- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Những Người Bạn Của Một Thời

21 Tháng Sáu 200912:00 SA(Xem: 119985)

Trịnh Cung

 

Khi đó, vào một năm tôi không nhớ rõ, thời trước 75, một người bạn báo cho biết Trịnh Công Sơn đã vào Sài gòn. Buổi chiều bọn tôi dự tính đi thăm Trịnh Công Sơn rồi đi ăn ở đường Nguyễn Huệ, nên Thi vợ tôi mặc một mini robe khá mỏng manh. Bình thường thì chẳng có vấn đề gì vì váy ngắn đương là mode của Sài gòn, vấn đề là trời mưa, không to, nhưng đủ rột tí tách nhiều chỗ trên căn gác gỗ của Trịnh Công Sơn. Tất cả đều ngồi bệt trên sàn gỗ, bao quanh gia chủ. Tôi hạ thổ đối diện Trịnh Công Sơn, bà vợ tôi tuy hồi tiểu học học trường các sơ, đã quen với váy, nhưng đáp xuống cạnh ông nhạc sĩ đeo kính gầy ốm mà không hở hang nhiều quá, cũng hơi vất vả. Căn gác khá đông người trong đó có Trịnh Cung ngồi gần Trịnh Công Sơn. Có thể nói không sai lắm, vì giao thiệp với anh chàng nhạc sĩ này, tôi quen biết khá nhiều danh tài xứ Huế.

 

 Có thể đối với người khác Trịnh Cung nhiều lời hơn, còn đối với tôi ông bạn này có vẻ ít nói, gìn giữ. Tôi không quan tâm vì hay tôn trọng cá tính và quá khứ của bạn bè, đôi khi đến độ ơ thờ khó thương. Nhưng cuộc đời có những biến cố làm con người trở thành xa cách hoặc thân thiết với nhau hơn, thí dụ như việc động viên trong thời chiến tranh. Tôi để ý thấy, để ý thôi, không phê phán, là ông bạn nhạc sĩ tình ca và tâm tình phản chiến và bạn bè vây quanh của anh, thường hay tránh né đời lính, kiểu ông Bill Clinton bên kia đại dương. Nhưng khi gặp Trịnh Cung mặc đồ sinh viên sĩ quan Thủ đức, tôi bắt tay anh thân thiết hơn trước: bây giờ là đồng đội, cùng một phía rồi. Nhưng ra trường, anh ở đơn vị nào và ở đâu, tôi không hay biết, cho đến khi cả hai được tha khỏi trại cải tạo tập trung. Buổi sáng cả hai đứa thường đến câu lạc bộ của Hội Trí Thức Yêu nước, mua một ly cà phê giá rẻ, vài ba điếu Hoa Mai hay Đà lạt, thuốc lá tồi nhất nhì thế giới, mang ra bàn nào có bạn bè ngồi, để trao đổi tin tức hậu hiện đại, xin lỗi tôi dùng lộn chữ, hậu cải tạo. Sở dĩ có vấn đề đó là do sau khi nghe xướng danh tên mình được tha, đến trước ngày được ra khỏi trại, cán bộ gọi lên lớp lần chót, phát giấy yêu cầu cải tạo viên tố cáo những âm mưu phản động, dự trù trốn trại... được biết. Cán bộ tuyên bố đó là dịp tốt “để lập công với cách mạng”. Tôi thì giản dị lắm, nắn nót hàng chữ sau, cho lâu lâu một chút: “Tôi không biêt vì nếu biết đã tố cáo ‘từ lâu’ rồi”, (dĩ nhiên là tôi xạo ke; xạo ke và dối trá là những bài học nhập môn xã hội chủ nghĩa) là xong bài thu hoạch. Ngồi đợi cán bộ thu bài, tôi cũng như nhiều bạn khác nhìn một cách gờm nhớm một vài anh cắm cúi viết, có anh viết kín trang giấy chưa xong... Ăng-ten chính cống và ác ôn đây rồi... Ngày mai được về rồi, hôm nay còn tố cáo, bỏ bom này nọ...

