cho những mất mát của cõi người. Hướng nghĩa này có thể tìm thấy trong các truyện: Mưa bên chồng [13], Pháo thuyền trên dòng Yang–Tsé [14], Mùa mưa gai sắc, Cái chết sau quá khứ. Cả bốn tác phẩm đều phản ánh những bi kịch đau đớn của con người ở các hướng tiếp cận khác nhau. Trong mỗi tấn bi kịch ấy, đều có sự hiện diện của những cơn mưa ― vừa như nỗi oán hận, đau đớn, mất mát của chính những người trong cuộc, vừa tựa như là nước mắt của Trời nhỏ xuống khóc thương cho những kiếp người tội nghiệp.

 

Câu ca dao của người xưa: ‘Thân em như hạt mưa sa. Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày thật đúng với số phận của nhân vật Chuyên trong truyện ngắn Mưa bên chồng. Cuộc đời làm dâu của cô buồn nhiều hơn vui, cô đơn sầu tủi nhiều hơn là những phút giây êm đềm hạnh phúc. Chuyên đã sống trong mâu thuẫn giằng xé giữa một bên là bổn phận chung thủy của người vợ với một bên là khát vọng tình yêu nảy nở thầm kín nhưng mãnh liệt. Và cô đã đem nỗi lòng của mình bộc bạch với anh chồng ― người duy nhất có năng cảm thấu cô. Hành động vô tình này đã đẩy Chuyên đến bi kịch oan ức “tình ngay lý gian” khi bị chồng bắt gặp đang ngồi trong lòng anh chồng. Khoảnh khắc bi kịch đó, ngoài sự hiện diện của những người trong cuộc, mưa là một chứng nhân quan trọng. Ban đầu ‘‘mưa rơi nặng nề trên mái’’ như đồng điệu với tâm trạng của Chuyên rồi vụt chuyển biến thành cơn giận dữ ― mưa được ví như cơn thịnh lộ của lòng người bùng cháy lên: ‘‘Ngoài trời mưa đổ mỗi lúc một lớn. Mưa sắc như tiếng Bắc chanh chua của bố mẹ và em chồng. Mưa giận dữ như tiếng cãi vã to tiếng của anh cả và Trường trên lầu. Mưa vỗ thùm thụp trên mái tôn. Mưa vần vũ ngoài trời…”. Mỗi chi tiết tả mưa được đặt trong sự đối xứng song hành đã giúp lột tả rõ hơn tâm trạng bi kịch của nhân vật. ‘‘Mưa sắc, ‘‘mưa giận dữ”, ‘‘mưa vần vũ’’ hay chính là ẩn dụ khác về sự hà khắc của nề thói đạo đức, của những cay độc từ miệng lưỡi người đời trút xuống đôi vai của Chuyên. Nước mưa hay cũng chính là nước mắt của cô tự khóc thương cho chính mình: ‘‘mưa khóc ngất trong lòng nàng”. Ở đây mưa không còn đơn thuần là cơn mưa tự nhiên của trời đất mà là mưa của tâm tưởng ― mưa của một cõi lòng đau đớn, tan nát, sợ hãi và hoang mang.

 

