Mai An NGUYỄN ANH TUẤN
ÂM BẢN VÀ DƯƠNG BẢN
Tiểu thuyết
Tuổi trẻ chúng con yêu nghệ thuật
Vì đã mang ơn một tiếng đàn…
Kính tặng Mẹ
Tôi không phải là đạo diễn điện ảnh.
Tôi là một nhà thơ sử dụng máy quay
như một phương tiện để đi đến những ước mơ…
Jean Cocteau, đạo diễn điện ảnh Pháp
CẢNH PHIM MỞ ĐẦU
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ…
Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma[1]…
Bộ phim nhựa (thông dụng cỡ 35mm, hay phim 3x4) trước tiên phải quay bằng phim Négatif, gọi tắt là phim Nê - Âm bản, sau đó đem in tráng thành phim Positif, phim Pô - Dương bản, rồi đem dựng (montage) và xử lý các khâu kỹ thuật phức tạp về âm thanh & hình ảnh để thành bộ phim hoàn chỉnh, sau đó mới chiếu lên màn ảnh lớn qua máy chiếu phim. Trong thực tế, có khá nhiều hộp phim Négatif của không ít nhà làm phim độc lập các nước Âu - Mỹ đã không/ chưa được in tráng sang phim Positif để xây dựng thành bộ phim, bởi không có kinh phí làm hậu kỳ (Đặc biệt ở Pháp, Nhà nước khuyến khích mọi ý tưởng sáng tạo điện ảnh, nhưng chỉ tài trợ cho giai đoạn tiền kỳ quay phim Nê mà thôi). Còn ở nền điện ảnh nước ta, chẳng những không thể có nổi những thước/ hộp phim Négatif được lộ sáng như thế, mà ngay ý tưởng để quay ra chúng cũng sẽ bị bóp chết ngay từ trứng nước - một khi dám liều trệch hướng phương pháp sáng tác Hiện thực XHCN, phương pháp góp phần (hay chủ đạo) tôn vinh Chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng mà trong đó, mỗi con người của Tổ chức thiêng liêng hay ăn theo Tổ chức đó buộc phải “lấp lánh như một vì sao” theo hình mẫu của một “Nghệ sĩ cung đình” thì mới có thể được coi là có Giá trị chính thống…
Nhiều Ý tưởng & Đề cương chi tiết loại đó của người viết cuốn sách này - dù bị bóp chết hay may mắn “chạy trốn” và “ẩn dật” được, - lâu nay chỉ được “xi-nê mồm” theo cách nói vui của dân làm phim, hiện giờ sẽ tạm trở thành Âm bản, biết đâu tới lúc nào đó sẽ biến thành Dương bản - chắc chúng cũng tương đồng với những gì được nói đến trong bộ phim 100 Years lấy cảm hứng từ quá trình ủ 100 năm của chai rượu Louis XIII Cognac của giới làm phim Hollywood thực hiện vào năm 2015, kể về hình ảnh Trái đất một trăm năm trong tương lai nhưng để dành đến 100 năm sau mới ra mắt khán giả…
Còn Dương bản là những gì người viết đã thể hiện được ra giấy hoặc trên màn ảnh mà tác giả của chúng may mắn không bị mắc vào tội “yêu thư yêu ngôn” như các cụ trung thực nhà ta xưa kia từng mắc phải, thậm chí còn được trao các giải thưởng này nọ… Có điều, cái phần “Dương bản” đó cũng chỉ là bề nổi của một tảng băng, là niềm mơ ước vô vọng về cái phần chìm kia còn là “Âm bản” không biết đến bao giờ, vì vậy vô tình nó cũng chỉ là một thứ “Âm bản” nhợt nhạt nhiều khi vô vị… Như tất cả những người viết & người làm phim có lương tâm, trong quá trình nỗ lực biến Âm bản thành Dương bản cho những ý đồ sáng tạo tâm huyết của bản thân, tác giả lắm khi phải “cầm đèn chạy trước ô tô” tự kiểm duyệt cho lành, vì thế Âm bản và Dương bản có lúc trở thành mớ bát nháo tầm thường đáng bị ném vào sọt rác văn hóa… Cuốn sách này có thể chỉ là một cố gắng tuyệt vọng trong việc đi tìm Âm bản đích thực rồi sau đó tìm cách tái hiện thành Dương bản, trong mối quan hệ Âm Dương - Nhân Quả, và phục hồi những Dương bản đã bị lỗi không do tác giả, với một nỗi buồn cùng nỗ lực chống lại bao sự thù ghét, đố kỵ, nghi ngờ, chèn ép từng đổ lên đầu tác giả và một vài nhà điện ảnh cùng chí hướng - song chống lại chỉ bằng sự thật và lòng thương cảm cho chính những người gây ra những điều đó; có lẽ bởi người viết lâu nay gắng nương theo bóng Thiền và Từ bi của đạo Phật như lẽ sống chính của dân tộc đau thương này; và cũng đã nhiều lần “thoát hiểm” bởi may mắn có được Tâm Phật không phải như một thứ phương tiện để nuôi giữ niềm tin lẫn ảo tưởng. Sau nữa, bởi tác giả tâm đắc với lời nhắn nhủ của nhà văn Milan Kundera trong tập tiểu luận Les testaments trahis[2] (Những di chúc bị phản bội): “Trong thế giới của tính tương đối tiểu thuyết, không có chỗ cho hận thù: nhà tiểu thuyết nếu viết một cuốn tiểu thuyết với mục đích thanh toán hận thù - dù là hận thù riêng tư hay hận thù ý thức hệ - thì chắc chắn hoàn toàn sẽ rơi vào hố chết chìm về mỹ học!”.
