- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,500,905

Catherine Cusset Robbe-Grillet hay sự khủng bố văn chương

19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 68592)
cathe_tranvu
Catherine Cusset
Robbe-Grillet hay sự khủng bố văn chương
Trần Vũ chuyển ngữ

Catherine Cusset, tác giả của tiểu thuyết Tương Lai Sáng Lạn thanh toán giáo hoàng của Tân Tiểu Thuyết mà bút pháp ru ngủ chỉ nhằm ca ngợi chính giáo hoàng. [Tuần san Marianne]

Khi tòa báo đề nghị tôi tham gia viết về các nhà văn mà giá trị được cường điệu cao hơn giá trị thật của chính họ, tôi đã nghĩ sẽ từ chối. Tại sao phải tự mình tạo thêm kẻ thù một cách miễn phí? Rồi Robbe-Grillet xuất hiện trong đầu. Trước tiên, ông đã chết, như thế tôi không thể gây tổn thương cho ông. Sau nữa, tôi cần thanh toán mối hận với ông từ thuở học dự bị Văn khoa. Tôi đã đọc tất cả những tác phẩm của Robbe-Grillet. Tôi từng viết một truyện ngắn lấy cảm hứng từ lối viết của ông và đã đưa truyện này cho một người bạn đọc. Kết quả chẩn đoán của cô bạn: chán bắt chết. Tôi đã cảm thấy thật sự bị xúc phạm. Thật may mắn, sự kiêu hãnh đang học lớp Văn chương Cao cấp, cho phép tôi kết luận là cô ta không hiểu gì hết.
Và rồi tôi đang viết về Alain Robbe-Grillet.
Tôi đã đi nghe nhà văn thuyết trình về Roland Barthes cách đây vài năm, dịp hội thảo tại đại học New York về Barthes. Trước một hội trường đầy người, nhà văn bắt đầu: “Lần cuối cùng tôi gặp Barthes, hắn đã nói thế này về tiểu thuyết của tôi…” tiếp theo là hai mươi phút cống hiến đặc biệt cho việc phân tích kỹ thuật viết văn của Alain mà không hề nhắc lại tên Barthes một lần nào nữa.
Tại sao phải ra sức kịch chiến với một nhà văn mà ngày nay gần như không còn ai đọc nữa? Vì ông ta là giáo hoàng vĩnh cửu của thể Tân Tiểu Thuyết. Ở con người Robbe-Grillet, sự thực hành văn chương luôn đi kèm với một lý thuyết, ngay cả khi Robbe-Grillet hạ bút viết vào dòng đầu tiên của tiểu luận Vì một nền Tân Tiểu Thuyết: “Tôi không phải là một lý thuyết gia về tiểu thuyết”. Robbe-Grillet là một gương mặt rất Tây. Trên xứ Pháp, người ta vẫn không ngừng tự hỏi tiểu thuyết đang ở đâu, phải làm gì giúp tiểu thuyết tồn tại, quan tâm về tiểu thuyết nhiều hơn so với ở Hoa Kỳ, nơi mà tính thực dụng lấn át sự trừu tượng và là nơi mà bút pháp được dạy trong chương trình Cao học Nghệ thuật như công việc của một thợ thủ công. Tiểu thuyết gia Hoa Kỳ không tìm tòi để đổi mới thể loại mà chỉ thêu dệt tác phẩm của mình một cách đơn giản bằng từng sợi chỉ, với tất cả khiêm nhường của một thợ khéo tay.