 

 Bây giờ mới tới mục chót giành cho những người sắp được tha về: cán bộ phát cho từng người một tờ cam kết in sẵn, chỉ việc ký tên là xong. Cam kết “động viên vợ con đi kinh tế mới” cùng mình... Cái này thì gay go, không cười được. Trong thời gian cải tạo vừa qua, tôi đã có nhiều dịp đi qua vùng kinh tế, đàn bà đầu bù không chải quần áo bạc phếch, trẻ con tóc vàng hoe vì nắng không biết lớp học là gì, con gái không có vú như các cô đi Liên Xô về (theo Dương Thu Hương, phụ nữ đi lao động đi học tại xứ sở này ăn uống thiếu thốn, xẹp cả vú), tôi đã “ hạ quyết tâm” không để vợ con đi kinh tế mới. Tôi nghĩ một chút rồi cầm bút ký tờ cam kết, cán bộ chuyên môn chơi chữ để đánh lừa nhân dân, tôi sẽ bắt chước, đại khái “tôi đã động viên ba ngày ba đêm vợ tôi đi kinh tế mới, nó nhất định không nghe, bảo ai cam kết thì người đó đi đủ rồi. Tôi không thể đánh bắt nó nghe theo được vì chính sách của Cách mạng là cấm đánh vợ con...

 

 Một hôm chưa kịp đặt ly cà phê xuống bàn câu lạc bộ, Trịnh Cung đã than: “Huyện ủy quận 4 đột nhiên đỏ rực lên, dọa cải tạo nào không trình diện đi nông trường trong Đồng Tháp, sẽ cho Phường đội (lực lượng võ trang của Phường) đến “động viên tích cực” (cho cầm súng áp tải người phải trình diện nhưng người đó phải tuyên bố “tôi tình nguyện”...). Tôi hỏi: “Họ có đụng chạm gì tới vợ con không?” Trịnh Cung trả lời: “Chỉ cá nhân cải tạo “vê” thôi. Sáng mai tôi phải trình diện sớm...”. Vài tuần sau, tôi mới gặp lại ông bạn này, vẫn ở câu lạc bộ, mặt phơi nắng nhiều đỏ bừng, tôi hỏi thăm và Trịnh Cung tường thuật đại khái: Phải ngồi đuôi tôm gần một ngày mới vào đến nông trường trong Đồng Tháp. Ngày đầu tiên, vừa ra đến nơi làm việc, bọn tôi đã dội rồi: nước ngập ngang ngực và đỉa lúc nhúc, đa số chỉ lao động được vài tiếng là leo lên bờ gỡ đỉa, phi thuốc lào và đấu láo um xùm. Những ngày kế tiếp cũng đại khái như thế. Bây giờ bọn tôi đâu phải cải tạo viên, mà là công nhân nông trường, đâu có tuân lệnh răm rắp, thích thì làm không thích thì nghỉ. Cán bộ than: “Các anh lao động như thế thì làm sao chấm công. Cuối tháng dám không đủ trả tiền cơm ăn lắm”. Mà quả thực đúng như vây. Ban kế toán nông trường không biết tính sao, đám công nhân gốc cải tạo bèn bỏ tiền túi ra góp tiền gạo, và nhân tiện có những chuyến đò ra chợ, nhờ mua thêm thức ăn, đường và cà phê, tối đến mở quán tưng bừng, bồi dưỡng cho bầy muỗi đói... Cũng sống được qua ngày...

 

 Các sĩ quan cải tạo về của Quận “Đỏ” thấy đời sống nông trường như thế, là cũng sống được. Nhưng bản thân nông trường thì lỗ vốn to, năng xuất bằng không, phải giải tán sau sáu tháng. Trịnh Cung được trả về Sài gòn với vợ con và cầm cọ vẽ trở lại, và bắt đầu nổi tiếng lần thứ hai (trong cõi hội họa Bắc kỳ). Thời kỳ “đổi mới” đến, dân Sài gòn dễ sống hơn thời kỳ hơn mười năm “tiến mau tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội” (1975 – 1986), dân Việt kiều được dễ về thăm quê hương hơn xưa và khi ra đi, hay mua “một chút gì để nhớ một chút gì để quên...” (Phạm Duy). Với thành phần có học, tranh vẽ và sơn mài là tốt nhất: những tác phẩm của Nguyễn Trung, Trịnh Cung, vợ chồng Hồ Thành Đức , Đằng Giao... và của Trịnh Công Sơn nữa, dễ dàng leo thang vượt mức $1000. Trịnh Công Sơn có lần nói với tôi: “ Tôi sống nhờ tài vẽ vì có ai trả tác quyền nhạc đâu. Những ông bạn Việt kiều đến chơi, khi về muốn mua tranh tôi kỷ niệm, tôi nói bao nhiêu trả bấy nhiêu. Vui thôi”. Đến lúc đó bọn tôi từ Mỹ về quê hương cũ (Mỹ là quê hương mới) để thực hiện cái tạm gọi là Tân Đông du, cố làm cho lớp trẻ hai miền Nam Bắc thôi nhìn về Liên Xô, các nước Đông Âu như các nước để du học, đổi chiều nhìn qua Thái bình dương tới Canada và Hoa kỳ. Đó là một công tác tự nguyện, thiện nguyện, “diễn tiến hòa bình”... gọi là một chút giúp đỡ quê hương cũ Việt nam đang sống trong lạc hậu, chậm tiến. Một thượng nghị sĩ của tiểu bang (đã chiến đấu hai nhiệm kỳ VN) và một số viên chức Bộ Ngoại giao chỉ giúp đỡ về phương diện giấy tờ. Còn ngoài ra, tự lo lấy, như các hội thiện nguyện khác ở Hoa kỳ.