“Âm bản” ở đây không chỉ là phim Nê đã quay hoặc những kịch bản điện ảnh-scenario film (hay truyện phim-romans cinématiques) chưa thể làm phim, mà còn là những ý tưởng rời rạc, những ghi chép vụn vặt dành cho các Dự án phim ảnh mà tác giả mới chỉ tâm sự bằng nhật ký, thư từ, status dành cho cô con gái sinh viên đang bước vào nghề chông gai của tác giả - cái nghề ở một xứ sở mà liều lĩnh bước vào sẽ có thể bị mang tiếng (và mang tội) là “sinh nhầm địa lý”… Và cốt lõi của Âm bản & Dương bản đích thực là gì, làm thế nào để tìm ra chúng, con gái tác giả và những người bạn yêu nghệ thuật của nó chắc có thể tìm thấy trong những trang sách này (và tập nhật ký-tùy bút Bà Hoàng Nhóc đang hoàn thiện) đôi ba chỉ dẫn có ích.
Trong thời đại Kỹ thuật số và bắt đầu tràn ngập công nghệ AL, câu chuyện về Âm bản liên quan đến Sự thật của đời sống & lịch sử chắc còn có ý nghĩa đặc biệt và lâu dài, bởi nhiều Sự thật đã bị bóp méo xuyên tạc nhằm phục vụ những mưu đồ chính trị không lương thiện của lợi ích nhóm, lợi ích giai cấp, góp phần làm đảo lộn Giá trị xã hội và đầu độc Dân trí… Các kỹ xảo tinh vi hiện đại đã là phương tiện hữu hiệu để biến Âm bản & Dương bản trở thành các tấm bình phong cho Đạo đức và Lý tưởng của riêng tầng lớp thống trị nhằm phục vụ lợi ích nhóm - như thực tế ở nhiều nước…
Tác giả thấy cần kể lại câu chuyện về một bức ảnh kỳ lạ liên quan tới Âm bản mà tác giả đã phải làm cả một bộ phim tài liệu khoa học (documentaire scientifique) để bênh vực người chụp: Đó là bức ảnh nổi tiếng Bát đế vân du đang được treo tại chính điện của Đền Đô - Bắc Ninh. Nhà nhiếp ảnh Hòang Tuấn Đại, nguyên là một phi công, vào đúng ngày lễ hội rằm tháng 3 năm Đinh Sửu tại Đền Đô đã vô tình “hình tượng hoá” được khí thế rồng bay của triều đại nhà Lý tám triều vua - ứng với tám áng mây trắng toả trên nóc điện. Tác phẩm hé lộ sự huyền bí kỳ diệu của đời sống tâm linh. Nhưng không ít người có trách nhiệm cho rằng bức ảnh Bát đế vân du là giả, đó chẳng qua chỉ là ảnh ghép, ảnh sửa bằng kỹ xảo điện ảnh, fotoshop. Tác giả còn bị quy kết là tuyên truyền mê tín bậy bạ, uy tín nghề nghiệp và cả "sinh mệnh chính trị" bị đe dọa! Trước tình cảnh ấy, một đoàn làm phim đã được thành lập, và đã tới Đền Đô vào dịp lễ kỷ niệm 999 năm ngày đức Lý Thái Tổ đăng quang, có tác giả bức ảnh đi cùng. Chúng tôi đã quan sát ở đúng góc mà nghệ sĩ từng chụp. Ông Đại nói rõ về yếu tố kỹ thuật khi chụp, như khẩu độ (11), tốc độ (125/s), tiêu cự ống kính (80mm), loại máy (Nikon) loại ống kính (télé room 35-125), loại phim (người làm phim đã "mục sở thị" năm tấm phim négatif color AGFA 35mm 100 ISO, được bấm máy liên tiếp cùng vị trí, mà tấm thể hiện đầy đủ tám vầng mây ở nóc điện chính là bức Bát đế vân du này). Ông Đại chụp tấm hình vào lúc khoảng 12h trưa ngày trung tuần tháng 3 ÂL - tức là vào ngày 21 tháng 4 năm 1997. Vị trí mặt trời trong ngày này tạo ánh sáng trên đỉnh ngọn cây và chóp kiệu trước sân phản ánh đúng thời gian chụp. Đó chính là ánh sáng chiếu gần như vuông góc tạo nên phần sáng trên ngọn cây và bóng đổ ở chóp kiệu. Đoàn phim đã làm hình ảnh 3D mô tả về các vị trí tương quan của các vật thể chụp, ánh sáng mặt trời, góc chụp… để giúp khán giả hiểu rõ hơn về ánh sáng phân bổ trên tấm ảnh là hoàn toàn chính xác với ngoại cảnh lúc đó. Ông Đại chỉ tay vào cái chóp kiệu màu đỏ sát nóc đền ở trên ảnh: "Kiệu Thánh Mẫu (tức thân mẫu của Đức Lý Thái Tổ) chỉ xuất hiện mỗi năm một lần, đi từ chùa Dạm tới Đền Đô, và có ở đây vào lúc chính ngọ ngày vua Lý Thái Tổ đăng quang!”. Vì cũng đi theo kiệu đức Thánh Mẫu về Đền Đô để quay tư liệu, nên người làm phim đã xác nhận được đúng thời điểm chụp bức ảnh!