Tôi đọc lại một số tiểu thuyết của Robbe-Grillet. Tôi chấp thuận cách lập câu hoàn chỉnh, phẳng, chính xác: “Hiện giờ bóng của chiếc cột ― cây cột đang nâng đỡ góc tây-nam của mái ― chia vùng góc đối diện với hiên nhà thành hai phần bằng nhau.” Tiểu thuyết Ghen đã nhập đề như vậy. Thật lý thú khi nhận ra bút pháp. Nhưng bút pháp ở đây có cái gì đó chán ngắt. Tôi không thể tự ngăn mình đặt câu hỏi: tại sao những tác phẩm của Alain Robbe-Grillet lại có thể chán đến như thế? Và: sự tẻ nhạt có thủ tiêu việc bán tác phẩm văn chương? Đôi khi phải băng qua không biết bao nhiêu trang nhạt nhẽo trước khi được đưa đến một nơi khác. Ai không tự cảm thấy nhàm chán khi đọc Balzac mô tả lê thê kỹ thuật sản xuất giấy, và ai ngán trường thiên Ảo Vọng Đánh Mất? Nhưng người đọc nghĩ gì khi đọc hết nguyên một quyển tiểu thuyết mà hoàn toàn vô cảm? Không có tình cảm nào cháy bỏng và dễ dàng truyền đạt bằng sự ghen tuông. Trong tiểu thuyết Ghen: chủ đề vắng mặt, giọng văn đông cứng. Làm như Robbe-Grillet tìm cách tránh né những chiếc bẫy nhân sinh thay vì biểu cảm tình cảm của nhân vật kể chuyện. Tương tự trong tiểu thuyết Thần Linh, câu văn êm, đầm, không gồ ghề. Người kể chuyện tự xưng tôi và diễn đạt ước muốn của mình. Nhưng ước muốn đó không ai cảm nhận được. Tiểu thuyết gia của Người Phi Lý, Robbe-Grillet tự xem kế thừa Kafka. Nhưng, khác với Kafka, ông không truyền tải được cho chúng ta nỗi lo sợ trước sự phi lý. Ông không bước vào mà đứng bên ngoài, đùa vui nhẹ nhàng. Chúng ta muốn đúc kết: nhà văn không tin điều này, nếu không lập tức trông thấy ở khóe môi của nhà văn thông minh một nụ cười khẽ cho thứ từ vựng xưa đầy siêu hình mà ông đã vượt qua.
Lý thuyết về Tân Tiểu Thuyết giống như câu chuyện về những bộ y trang của nhà vua. Tương tự những thợ dệt bán cho đức vua bộ y phục lộng lẫy, nhà văn kiêm lý thuyết gia tuyên ngôn: “Những ai không nhìn thấy sự mới mẻ căn bản và cần thiết trong bút pháp của trường phái Tân Tiểu Thuyết là những kẻ thật sự ngu xuẩn.” Không ai còn dám thú nhận mình không thấu hiểu vì không muốn bị xem là những kẻ đần. Cuối câu chuyện, kẻ sắm vai trẻ con kêu lên: “Nhà vua hoàn toàn trần truồng!”, kẻ đó chính là công chúng, không dễ bị lừa vì biết đi tìm sự cảm thú khi đọc tiểu thuyết.
Đọc lại những trang phê bình của Nathalie Sarraute và Alain Robbe-Grillet công bố vào những năm từ 1950 đến 1961, tôi rất kinh ngạc bởi tính hiện đại trong các bài viết của họ, giống như câu hỏi đặt ra đối với tiểu thuyết không hề thay đổi trong vòng 50 năm qua. Họ tấn công vào những khái niệm về nhân vật, về tính chất, về cốt truyện, về tình tiết, và họ bảo vệ sự tiến triển cần thiết của thể loại tiểu thuyết. Bản ghi nhận của Robbe-Grillet năm 1957, mà tất cả các nhà văn hôm nay đều muốn nhận là của mình: “Thay vì mang bản chất chính trị, cách dấn thân, đối với một nhà văn, là ý thức trọn vẹn về những vấn đề của hiện tại qua ngôn ngữ của hắn, cùng niềm tin vào sự cực kỳ quan trọng này với ý chí giải quyết những vấn đề từ bên trong.”