Cùng hiện diện với những thời khắc đầy bi kịch của con người, mưa trong truyện ngắn Pháo thuyền trên dòng Yang–Tsé bao phủ mối tình loạn luân của hai chị em ruột: Chi và Toàn. Tình yêu, tình thương, sự hy sinh là động lực để họ dám vượt qua rào cản của đạo đức để sống và yêu nhau. Tự thân hành động của họ mang ý nghĩa nổi loạn: nổi loạn với đạo đức xã hội và nổi loạn với chính mình. Trong khoảnh khắc họ trao thân cho nhau, làn mưa “rơi rả rích” ngập tràn không gian như là tấm màn che giấu, bao bọc cho tội lỗi của họ. Mưa kết hợp với ánh sáng làm họ trở nên đẹp hơn dưới cái nhìn của nhau: ‘‘Hai chúng tôi đứng gần nhau trong bóng tối, chỉ có ánh sáng của những hạt mưa, phản chiếu từ trụ đèn đường, hắt dội vào buồng điểm lăn tăn lấm tấm những hột nhỏ lóng lánh trên thân thể Toàn”. Mưa đồng lõa với họ nhưng đồng thời cũng cảnh báo họ. Đó là khi ánh chớp lóe lên, soi tỏ, đánh thức họ nhớ lại một biến cố kinh hoàng đã làm cho cuộc đời của họ bị biến dạng méo mó. Quá khứ vụt đồng hiện và sống động lạ lùng. Tưởng như những thanh mã tấu đang “bầm xuống xối xả, … từng nhát, từng nhát man rợ trên mặt mũi Toàn” và “sự đau đớn điên dại” của thân xác Chi đang hiện hữu trong tuyệt vọng. Chỉ một vài chi tiết nhưng cũng đủ nói lên rằng sự ám ảnh của vết thương quá khứ đến từ thảm họa vượt biển đối với họ là quá lớn. Sự ám ảnh không chỉ hiện hữu hằng ngày mà còn có mặt ngay cả những phút giây họ muốn quên đi nó nhất. Sau niềm hạnh phúc của những yêu thương máu mủ được gửi trao, họ bên nhau cảm nhận sự tĩnh lặng của đêm. Lúc này cơn mưa đã tạnh và trăng lên. Khung cảnh yên bình như đồng điệu với tâm trạng của họ: “Đêm thanh vắng che chở cho chúng tôi, không có con mắt của người ngoài, không có luân lý của cuộc đời, không có chi hết, chỉ có chị em chúng tôi yêu nhau”. Theo tôi, không phải ngẫu nhiên mà cuộc tình loạn luân của Chi và Toàn lại bắt đầu vào một đêm mưa. Mưa đấy ― là nước mắt của trời hòa cùng với nước mắt của người trong cuộc vừa cảm thương cho niềm hạnh phúc không trọn vẹn của họ: thứ hạnh phúc chắp vá lại sau những giông bão tàn khốc của quá khứ đã quét qua cuộc đời họ. Mưa đấy ― như lời nhắc nhủ họ rằng: bắt người thân phải hy sinh thân xác vì mình là ích kỷ và sự hy sinh thiếu lý trí sẽ dung túng tội ác. Có thể nói nhờ có sự hiện diện của mưa mà nỗi ám ảnh của mối tình “cật ruột” càng thêm đau đớn day dứt trong lòng những người trong cuộc cũng đồng thời là những nạn nhân tội nghiệp ― mối tình khởi đầu bằng một bi kịch và kết thúc là sự thắt lại của một bi kịch khác, không có lối thoát và chìm vào vô vọng.

 

Nếu Pháo thuyền trên dòng Yang–Tsé phản ánh bi kịch tình yêu loạn luân thì Mùa mưa gai sắc lại đào sâu vào một trong những bi kịch muôn thuở của người Việt: ‘‘hôn nhân, điền thổ, vạn cố chi thù”. Đằng sau mối tình của Nguyễn Huệ và Lê Ngọc Hân ― “người quốc sắc, kẻ thiên tài” vốn được lịch sử ngợi ca thực chất là gì? Thông qua lăng kính “siêu hư cấu”, Trần Vũ đã đem đến cho độc giả một cách tiếp cận mới. Thực chất cuộc hôn nhân của họ là sự phức hợp của những toan tính cá nhân đầy quyết liệt mà không hề được xây dựng trên nền tảng của tình yêu tự nguyện. Lê Ngọc Hân chấp nhận “bán thân xác” để thực hiện âm mưu trả thù và khát vọng trung hưng nhà Lê. Nguyễn Huệ chiếm đoạt, sở hữu thân xác Lê Ngọc Hân một mặt để thỏa mãn tham vọng quyền lực. Mặt khác, đó cũng là cách để lấp đi khoảng trống cô đơn trong tâm hồn. Có phải vì thế mà đêm hợp cẩn của họ thật bất thường: ‘‘Đêm hợp cẩn của Ngọc Hân, mưa xé qua rèm trướng phủ Chúa. Tất cả hầm bức của ban ngày nổ tung xuống góc lầu Tử Các. […] Tiếng sấm dậy vạch chớp những đường dài lóe rực nơi ô cửa ”. Không khí, ánh sáng rực rỡ sắc màu và sự rộn ràng hạnh phúc trong lòng những người trong cuộc hoàn toàn vắng bóng. Chỉ có duy nhất sự dữ dội, cuồng phong của đất trời xuyên qua màn mưa giông như tâm trạng “sắp thành đàn bà” của Lê Ngọc Hân: ‘‘tâm thần Ngọc Hân dao động theo giông bão trộn lẫn những bối rối lo lắng tìm cách khuất phục Huệ”. Suốt đêm hợp cẩn, Ngọc Hân bị hành xác bằng những trận mưa roi “vun vút cuồng nộ” và sự cưỡng bức thô bạo của Nguyễn Huệ. Mưa giông cũng vần vũ ngoài trời không ngớt: “những hột mưa gai sắc như muốn trổ mái bắn xuống mình Ngọc Hân ẩm ướt, tủi hổ”. Không phải là những giọt mưa bình thường mà là “những hột mưa gai sắc” ― những giọt nước như mang trong lòng nó sự cứng sắc, xù xì gai góc, nhọn hoắc mà chức năng duy nhất là làm đau đớn. Những hột mưa như những chiếc gai nhọn đâm vào, khoét sâu thêm mãi cõi lòng nhục nhã tan nát của Lê Ngọc Hân, nhân lên nỗi tủi hổ vô cùng.