Sau đó, trong các bài giảng cho sinh viên đạo diễn, tác giả không ít lần đem ảnh chụp mấy tấm phim négatif Bát Đế vân du cùng một số đoạn phim quay âm bản[3] hiếm hoi còn sót lại của chính mình làm giáo cụ trực quan, mong giúp các bạn trẻ đồng nghiệp chuẩn bị đi vào thế giới “Âm bản” của lịch sử dân tộc và đời sống hiện tại bằng ống kính máy quay thời Kỹ thuật số sẽ có thêm một “La bàn” đáng tin cậy, đồng thời có thêm niềm tin tưởng: khi có được Âm bản tử tế nương theo triết lý vĩnh hằng: Sự thật là một thứ nhân đức (Aristotle) thì rồi trước sau cũng sẽ có Dương bản tử tế…
Tác giả cần bày tỏ lòng biết ơn đối với các lớp lãnh đạo của mấy Hãng phim nói riêng và lãnh đạo ngành Điện ảnh nói chung đã vô tình tạo điều kiện cho tác giả - trong khi bị đày xuống Dưới đáy [4] làng nghề đã có cơ hội lắng sâu vào những số phận tựa Cọng rơm dưới đáy ao[5] ở nhiều vùng quê đất nước - đặc biệt là ở những làng bản mù sương miền Tây Bắc, Đông Bắc…
Những Âm bản chân thực được tả lại một cách thật thà khiến cuốn sách này mang đậm tính chất của một “tiểu thuyết Tư liệu”, “tiểu thuyết Tự truyện”; song chất Tư liệu, chất Tiểu sử ở đây chỉ làm nền cho những cuộc hành trình nhọc nhằn mong tìm ra cái lý do cầm bút cầm máy quay của tác giả nhằm tới cái đích khiêm nhường là: Tri ân phần nào các thế hệ Điện ảnh Việt Nam - trong đó có những nghệ sĩ tài năng số phận bi thảm bởi không gặp thời, song trên miền Mây Trắng vẫn đang đau đáu hy vọng các thế hệ Điện ảnh tiếp nối thực hiện giấc mơ của mình, để nền Điện ảnh nước nhà mau chóng có tên trên Bản đồ Điện ảnh Thế giới - cũng có nghĩa hầu hết những gì là Âm bản đích thực sẽ trở thành Dương bản trong ánh sáng dành cho máy quay phim và ánh sáng của chủ nghĩa Nhân văn toàn cầu…
Cuốn sách có 05 phần:
Một. LÂU ĐÀI ĐIỆN ẢNH TRONG HỐ THẲM
Hai. HÀNH TRÌNH TÌM ÂM BẢN I
Ba. HÀNH TRÌNH TÌM ÂM BẢN II
Bốn. HÀNH TRÌNH HƯỚNG NGHIỆP CHO CON GÁI
Năm. ÂM BẢN: THEO BƯỚC HÀNH HƯƠNG TÌM PHẬT
Phần một
“LÂU ĐÀI” ĐIỆN ẢNH TRONG HỐ THẲM[6]
1.
Nguyễn Yên Thế, một nhà làm phim độc lập[7] bước tới cánh cổng to rộng vốn mở toang hoang từ lâu, nhìn vào bên trong phần Ngoại thất của VFS - một cơ sở sản xuất phim truyện lớn nhất nước và toàn xứ Đông Dương trong hơn nửa thế kỷ.