Nhưng với tôi, dường như từ những câu hỏi giống nhau, các nhà văn của trường phái Tân Tiểu Thuyết đã trả lời hoàn toàn khác nhau. Sarraute viết trong Thời Hoài Nghi: “Cuộc đời mà bên trên xây cất nghệ thuật, sau cùng rồi, cũng chính cuộc đời đào thải những hình thái đầy hứa hẹn trước đây, để chuyển dịch đi nơi khác.” Bút pháp tiểu thuyết, trước tiên là công cuộc tìm kiếm sự thật phải giành được bằng thao tác khổ nhọc, một sự thật tìm thấy trong đời sống của con người, từ “những trạng thái tâm lý mới”, “phức tạp và tinh tế”, “tế nhị và bé nhỏ”, mà tiểu thuyết gia như một nhà khảo cổ đào bới tâm hồn, tìm cách khám phá.
Robbe-Grillet, phần ông, phán đoán bổn phận của tiểu thuyết gia là phải loại bỏ vũ trụ của những truyền đạt đã kế thừa (tâm lý, xã hội, chức năng) để thay thế bằng sự thật tinh ròng, vật chất, thế giới hữu hình và khách quan mà đến hôm nay chưa có ai thật sự nhìn thấy: “Chung quanh chúng ta, thách thức bầy tĩnh từ tâm linh hay vật chất, toàn cảnh là như vậy. Bề mặt của chúng rõ ràng và trơn tuột, nguyên vẹn […]. Toàn bộ văn chương của chúng ta chưa tiêu hao được một góc nhỏ nhất, để làm mềm đi bất kỳ đường cong nào.” Cách diễn tả quý báu của Robbe-Grillet giúp ông kháng cự lại cảm xúc: “Tĩnh từ khách quan, tả chân, là thứ tĩnh từ tự thu vào việc đo lường, định vị, giới hạn, định nghĩa, để cho thấy một cách khái quát con đường khó khăn của thể loại Tân Nghệ thuật Tiểu thuyết”.
Tư thế tiểu thuyết này với cách thức không muốn vận dụng xúc cảm, chống lại việc đào sâu bằng cách tôn trọng tính bề mặt của thế giới, không đứng vững. Robbe-Grillet, tự bản thân, vào năm 1961, trong một bài viết lấy tựa “Tân Tiểu thuyết, Tân Nhân sinh”, đã mâu thuẫn với các diễn văn trước đây. Ông viết: “Chủ thể trong trong tiểu thuyết của tôi không thể hiện diện bên ngoài những nhận thức của con người, thật sự hay tưởng tượng. […] Tùy theo tên gọi mà chúng ta đặt cho sự vật, chúng luôn hiện diện trong tác phẩm. Hãy nghĩ đến Balzac”. Balzac, mà Robbe-Grillet từng khước từ cách viết tiểu thuyết vì xem đã lỗi thời, mà bây giờ ông dùng như một tấm khiên. “Tân Tiểu Thuyết đến với những ai vững lòng tin”, Robbe-Grillet xác định, tìm cách thuyết phục độc giả đây là loại tiểu thuyết dễ đọc, chỉ có phê bình ác cảm đã lừa dối độc giả là khó khăn. Chúng ta thấy lập lại hội chứng y phục của hoàng đế. Tất cả những ai dám nói tiểu thuyết của Robbe-Grillet là chán chường, sẽ đơn giản bị quy kết là thiếu đức tin.
Tôi không tìm cách tấn công lý thuyết Tân Tiểu Thuyết đã trưng bày các giới hạn. Tôi không tin vào các lý thuyết mà tin vào những sáng tạo cá nhân. Nếu tôi tố cáo để chấm dứt một sự bịp bợm, chính vì sự bịp bợm của các diễn văn tập thể về văn chương, thuộc bất kỳ phe phái nào, đã đề ra các luật lệ, một chân lý hay những giáo điều nhằm khủng bố văn chương.