 

Cuối cùng, Cái chết sau quá khứ là một sự trùng phức hai bi kịch tình yêu: tình yêu đồng tính và tình yêu loạn luân. Tác giả đã khéo léo lồng ghép những bi kịch này trong mối tình của tôi và Ngự ― thực ra là mối tình giữa người mẹ và con gái. Mối tình này phản ánh một điều có thật của người Việt: đó là sự khăng khít, tình cảm quyến luyến gắn bó giữa mẹ và con gái đến mức sinh con ra rồi yêu con gái của chính mình như say người yêu ― yêu nhiều đến mức thành ra loạn luân. Và mối tình ngang trái này không thể thiếu mưa như là một nhân chứng quan trọng. Mưa có mặt trong giây phút yêu đương chan hòa hạnh phúc của họ, khi tôi “uống môi Ngự ngọt lịm nước mưa”. Rồi biến cố ập tới chia cắt họ thì mưa cũng mang nỗi đau của sự chia ly. Những giọt mưa không còn là những hạt nước trong ngần ấm áp mà mang trong mình tất cả sự lạnh lẽo và đau đớn của lòng người: ‘‘Những cơn mưa tầm thu trở về qua đất Thuận Hóa lạnh tăm tăm từ sau khi Ngự đi ở Nội. Váng mưa không còn trong mà đục. Hột mưa nặng như có huyết, nhễu xuống da buốt thấu xương tủy.[…] Mỗi giọt nước là một khối chờ đợi, thai nghén, thành hình, dâng tròn rồi căng cứng mạch máu đầu óc đến lúc vỡ tung vào hư không vắng lặng. Tất cả tẻ nhạt, trầm buồn, u uất”. Bằng phép so sánh lạ hóa, hình ảnh mưa nhân lên những xúc cảm và đem đến cho người đọc nhiều liên tưởng. ‘‘Hột mưa nặng như có huyết” ― mưa được đồng nhất với máu ― của xót xa khi Ngự bị đem tiến cung để đổi lấy vinh hoa phú quý. Mưa thoát thai từ những mong ước ấp ủ là ‘‘khối chờ đợi, thai nghén, thành hình …” của niềm yêu thương bị đánh mất, chỉ còn lại nỗi u uất.

 

Như những chứng nhân từ nỗi đau khổ của kiếp người, mưa trong truyện ngắn của Trần Vũ được nhìn từ khoảng cách rất gần với con người. Đôi khi, mưa không còn là hiện tượng tự nhiên khách quan mà nhập vào cõi lòng, hòa cùng tâm trạng của nhân vật. Lý giải điều này, có thể bắt nguồn từ cảm thức chủ quan và dụng ý sáng tạo của nhà văn.

 

 

*

 

Nói đến thành công về mặt bút pháp nghệ thuật trong truyện ngắn Trần Vũ, có thể kể ra một số phương diện tiêu biểu. Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót nếu bỏ qua hệ thống các biểu tượng trong tác phẩm của anh. Nhìn chung hệ thống biểu tượng trong truyện ngắn của Trần Vũ tương đối đa dạng, độc đáo và sinh động. Ngoài biểu tượng mưa, có thể kể đến hệ thống biểu tượng không gian và biểu tượng đồ vật: như đàn dương cầm trong truyện Dương Cầm [15], căn hầm trong Bên Trong Pháo Đài, bức tranh trong Vườn Thượng Uyển Bỏ Hoang [16], căn nhà trong Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu [17], bức tường trong Gia Phả [18], mồ mả trong Buổi Sáng Sinh Phần, v.v.. Giữa những biểu tượng này, mưa xuất hiện với tần số cao nhất và chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa biến hóa.