Nếu một họa sĩ thiết kế phim truyện đang có ý định xây dựng bối cảnh về một Tổng công ty, hay một Gia tộc từng có thời hoàng kim nay bị phá sản, rồi bị thời gian vùi trong lãng quên chắc sẽ phải reo lên sung sướng, vì cái bối cảnh tự nhiên đang bày ra kia đương ấp ủ các hộp phim Pô mốc meo tựa hố đen Vũ trụ trong Nội thất sẽ có giá trị thuyết phục hơn bất kỳ sự tưởng tượng của những họa sĩ điện ảnh tài ba nhất.
Nhưng hôm nay Thế tới đây không phải để làm thay, làm đỡ cho công việc của họa sĩ thết kế[8] - như anh vẫn thường làm theo thói quen nghề nghiệp, trong hoàn cảnh của anh, mà vì lời nhắn gửi của một chị nhân viên dựng phim, con gái một nhà quay phim có tên tuổi vốn quý Thế và từng hò hẹn sẽ “hạ cố” làm phim với anh: “Đạo diễn ơi, anh hay viết báo, anh viết bài cho cơ quan cũ với, VFS đang bị cố tình cho chìm xuồng, xóa sổ rồi, buồn quá. Mà giờ ở VFS, các cây cổ thụ cây đa cây đề, các NSND, NSƯT về hết rồi, toàn hội trẻ không thể bảo vệ nổi, không có tiếng nói. Không hy vọng đòi lại, nhưng ít ra cũng phải trả lại công bằng cho cán bộ Hãng chứ anh? Tôi thì về hưu cùng các anh chị rồi, nhưng nhìn Hãng mà cả đời bố mẹ cống hiến và hơn 30 năm tôi công tác tại đây mà xót xa quá…”. Bài báo sẽ viết cần đến cảm xúc được hâm nóng của anh - đồng nghiệp cũ của mấy trăm cán bộ công nhân viên của Hãng đang tuyệt vọng kêu cứu khắp nơi, may ra sẽ là một trong những giọt nước làm đầy tràn cốc nước lỳ lợm theo chủ nghĩa “mackeno” của các cấp có trách nhiệm. Có thể anh đã ảo tưởng - như bao ảo tưởng của anh trở hành bong bóng xà phòng suốt mấy chục năm trong nghề, nhưng vẫn phải ảo tưởng, bởi nếu không còn cảm hứng ảo tưởng thì anh chẳng có lý do nào nữa để tiếp tục cầm bút, cầm máy quay…
Trước khi bước qua cổng Hãng, đập vào mắt Thế là mảng tường long tróc vôi vữa nham nhở bị dán các tờ quảng cáo “Thông cống”, “Chữa yếu Sinh lý”, “Sửa Ti vi - Tủ lạnh”…, và thực hài hước, có cả một tờ thông báo to đùng nghễu nghện lấn át các “đồng nghiệp”: “Tuyển sinh lớp năng khiếu Diễn viên điện ảnh đặc biệt” của một công ty Truyền thông tư nhân chưa ai nghe đến tên bao giờ! Cũng ở bức tường này, đã từng “được” trưng lên cả tháng ròng một bản công bố chữ to của Lãnh đạo Hãng để cảnh cáo công khai những người đã đi làm phim ngoài Hãng cho một bộ phim của Thế!
Anh bất giác thở dài, cúi đầu bước qua cổng vô tình giống một người lính thất trận…
Sát cổng ra vào là phòng Bảo vệ cơ quan, gian phòng như tổ chim hoặc lều canh nương của đồng bào miền núi, kể từ buổi “sinh thời” của nó tới giờ lại càng trở nên thảm hại với mạng nhện bụi bậm chăng phủ. Tại bàn gỗ nhỏ đựng văn thư cơ quan của nơi được các nghệ sĩ mệnh danh là “trấn thủ lưu đồn”, Thế đã nhận được nhiều lá thư của học trò cũ, bạn bè “giáo khổ” Tây Bắc, và đặc biệt là những bức thư gửi từ Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức… Vào cơ quan mới này, đúng vào thời kỳ hậu Giá - Lương - Tiền, Thế có dịp làm quen với một người bạn trẻ tên là Dưỡng. Dưỡng chịu khó lắng nghe những nhận xét, bàn luận ở quán nước ngoài cổng Hãng sau mỗi lần cơ quan chiếu phim học tập. Cậu ta chỉ là một phụ động, đang thử việc; và có lẽ ra, sau vài ba phim đi phụ động sẽ được chính thức nhận vào làm thư ký trường quay - nếu cái suất đó không được tổ chức để giành cho con cháu “sếp” trong Hãng! Uất hận, Dưỡng xin đi xuất khẩu lao động. Trước khi đi, Dưỡng và Thế đã có cả một đêm chuyện trò. Trong tâm hồn cậu thanh niên chất phác ấy ấp ủ biết bao khát vọng