Catherine Cusset
Trần Vũ chuyển ngữ.

Nguồn: trang văn học của tuần san Marianne số 639 ra ngày 18 tháng 7, 2009
(*) Catherine Cusset sinh năm 1963, giảng dạy văn chương trong mười năm tại đại học Yale và là tác giả tiểu thuyết Tương Lai Sáng Lạn (Un brillant avenir).

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 94670)
một con thuyền dính bùa ngải của sông ý nghĩ găm đầy tháng năm mắc cạn em cố quên làm gì! khi ngay cả cánh tay anh cũng ảo
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 70990)
Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Ngô Thế Vinh còn là một sinh viên y khoa, đảm nhiệm chức vụ chủ bút cho tạp chí Tình Thương, tờ báo của những người sinh viên áo trắng. Trong thời gian này tôi là một sĩ quan rất trẻ của QLVNCH. Cả Ngô Thế Vinh và tôi bị cuốn vào một biến động làm rung chuyển rừng núi Tây Nguyên: vụ nổi loạn đòi tự trị của những sắc tộc thiểu số, mà báo chí thời đó gọi là FULRO.
19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 70610)
...Chết tuy biết vì sao mình chết, do đâu mình chết mà không làm gì được. Chết một lần dưới làn đạn Tây dương. Chết thêm một lần về tinh thần bởi lòng trung bị khủng hoảng, bị phản bội, ấy là thời đại của những con người như Hoàng Diệu, ấy là những anh hùng cứu nước như Hoàng Diệu...
15 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 63732)
Hợp Lưu 112 Xuân Tân Mão 2011 , đến với bạn đọc và văn hữu khắp nơi trong tiết trời lạnh hơn mọi năm. Một năm đã trôi qua với bao biến động trên thế giới ngày nay, và cũng là một năm có nhiều đổi thay nơi quê nhà. Dù đang ở nơi nào, tâm hồn người Việt vẫn luôn hướng về; mong mỏi đổi mới, cải thiện cho một xã hội tốt đẹp hơn. Mùa Xuân là biểu hiệu của khởi đầu và hy vọng, cũng là dịp cho chúng ta suy gẫm và nhìn lại một năm đã qua.
15 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 86596)
...Tôi đến Trường Chu Văn An trên đường Thụy Khuê, vào phía sau sân trường tìm bãi cỏ nhìn qua Hồ Tây để nhớ đến nụ hôn đầu tiên Kiên bỡ ngỡ đặt lên môi Phương trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Bãi cỏ xanh mướt ngập đầu lưu giữ tình yêu đầu tiên của Kiên không còn nữa. Nếu giờ đây, Phương cũng đã đi nước ngoài và lấy chồng ngoại quốc, nụ hôn của Kiên trao cho Phương, chính tôi nhận và giữ hộ...
15 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 69432)
Larsson lìa đời trước khi đứa con tinh thần, bộ tiểu thuyết thuộc loại trinh thám, Millennium Trilogy, gồm ba cuốn, mà ông đã viết vào mỗi tối như một trò giải trí cho thần kinh bớt căng thẳng, ra đời sáu tháng sau khi ông ký giao kèo với một nhà xuất bản Thụy Điển, Norstedts Förlag, nhà xuất bản thứ hai Larsson liên lạc và ký giao kèo, sau khi gửi cho một nhà xuất bản thứ nhất tới hai lần mà gói sách không hề được mở ra.
15 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 78627)
Gần hai chục năm sau biến cố 30 tháng Tư 1975, chúng tôi có cái hân hạnh được Công đoàn bảo hiểm Pháp ( Fédération Française des Sociétés d’Assurance ), qua thỏa ước với Bộ Tài chánh CHXHCNVN, gởi về nước cùng với một số nhà giáo Pháp giảng dạy bộ môn Bảo hiểm còn mới này trong trường Đại học Tài chính và Kế toán Hà nội - nay trường đã lột xác trở thành Học viện Tài chính.
14 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 92094)
Về đi thôi nhật ký ngày chân đất Gốc đa già bà kể lá bùa yêu Em ôm giấc thị thành nửa mùa cổ tích Hỏi gió trời sao giấu lá bùa yêu 
04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 65147)
Phụ Chú: 1. Thuật ngữ Việt Nam hoá [Vietnamization] được dùng để mô tả những diễn biến thu nhập và thực thi những biến đổi xã hội, kinh tế, văn hoá và chính trị do chế độ bảo hộ Pháp cưỡng bách áp đặt từ 1861 tới 1945, sau khi chế độ thực dân Pháp bị soi mòn dần từ năm 1940-1941 rồi cuối cùng bị xóa bỏ từ tháng 3/1945. Dù trong Anh ngữ, từ này còn một hàm ý khác — như chính sách Việt nam hóa cuộc chiến tranh Việt Nam của Liên bang Mỹ (1964-1973) — chúng tôi nghĩ thuật ngữ Việt Nam hoá chính xác hơn Việt hóa [Vietism hay Vietnamism].
04 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 64557)
III. ĐOẠN KẾT KHỦNG HOẢNG Trong tháng 8, Việt Nam trải qua một giai đoạn đầy biến động, trên bối cảnh chính trị quốc tế. Một mặt, phe Đồng Minh bắt đầu thực thi các kế hoạch hậu chiến đối với Việt Nam, từ giải giới quân Nhật tới chia chác vùng ảnh hưởng; mặt khác, ngay tại Đông Dương, người Nhật bị tê liệt không những chỉ vì lệnh đầu hàng đột ngột vô điều kiện mà còn vì viễn ảnh bị Đồng Minh trừng phạt. Với người Việt, các quan tướng Nhật bị phân chia theo yếu tố tâm lý và ý thức hệ.