 

Vì công việc kéo dài trong thời gian, mấy đứa con thuê nhà ở Sài gòn cho đỡ tốn (không dùng người ngoài vì tiền đâu mà trả lương). Khi hai vợ chồng tôi về, không ngạc nhiên thấy Trịnh Cung rồi cả vợ tới thăm vì Du, đứa con thứ tư, đã cho biết có liên hệ tình cảm với M., đứa con gái út của Trịnh Cung. Hai đứa có thể tiến tới hôn nhân bất cứ lúc nào. Điều duy nhất làm tôi ngạc nhiên là nhan sắc và y phục của cháu M. Tuy là con gái xứ Huế nhưng không hề mảnh mai. Cháu đẹp khỏe mạnh, ăn mặc như một cô gái Tây phương. (M có một cô chị lấy chồng Việt kiều Mỹ, cô cháu này cho tôi biết: cháu ở Sài gòn lớn, lấy chồng ở Sài gòn nhỏ...) Hai vợ chồng tôi ưng thuận cô “chuẩn con dâu” xinh đẹp M. này đến độ đã có một thời đi chơi ăn uống, đưa các sinh viên ra Hà nội để được phỏng vấn, cũng mang cháu M. theo. Chỉ cần đợi hai đứa chính thức ngỏ ý muốn lấy nhau, là Trịnh Cung và tôi tổ chức đám cưới liền. Nhưng đợi hoài không thấy đôi trẻ nói năng gì. Sau cùng đôi trẻ xứng đôi vừa lứa, môn đăng hộ đối ấy cũng lấy vợ lấy chồng, nhưng “chàng” lấy một cô dược sĩ gốc Huế mới ra trường, con một người bạn tôi lúc trẻ có gia nhập nhóm Thái độ, “nàng” lấy người yêu đã cũ của mình. Thế là xong, gọn ghẽ và có hậu một mối tình xuyên đại dương..

 

 Một buổi tối lại thăm Trịnh Cung tại nhà hai tầng trong một hẻm gần tượng Phù đổng Thiên vương, tôi ngạc nhiên không thấy treo tranh. Hỏi, được trả lời là bán hết rồi. Nhân tiện, tôi hỏi Trịnh Cung sao chưa HO đi Mỹ, được trả lời là không hội đủ điều kiện 3 năm cải tạo, còn thiếu vài tháng. Tôi ý kiến ngay: 6 tháng nông trường kinh tế mới để đâu, sao không cộng vào? Trịnh Cung: Nông trường giải tán, cán bộ được phân tán khắp nơi, biết đâu mà tìm... nhờ chứng nhận... Tôi bèn đi một đường an ủi như sau, (đúng sai các ông bạn họa sĩ cứ việc cho ý kiến): Thôi, bạn ở lại Việt nam, dễ bán tranh. Sang Mỹ làm họa sĩ Mỹ phải cạnh tranh với quốc tế, không phải ai cũng nổi lên, bán được tranh đâu... Thôi, bạn chịu khó xin tòa Đại sứ Mỹ cái visa du lịch, thăm con gái và bạn bè... Dân Mỹ quí nhân tài (và gái đẹp), bạn cứ đem xấp hình chụp tranh của bạn cho họ coi, chắc là được visa. Và mọi sự đúng như vậy. Trịnh Cung kể: Vừa mở xấp hình tranh ra, là tất cả bỏ việc xem hình, chẳng phỏng vấn đến một câu...