văn chương và điện ảnh. Dưỡng buồn buồn nói với Thế: “Nhất định em sẽ quay trở lại nơi mà em đã bị hất đi, bằng chính những tích lũy kiến thức và lao động nghệ thuật của em”… Biết Dưỡng đi Nga, lại thích đọc sách, Thế đã tìm mấy cuốn tiểu thuyết dịch cũ của Nga trong tủ sách riêng đem tặng cậu ta, như: Những linh hồn chết, Làm gì?, Một tổ quý tộc, Những đốm lửa, Rừng Nga… Nhìn Dưỡng sung sướng ứa nước mắt, Thế chợt hiểu rằng đó là món quà lớn nhất đối với Dưỡng từ trước tới nay… Thế rồi, anh đã liên tục nhận được những bức thư của Dưỡng gửi từ Sibiri. Sự chờ đợi của Thế khi tìm thư mỗi lần đến cơ quan khiến nhiều người tưởng rằng anh có người thân ở nước ngoài! Thời gian đó, có người thân quen đang ở Liên Xô, ở Đông Đức, ở Tiệp… cũng có nghĩa là ít phải quan tâm đến việc phân phối hàng hoá của cơ quan, không phải bức xúc đến khốn khổ khi lốp xe đạp bị nổ thì lại được phân chiếc pê-đan!… Thế đã theo dõi bước đường tinh thần của chàng trai ham học hỏi, yêu nghệ thuật, và đồng cảm sâu xa với nỗi gian khổ của Dưỡng nơi tuyết trắng rừng Taiga. Anh đã tìm đọc lại những cuốn sách Nga dịch có liên quan đến Sibiri để có thể cảm thông hơn với Dưỡng, và có thể đưa ra lời khuyên hữu ích nào chăng với tư cách một người anh tinh thần, một người thầy, như Dưỡng từng đề nghị… Sau hai năm như vậy, Dưỡng đột nhiên bặt tin. Rồi cũng đột nhiên, Dưỡng liên hệ lại với Thế và thông báo rằng: cậu ta đã sang Đông Đức, và mở một cửa hàng ẩm thực Việt. Sau đó, Dưỡng yêu cầu anh tìm giúp những cuốn sách về văn học, sân khấu, điện ảnh mà Dưỡng cần. Và điều làm Thế ngạc nhiên cảm động nhất, là Dưỡng hỏi anh về những cuốn sách dịch tác phẩm của A. Solzhenitsyn, B. Pasternak, M. Bulgakov, A. Kron - loại sách lúc đó vẫn còn là “quốc cấm không thành văn bản” đối với ngay cả các “thủ lĩnh” Cơ quan… Môt thư điện tử của Dưỡng gửi Thế có đoạn: “Em cảm thấy có nhu cầu phải viết ra tất cả những gì mình đã trải qua… Giờ, em không vất vả kiếm sống như trước, em thấy biết ơn những năm tháng sống ở Hãng phim, ở Sibiri. Và biết ơn văn học, nhất là văn học Nga…”.
Trong cảnh hoang tàn, Thế chợt nhớ đến Dưỡng như một người bạn tri âm tri kỷ hiếm hoi. Vậy là cậu ta đã “ôm đầu máu” chạy khỏi nơi này trước anh, đã sớm may mắn thoát nạn từ lâu trước khi “con thuyền Điện ảnh” xứ này bị chìm, thoát bao nỗi đau đớn bị nghi kỵ và trù dập đến bẹp dí như con sâu róm - những kẻ không thể và không bao giờ có nổi “Thẻ Đỏ” mà dám mơ mộng cao siêu về nghệ thuật, dám mang khát vọng đẹp về Điện ảnh!… Thế giơ máy ảnh chụp lia lịa các chi tiết, các góc của “bối cảnh” phim tưởng tượng kia, để sau khi gửi đăng kèm bài báo sẽ gửi cho Dưỡng, để cậu ta nếu vẫn còn máu mê với Nàng tiên Út - Nghệ thuật thứ Bảy biết đâu sẽ có sáng kiến gì hay ho góp vào công cuộc phục hưng Điện ảnh, phục hồi Hãng phim, dù vô vọng thì cũng đỡ tủi cho ước mộng Điện ảnh vỡ nát của nhiều người, và làm đồng minh bất đắc dĩ của anh!
Thế bước tới phòng Tài vụ, cách phòng Bảo vệ dăm bước chân, đó là nơi không chỉ để lĩnh lương, lĩnh tiền hợp đồng, mà còn là nơi mỗi kỳ giáp Tết nhiều người cơ quan đến để nhận mấy cục “bánh bao đen”: đó là các đoạn phim négatif từ các hộp phim quay thừa của những đoàn làm phim cắt ra và đóng gói giấy đen để “làm quà” cho các tay máy ảnh trong cơ quan làm dịch vụ: phim quay đen trắng loại ORWO NP55 mà chụp ảnh đám ma đám cưới hay chân dung người đẹp thì miễn chê, bởi độ mịn tuyệt hảo của loại phim Nê chỉ dành cho những écran-màn ảnh lớn!