 

Còn không gian? Đọc lại nhập đề của Cái Chết Sau Quá Khứ một lần nữa để thấy hết chất dữ dội của thiên nhiên ập vào con người:

 

‘‘Ngày xưa, những cơn mưa đầu thu về qua đất Thuận Hoá tuyệt dữ dội. Lão Chu là người thường rủ tôi đi ngắm mưa. Lão đứng hàng giờ ở phá, ngẩng cổ, ngửa mặt thách thức cơn giận dỗi của trời đất. Mưa chúi xuống đất, mưa tắm lên đầu, mưa cắm đầy miệng lão, song lão Chu vẫn trơ trẽn cướp giật thức uống với thượng đế. Lão phá ra cười; tiếng cười sằng sặc lăn lộn trên sóng. Lão Chu nuôi tôi bằng tiếng cười khật khùng điên dại của lão. Nhưng dạo đó tôi còn trẻ, chưa khùng, cũng chưa dại. Tôi chỉ mới bắt đầu biết say mưa. Mà mưa ở phá đẹp kỳ ảo. Cả một vùng trắng ngần, trắng lịm, những tảng nước trắng xóa lồng lộn sa sầm xuống mặt đầm rồi tung bắn lên quẫy với hơi sương, giăng giăng mờ mờ, chạy chạy đường võng trên không. Mưa ở phá rầm rập, ào ạt mạnh mẽ. Bầu trời trắng lòa lòa những nước là nước.

Từ khi biết say mưa, tôi đâm biết say Ngự. Những lần theo lão Chu ra phá, Ngự đẹp man dã. Vải áo mớ ba chảy dán, bó rịt người, thân thể Ngự nổi lửng như một nhành lúa trổ vươn trên mặt ruộng lụt nước. Ngự xõa tóc xổ tung rã rượi, chân dầm trong nước, mắt dầm trong mưa. Ngự xòe hai cánh tay mở lòng đón mưa. Những hột mưa nhỏ mà tròn mọng. Ngự bảo là đốt tay Phật, vỡ vào đâu, phúc đến ấy. Phật tắm phúc lên người Ngự. Tôi đứng ngẩn ngơ nhìn phúc của Thượng Đế vỡ hoa trên da thịt Ngự. Lão Chu lại rống tiếng cười sang sảng, thỏa mãn đã uống hết cơn bão mùa vào bụng. Lão trỏ ngón tay lóng nhọn chỉ lên trời, rồi chỉ vào bụng hỏi: Cuộc đời muốn cái chi? Lần nào cũng như lần ấy, trăm lần như một, lão Chu tự giải đáp một mình. Lão gọi Ngự, vít lấy đầu cổ ướt nhẹp của Ngự, cắn vào rái tai Ngự, rồi run run trả lời: Ngự là cuộc đời! Ngự là cuộc đời! Lão Chu lại ré lên cười the thé sung sướng. Mỗi lần lão Chu làm những cử chỉ khật khùng đáng ghét đó, thay vì bực tức, Ngự lại phát tiếng cười con gái đương thì ròn tan. Giọng cười của Ngự cũng như của lão Chu bắn theo mưa, châm chích, rả rích, làm tay chân tôi bủn rủn. Vì không hẳn chỉ đơn thuần là giọng cười mà là tiếng kêu khát vọng của một loài sinh vật thèm khát thiên nhiên lẫn hạnh phúc của sự sống. Lão Chu ngắm Ngự, rồi nhìn tôi kiêu hãnh. Bão đã đong đầy bụng lão, bão ngập trong ruột, bão làm căng lòng dạ khác thường của lão Chu. Lão tiến lại gần hỏi: Mi hiểu không? Tôi trả lời: Tôi hiểu, tôi hiểu... Mưa ở Thuận Hóa cực kỳ huyền ảo.’’

 

Và một đoạn khác nữa, đầy tương phản trong tính chất thơ mộng:

 

 “…Những cuống sen xanh mát rượi, những lá sen mượt mà trải rộng như những lát chiếu hoa điều đỏ nắng, che chở cho tôi với Ngọc Trản trốn Phật Thích Ca. Nước hồ lạnh mát. Trong vắt. Ngọc Trản lặn thât sâu, tóc bềnh bồng như vi cá. Lúc tôi với Ngọc Trản trồi lên giữa những đài sen nhụy vàng óng ánh, sư ông và các sãi đã về chùa, chỉ còn âm vang tiếng hét lão Chu váng âm rơi vỡ rợp trên những tàu sen chật mặt nước. Cả một đầm sen xanh ngắt run rẩy lay động. Các cuống sen cong búp, như thể tiếng kêu của lão Chu làm chúng sợ hãi. Từng hột nước, từng hột nước chảy lăn trên mình Ngọc Trản. Tôi cúi xuống vết thương giữa bụng Ngọc Trản còn nở ngát.”