 

 Vậy là họa sĩ Trịnh Cung đi Mỹ, thuyết trình ở nhiều đại học Califonia về hội họa đương đại Việt nam. Email hỏi thăm có khỏe không, email trả lời vắn tắt: Khỏe. Sau khi Trịnh Cung mỹ du phiêu lưu ký, tôi còn ở VN thêm một thời gian để được đọc một bài phỏng vấn ngắn Trịnh Cung trên báo Tuổi trẻ. Hỏi: Tại sao họa sĩ hay vẽ phía sau của phụ nữ? Trả lời: “Tại tôi thích cái đằng sau của họ...”. Tôi cũng thích cái đằng sau của phụ nữ như Trịnh Cung vậy, đẹp và nhiều lý thú. Chắc nhiều ngôi sao điện ảnh Mỹ cũng nghĩ như vậy nên hay khoe cái mặt sau với khán giả, như Kim Basinger, Charlize Theron... Có lần tôi xin Trịnh Cung một hình làm bìa, anh gửi cho tôi, dĩ nhiên là tranh mặt sau một phụ nữ mầu xanh da trời đậm nhạt, nhan đề là “Trăng”, ai muốn hiểu hay tưởng tượng tới đâu, tùy ý. Đáng tiếc là cuốn sách chưa ra đời được.

 

 Từ đây trở đi những gì tôi được biết về ông bạn họa sĩ này, đều là do bạn bè xa gần kể lại, kể cả những tin đồn (giá trị các tin đồn: xin đọc phụ lục dưới đây). Sau một thời gian cư trú khá dài ở Mỹ, nghe đồn Trịnh Cung phát hiện ra mình bị ung thư, như bà vợ trước đây. Vào bệnh viện chữa trị một thời gian thì bác sĩ chê, trả về cho chết ở nhà. Với ông họa sĩ này, Mỹ là đất tạm dung, ông bay về VN, nhưng không sống ở Sài-gòn nữa mà ra Nha Trang sống với mẹ già. Bà cho uống thuốc đông y gia truyền kinh, thượng, Chăm chi đó, Trịnh Cung khỏi bệnh và vì vợ cũ đã chết, (vẫn tin đồn)) ông lấy một cô gái trẻ (năm nay mới được 28 tuổi), lão bạng sinh châu thêm một đứa con, làm giới quần hào tóc bạc hai bên bờ Thái bình dương phục lăn! Như thế là hơn lão trượng Phạm Duy rồi...

 

 Đã thế ông còn tạm bỏ cây cọ để cầm bút viết một bài ký về bạn thân Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn thì thiếu gì người viết về, thêm một Trịnh Cung nữa đâu có sao, nhất là nhạc sĩ này đã chết. Nhưng người ta viết không sao, Trịnh Cung viết gửi đăng trên báo điện tử “Da mầu” ở “giáo xứ” Bolsa, thì lại khác. Trịnh Cung vốn hiền lành (hình như họa sĩ nào cũng hiền lành, dữ như Van Goch cũng chỉ cầm dao cắt tai... mình thôi), chỉ viết một bài ký mà gây tranh luận trong nước ngoài nước ồn ào, um xùm. Tôi đang thời kỳ hồi phục sau một cơn bệnh bốn tháng, lúc tỉnh thì túi mật đã biến mất (theo Thảo Trường, khi bị cắt túi mật rồi, anh không còn sợ bất cứ ai bất cứ điều gì! Mật đâu còn để “sợ mất mật”). Theo dõi cuộc tranh luận một cách khá lơ đãng, tôi cho rằng tại Trịnh Cung dùng từ không được chính xác: Trịnh Công Sơn chỉ có như mọi người một “thái độ hay lập trường chính trị” mà thôi, không có “tham vọng chính trị” chi hết. Sự kiện anh trốn lính trước 75 dễ cắt nghĩa lắm: người anh nhỏ bé như thế không thể “apt” cho đời lính nhưng những toán bắt lính hoạt động khắp nơi làm anh sợ, hay tự bản thân anh không thích làm lính (bình thường ra một thanh niên có thể thích hay không thích đời lính, thích thì nhập ngũ không thích thì ở nhà, mỗi khi ra đường nhìn trái phải trên dưới xem có toán chặn xét hay không).