Thế bước tới một căn buồng đóng kín cửa, phía trên có tấm biển gỗ đã mục và xiên xẹo còn lờ mờ chữ: XƯỞNG LÀM PHIM SỐ... Đây là Xưởng đầu tiên Thế được phân vào khi về Xí nghiệp phim truyện nhận công tác. Kỷ niệm sâu đậm nhất tại đây là, ông Xưởng trưởng đã cho anh bài học đầu tiên của “sự nghiệp cày thuê cuốc mướn” chữ nghĩa, thực chất là cướp trắng công sức lao động và chất xám của anh… Thế bước sang căn buồng kế bên, biển gỗ rơi đâu mất, song anh nhớ đó là XƯỞNG LÀM PHIM SỐ…, và ở đây đã diễn ra lần “cày thuê cuốc mướn” thứ hai của anh - so với lần thứ nhất thì có hậu và có âm hưởng “lãng mạn” hơn - tất nhiên không phải là “lãng mạn cách mạng”… Thế ngước nhìn lên tầng hai – nơi có các văn phòng của Giám đốc và phó Giám đốc. Bao kỷ niệm với người thầy dạy nghề đáng kính của anh - phó giám đốc nghệ thuật Hãng - chợt quay về dồn dập… Mấy năm trước, Thế có viết bài báo tưởng nhớ ông: Một nghệ sĩ cô đơn, một người thầy nhân hậu đăng trên tạp chí Thế giới Điện ảnh, phần kết bài báo kể lại chuyện: Trong một cuộc họp tổng kết cuối năm của Hãng phim truyện VN, có các quan khách của Bộ Văn hóa-Thông tin và Cục Điện ảnh, trong khi các diễn văn chúc tụng đang diễn ra, chính mắt tôi được chứng kiến một cảnh thoạt tiên khiến tôi ngỡ ngàng: đạo diễn Đắc ngồi ghế bên dưới, điềm nhiên giở tiền thưởng ra đếm - bất chấp phép lịch sự giả dối, như một cách phản ứng lại sự vô bổ của các cuộc họp chỉ mang tính hình thức, hơn thế, chỉ là sự che đậy khéo léo cho những cuộc đấu đá tranh giành quyền lực và lợi lộc... Lúc đó, tôi thấy xót xa thương ông. Còn bây giờ, chi tiết buồn đó chỉ làm tôi thấy chạnh thương mình, song lại có thêm tình mến thương và lòng kính trọng đối với ông - một người nghệ sĩ chân chính và cô độc... Giờ đây, nơi bên kia thế giới, ông có được thanh thản hơn?
Thầy ơi, lúc này nơi bên kia thế giới, thầy có buồn hơn trước khung cảnh “mờ mờ nhân ảnh” Người và Ma, Vinh quang và Đổ nát của Hãng ta?
Tới phòng Họp cơ quan, Thế bồi hồi nhớ lại buổi cuối cùng của cuộc thi vào ngành Điện ảnh diễn ra tại đây[9]. Hôm đó, Thế được một vị trong Ban Giám khảo (gồm các nhà Điện ảnh nổi tiếng và các GS,TS. nghệ thuật học) hỏi một câu: “Theo anh, nhân vật chính của văn học nghệ thuật thời đại ta là gì?” Với sự háo hức của người sắp bước vào nghề nghiệp mới mẻ hằng ao ước, Thế trả lời: “Thưa, nhân vật thời đại, theo một học giả Bungari, đó là người có trí tuệ của một nhà bác học, có trái tim của một chiến sĩ, và tâm hồn của một nhà thơ!” Cả Ban Giám khảo ngẩn ra giây lát, nhìn nhau, chắc tự hỏi không hiểu kẻ “trái khoáy” này từ đâu ra, cớ sao không thèm nhắc tới Nhân vật Công - Nông - Binh mà tất cả các giáo trình Đại học văn chương, nghệ thuật lúc đó coi là Thần tượng, là hạt nhân tri thức mỹ học XHCN? Nhưng Thế vẫn “vượt Vũ Môn” để vào được ngành điện ảnh; mơ ước cháy bỏng bao năm của anh được thực hiện, có điều anh không thể biết rằng: đó cũng là lúc anh chuẩn bị tiếp nhận bao vỡ mộng đang há miệng chờ đón mình…