 

 

Có còn là văn hay đã là họa phẩm? Tôi từng tự hỏi câu này, như nhà thơ Phan Tấn Hải từng nhận xét: Trần Vũ vẽ tranh dã thú, thuộc trường phái dã thú… Nếu đem vào những màn mưa giăng mắc để tạo không khí riêng cho mỗi câu truyện ― cho từng câu truyện thấm đẫm cảm giác hư ảo và mênh mang ― thì Trần Vũ đạt đến điều anh muốn. Dưới màn mưa không rõ tiếng, không rõ hình, ngòi bút của nhà văn lay động nhân vật biến chúng từ người thành thú, từ thú hóa người cực hung hãn, giao hoan giữa thú với thú, hay giữa thú với người hoặc ăn tươi nuốt sống nhau không còn là nghi vấn, vì người đọc thẩm thấu nét họa vô tình bước vào một thế giới tuy giả định đã đầy mê hoặc.

 

Văn chương, nói như Kundera, là cường độ của sự rung cảm. Sự rung cảm của một ngòi bút diễn ra qua suy nghĩ mà trong suy nghĩ có hình ảnh, rồi bên trong là tính tượng trưng của biểu tượng. Với Trần Vũ, là Mưa.

 

Nguyễn Hạnh Nguyên 

Hạ Long, tháng 2-2011.

 



[1] ký Di Vật, tập san Hợp Lưu in lần đầu năm 2008

 

[2] truyện ngắn Nhã Nam, nguyệt san Văn Học in lần đầu năm 1996

 

[3] trung thiên truyện Cái Chết Sau Quá Khứ , nguyệt san Thế kỷ 21 in lần đầu năm 90,

 

[4] trung thiên truyện Biển San Hô đăng lần đầu trên nguyệt san Làng Văn năm 1988

 

[5] truyện ngắn Vĩ Diên, tập san Hợp Lưu in lần đầu năm 2000,

 

[6] truyện ngắn Đồng Cỏ Miên đăng lần đầu trên nguyệt san Làng Văn năm 1988

 

[7] truyện ngắn Mùa Mưa Gai Sắc, tập san Hợp Lưu in lần đầu năm 1992

 

[8] ] truyện ngắn Buổi Sáng Sinh Phần, nguyệt san Văn in lần đầu năm 1991,

 

[10] truyện ngắn Bên Trong Pháo Đài, nguyện san Văn Học in lần đầu năm 1989

 

[11] trung thiên truyện Giấc Mơ Thổ, tập san Hợp Lưu in lần đầu năm 1994

 

[12] truyện ngắn Đầm Lầy Hạnh Phúc, nguyệt san Văn in lần đầu năm 1989, in lại trong tập Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu, nxb Thời Văn 1991

 

[13] truyện ngắn Mưa Bên Chồng, nguyệt san Thế kỷ 21 in lần đầu năm 90, in lại trong tập Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu, nxb Thời Văn 1991

 

[14] truyện ngắn Pháo Thuyền Trên Dòng Yang-Tsé, Văn Học in lần đầu năm 1991

 

[15] truyện ngắn Đàn Dương Cầm, nguyện san Văn Học in lần đầu năm 1989

 

[16] truyện ngắn Vườn Thượng Uyển Bỏ Hoang đăng lần đầu trên nguyệt san Làng Văn năm 1988

 

[17] truyện ngắn Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu, Văn Học in lần đầu năm 1989

[18] truyện ngắn Gia Phả, tập san Hợp Lưu in lần đầu năm 1992,

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 418)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 309)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 304)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1311)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1361)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1320)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1203)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1237)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1357)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
26 Tháng Sáu 20262:03 CH(Xem: 1172)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10368)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17201)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16235)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16710)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 303)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1360)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1354)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2068)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 307)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1320)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1172)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
(Xem: 2621)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 418)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1311)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1202)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1237)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3001)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2823)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3266)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 3278)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2062)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13893)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30015)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36062)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11516)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13012)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2768)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3924)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3917)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4446)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4944)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8248)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7625)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10578)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.