 

 Còn việc Trịnh Công Sơn cao hứng rủ Trịnh Cung ra bưng theo VC , là việc cao hứng nhất thời của tuổi trẻ, nói để mà nói cho vui miệng thôi, có ông nào “nhẩy núi” như Hoàng phủ Ngọc Tường đâu (mà ông này chỉ vì bị Công an bên này rượt bắt vì tham gia đấu tranh của Phật giáo miền Trung, hết đường chạy đành ra bưng vậy). Thí dụ khác như hai ông bạn đã nhận làm đại diện cho phía Mặt Trận là Bảo Cự và Sâm Thương, đã từng đến nhà tôi thuyết phục hãy “trở về với dân tộc” (nghĩa là theo Mặt Trận), tôi đều khước từ. Viện lý đằng sau lưng Mặt Trận là Cộng sản Bắc kỳ, đằng sau Cộng sản Bắc kỳ là Trung Quốc và vân vân. Cứ giữ lập trường như bọn tôi, mới thật sự là dân tộc. Vậy phía nào giữ lập trường phía đó, và cả hai sẽ vẫn là bạn tôi, dù tôi biết mấy ông phía đó không vui vẻ gì khi thấy tôi không chết trận như một lính “ngụy”, chết bệnh như một cải tạo viên trên rừng núi vô danh, cho “đáng đời một kẻ lầm đường lạc lối!...” (nhận xét của Lữ Phương)

 

 

Phụ lục Giá trị của các tin đồn

 

 Tôi xin kể một chuyện có thật để chứng tỏ giá trị rất là tương đối của các tin đồn. Tin đồn tuy thiếu xác thực thật, cần kiểm chứng lại, nhưng tác động của nó đôi khi lại mạnh mẽ, cụ thể. Thí dụ như tình bạn giữa Trần Phong Giao, thư ký tòa soạn tạp chí VĂN ở Sài gòn và tôi. Dù có resume khác hẳn nhau, hai đứa vẫn trở thành bạn văn và ăn nhậu lai rai trong nhiều năm, và tưởng rằng thứ “đổi đời” do Cộng sản miền Bắc mang lại, cũng không cắt đứt được. Trong thời kỳ 10 năm cán bộ bắt dân miền Nam ăn độn và ăn đói như miền Bắc, thủ tướng Phạm văn Đồng gọi là “san bằng cách biệt giữa hai miền”, có những khi Trần Phong Giao buôn củi, phân phối cho vợ tôi bán lẻ lấy lời nuôi con, và khi tôi được tha khỏi trại cải tạo tập trung (các diện khá nhẹ hơn như hạ sĩ quan VNCH chỉ phải học tập “tại chỗ” ba ngày thôi, ngay nơi mình ở), Trần Phong Giao đến thăm, và câu thứ hai là hỏi tôi còn giữ được nhiều lưỡi dao cạo cũ không, để theo anh ra chợ làm nghề chẻ rau muống thuê cho các bà hàng quà, kiếm cũng được gạo ăn... Cứ cà rịch cà tang như thế, bữa đói bữa no bữa bobo khoai sắn trong chín năm, vợ tôi được phép mang các con sang Mỹ đoàn tụ với gia đình... của nàng ở Seattle, tôi được đi theo vì thuộc diện bảo lãnh “ăn theo” vợ (thân nhân phía tôi ở miền Đông không ai chịu ký bảo lãnh, đúng như lời phán của mấy ông thầy tử vi: tôi mạng không vô chính diệu (thế là làm sao không ai cắt nghĩa) cung thê tử rất tốt, bạn bè cũng thế, cung anh em thì đầy đố kỵ, bố chết sớm và nghèo, mẹ thì con yêu con ghét..) .

 