Thế đi hết các khu chức năng trong Hãng rồi bước tới một không gian sát Hồ Tây, hiện đang được chủ Hãng mới cho thuê làm một nhà hàng nổi… Đó cũng là nơi trước kia có một dãy nhà tập thể bằng tre nứa của Hãng… Thế nhớ, một trong những việc đầu tiên của anh khi về nhận công tác ở Xí nghiệp phim truyện (sau thành Hãng) là tìm đến căn phòng của nhà biên kịch người Thái Cầm Kỳ, mang theo chai rượu nút lá ra mắt người cùng “quân khu Tây Bắc”. Lúc đó, tên tuổi ông đã nổi như cồn trong ngành, còn Thế thì mới lẫm chẫm vào nghề; nhưng điều đó không hề ngăn cách hai người có biết bao buổi trò chuyện tâm đắc trong căn phòng tồi tàn này, rồi sau đó là căn phòng ngăn đôi ở khu tập thể cũ kỹ Hoàng Hoa Thám... Cứ sau mỗi buổi chiếu phim nghiên cứu học tập của cơ quan vào tối thứ tư, ông lại lôi kéo Thế ngồi bàn luận tới khuya. Rất quan tâm tới cách thể hiện độc đáo trong các phim, song điều khiến ông cảm thụ sắc bén và nhanh nhạy trước hết là những vấn đề nhân văn của chúng. Có lần, sau buổi chiếu phim Dòng nước đen của Nhật, sáng hôm sau ông kể cho Thế nghe ý tưởng một kịch bản mới nói về thân phận những người dưới đáy xã hội... Về đây, qua ông, Thế đã được hiểu thêm rất nhiều về nền văn hóa các dân tộc Tây Bắc, về các nhà thơ nhà văn hóa dân tộc đáng kính mà anh từng được tiếp xúc… Nói đến ông, mọi người thường lắc đầu thương hại. Nổi tiếng là người túng thiếu nghèo khổ nhất trong giới nghệ sĩ điện ảnh, nhưng ông vẫn cặm cụi viết, dù những kịch bản tâm huyết của ông dần trở nên lạc lõng thảm hại giữa "chợ trời" phim ảnh, chẳng một ông chủ hãng phim nào - kể cả ông giám đốc của Hãng phim truyện to nhất nước này đang trả lương bèo bọt và thất thường cho ông -, có thể mỉm cười chào đón ông nữa. Bởi lúc đó cả ngành Điện ảnh trong tình trạng cấp cứu, lại đang bị ngập lụt trong thứ phim đã đi vào từ điển tiếng Việt hiện đại: "Phim mì ăn liền" - nghĩa là thứ phim câu khách bằng mọi giá, kể cả chà đạp lên sự liêm sỉ tối thiểu!... Nỗi đau nghề đau đời của người anh đồng nghiệp đã rời xa cõi trần hơn ba chục năm vào lúc này như làm sống lại và khía thêm vào nỗi cay đắng tràn ngập lòng Thế nửa tiếng trước, bên cửa Xưởng phim cũ nhắc chuyện ông đạo diễn kỳ cựu đã cướp công lao động của anh…
Rồi Thế chậm rãi quay trở lại lối cũ dẫn ra cổng Hãng. Từ xa, trong cái “bối cảnh Thiên tạo” không dành cho bất kỳ cuốn phim négatif nào, Thế có cảm tưởng vừa xuất hiện từ màn sương ký ức một nữ diễn viên điện ảnh cao tuổi - đó là Nghệ sĩ Nhân Dân nổi danh, người từng được tôn vinh trong vài Festival Film quốc tế hệ thống XHCN (tiêu biểu là Liên hoan phim Mascơva). Chị đang đứng trân trân thỉnh thoảng chùi nước mắt ngậm ngùi, dễ khiến cho người lần đầu đến chốn hoang vắng này nghĩ rằng: đang có một cảnh quay phim sử dụng hoàn toàn ánh sáng tự nhiên còn máy quay thì được giấu ở một trong những cửa sổ mục nát tầng hai bị toang ra tựa lỗ châu mai thời kháng chiến chống Pháp.
Ở khoảng cách mà để nếu lấy được trung cảnh hẹp cần tới ống kính télé 200mm, Thế cũng có thể nhận ngay ra chị, nhưng chị chẳng chú ý đến Thế, và chắc chẳng biết Thế là ai, bởi anh thuộc loại đàn em tận mấy lứa sau của các nghệ sĩ Hãng phim truyện. Anh bước tới gần chị và chào. Chị diễn viên lau vội nước mắt tràn trề trên má.
- Chào em…
Chị nhíu mày như muốn nhớ lại tay này là ai, đã gặp bao giờ. Thế không để chị phải thắc mắc lâu hơn, anh nói nhỏ:
- Chị ạ, em hiểu tâm trạng của chị… Mới tuần trước em vào đây, em đã muốn chảy máu mắt trước cảnh các ông chủ mới của Hãng ném ra sân những vật dụng quý giá đối với người làm nghề phim truyện mà chúng em từng phải “thuê chui” để làm phim ngoài, như mấy bộ quần áo lính Pháp lính khố đỏ, vài khẩu Muscơtông!…
Chị diễn viên mắt sáng lên:
- Hóa ra, em cũng là người trong nghề, và có gắn bó với Hãng?