 Không lâu cho lắm, nghĩa là dòng nước có mầu ghê rợn của con lạch chưa chảy nhiều cho lắm dưới gầm cầu gần nhà Trần Phong Giao, tôi đã trở về VN trong một phái đoàn văn hóa giáo dục. Tôi đã được biết hai điều: một là căn nhà gỗ năm xưa của Trần Phong Giao đã bị cháy, nhưng đã được Hội Nhà Văn thành phố, hay Thành Ủy tôi không rõ, giúp đỡ xây lại bằng gạch khang trang hơn xưa, hai là ai chứ tên nhà văn Thế Uyên đừng có bước chân đến nhà Trần Phong Giao... Tôi hỏi một bạn văn Sài gòn lý do thì anh chỉ nói ngồi bất cứ đâu, nhắc tới Thế Uyên, là Trần Phong Giao chê nhiều, đến nỗi anh khuyên tôi đi đâu thì đi, đừng tới thăm bạn cũ này. Tính tôi vốn tò mò, một phần ưa truyện lạ (chính vì thế sau 30 tháng 4 tôi đã ở lại xem chế độ cộng sản đích thực tròn méo ra sao, khi biết nó méo thì như một lời thơ xưa “Đến khi tôi hiểu thì tôi đã...”) nên một buổi sáng mượn một scooter tôi tới hẻm quen thuộc gần cây cầu đường Trưng vương. Quả thực nhà mới của Trần Phong Giao là nhà gạch khang trang hơn nhà gỗ cũ. Nghe đứa con hô bố có khách, Trần Phong Giao tà tà áo ba lỗ quần xà lỏn hai lỗ đi ra (áo ba lỗ là theo lối gọi Bắc kỳ 75, quần xà lỏn hai lỗ là do tôi (Bắc kỳ 54) bắt chước cho “văn minh tiến bộ”) . Nhìn thấy tôi anh toan quay vô không tiếp thì một người khách bước vào. Trần Phong Giao bắt tay người đó, mời ngồi xuống bàn và bắt đầu nói chuyện. Coi như không có tôi ngồi lù lù trước mặt. Ông khách có vẻ ngượng, giơ tay mời chủ nhân nói chuyện với tôi trước, tôi cười từ chối, nói: “Mời hai anh cứ tự nhiên, tôi hút xong điếu thuốc này, là về nơi rất xa đây”. Tình huống có vẻ hơi khôi hài vì rõ ràng ba người mà cứ giả vờ có hai. Tôi dụi diếu thuốc vào gạt tàn, đứng dậy để danh thiếp địa chỉ tôi ở Mỹ xuống bàn, Trần Phong Giao lấy tay đẩy ra, không nhận, nói: “Tôi không có kính, chả đọc được!” Tôi cười bắt tay từ giã ông bạn không quen kia, Trần Phong Giao quay mặt đi, im lặng nhìn bức tường trước mặt. Tôi cũng im lặng đẩy xe ra khỏi hẻm, ra về, chấm dứt một tình bạn cố cựu.

 

 Về Mỹ một thời gian tôi nghe tin Trần Phong Giao đã chết ở nhà con gái, trước khi tôi hỏi được bạn bè nội địa lý do tại sao ông bạn này bỗng dưng ghét tôi như vậy. Chắc lại nghe các tin đồn Thế Uyên là CIA, CIB, là thân cộng, thân Tầu, thân vân vân... Có một tạp chí miền Đông hỏi một người thân của tôi mới sang Mỹ, là có phải Thế Uyên thân cộng không, ông này là một HO, đã trả lời: Thân cộng cái gì... Nó chính là Cộng sản...! Làm tôi sau này khi phải “làm việc” với Công an nội địa, đã hỏi đùa: Các anh coi dùm sổ hộ tịch của Đảng, xem có tên tôi không mà nhiều hội đoàn hải ngoại cứ chụp nón cối cho tôi hoài hoài...

 

 Tin đồn thường là thế, nên tôi chỉ nghe bằng một tai và khi có dịp là hỏi lại chính đương sự. Dù rằng đôi khi gặp “tai nạn” như trường hợp Trần Phong Giao vừa kể trên. Và đó không phải hiếm có trong cuộc đời dài và phức tạp của tôi. Gần đây là trường hợp Võ Phiến, một trong những bậc huynh trưởng của tôi. Tôi nghe đồn trong bộ văn học miền Nam 54-75, anh có chê tôi làm tan vỡ gia đình người khác, làm tôi thắc mắc vì từ khi lớn lên tôi vẫn nghe theo lời khuyên cổ xưa: Trai tân gái góa thì chơi, Đừng nơi có vợ đừng nơi có chồng, sau hiện đại hóa bằng lời khuyên của Papillon, tù chung thân khổ sai đã vượt ngục đi qua nhiều nước: Trong cõi giang hồ, muốn yên ổn, đừng có tán vợ bạn hay em gái bạn... Vậy làm gì có mục tôi làm tan vỡ gia đình người khác, dù bạn bè có vợ xinh đẹp cũng nhiều. Vậy lại tin đồn thôi.

 

thế-uyên

tháng 6, 09
seattle, usa

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 813)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 871)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 715)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 651)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2967)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2509)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9756)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16599)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15603)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16030)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 868)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2966)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 714)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4999)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6872)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6160)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 813)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2509)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2745)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2230)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2057)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2214)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2258)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 651)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13204)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29224)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35562)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10518)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12419)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3045)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3103)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3851)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7551)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6915)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9439)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.