Thế gật đầu.
- Lúc nãy, em nhớ lại lời than vãn gần như cầu xin em của một chị nhân viên dựng phim, con gái của nhà quay phim nổi tiếng Nguyễn Quang…
- Ồ! Anh Nguyễn Quang! Chị đã từng làm phim với nhà quay phim Nguyễn Quang đó! Từ lúc chuyển vào phía Nam theo gia đình, chị chưa lần nào được liên hệ với ảnh… - Gặp lại người cùng cơ quan, giữa khung cảnh tan hoang của chốn làm nghề từng là “cái nôi” nghệ thuật của mình, chị diễn viên như tạm quên đi nỗi ngậm ngùi lúc trước để được sống lại thời xuân sắc và vinh quang chói lọi. Chị thân tình kéo tay Thế bước đi trên con đường rải mấy lớp lá khô, chỉ tay liên tục, như quên mất rằng Thế còn thông thạo nơi này hơn chị:
- Chắc em cũng nhận ra: sau tấm pa nô phim cũ nát kia là cầu thang lên các văn phòng Giám đốc và Phó Giám đốc phụ trách nghệ thuật; mấy gian phòng ở dưới, bên trái là các xưởng làm phim 1,2,3,4… Phía sau cùng là các phòng Tổ chức, Tài vụ, Kỹ thuật… Kia là lối dẫn vào phòng họp Hãng - phòng chiếu phim, trường quay, xưởng in tráng, xưởng hậu kỳ…
Thế cũng chợt sôi nổi không kém chị :
- Vâng, bắt đầu từ đây tạo giới hạn của Hãng ta với địa phận của trường Chu Văn An, tức trường Bưởi cũ và Hồ Tây… Chắc chị biết: Hồ Tây cũng là địa bàn sinh sống những năm cuối đời của đôi vợ chồng thi sĩ đặc biệt có số phận vất vưởng, là Phùng Quán. Em có đôi lần được ngồi cùng nhà thơ Phùng Quán câu cá trộm ở Hồ Tây; và một lần duy nhất mời được ông vào xem phim học tập tại cơ quan mình - phim Anh em nhà Rocco của đạo diễn người Ý Luchino Visconti…
Thế chợt dừng lại. Anh thấy mình nói hớ khi nhận ra thái độ khó chịu của chị diễn viên khi anh nhắc đến một tên tuổi của nhóm Nhân văn giai phẩm. Như có búa nhỏ gõ nhẹ vào đầu anh: Chị ấy là nhân vật kỳ cựu trong giới tinh hoa mà sự sáng ngời của Lý lịch đã góp phần không nhỏ tạo nên bề dày kỳ tích diễn xuất mà cả giới điện ảnh phải thèm thuồng, nhất là qua những vai chính là Nữ Chính ủy, Tình báo quân Giải phóng, Biệt động nằm vùng… Trong các cuộc họp Chi bộ của Hãng ngoài này hay Hãng trong kia, chắc chắn chị là người được quán triệt hoặc ở vai trò quán triệt người khác về tư tưởng phòng chống các nọc độc phản Cách mạng ẩn náu trong các vần thơ, trang sách, phát ngôn, cảnh phim, thoại kịch của những đối tượng văn nghệ đáng nghi ngờ và đã bị đưa vào “máy chém” cải huấn đích đáng - như ông Phùng Quán nọ!
Thế câm lặng bên Ngôi sao điện ảnh khét tiếng một thời, và nếu chị không nổi tiếng đến thế và anh từng quen thân với chị, giữa khung cảnh hoang tàn đổ nát này, anh sẽ kể cho chị nghe vài cuộc “đấu tố” tư tưởng khó mà tin nổi dẫn đến những kết cục bi thảm của mấy nghệ sĩ tài năng, vài “vụ án” không bao giờ được ghi lại chính thức hay mãi mãi chìm trong đống phim négatif - nếu được quay trộm - về nhiều âm mưu thâm hiểm nhằm “giết chết” sinh mệnh chính trị - nghề nghiệp lẫn nhau ở một vài thế hệ điện ảnh mang danh “trí thức”, “văn nghệ sĩ có công với Cách mạng” trong Hãng mà Thế đã âm thầm nghe ngóng, sưu tầm, ghi chép suốt nhiều năm qua… Và anh sẽ kể chị nghe toàn bộ sự thật ô nhục về cuộc “Cổ phần hóa Hãng phim” dẫn đến cảnh “Điêu tàn” không kém của thi sĩ họ Chế này! Nếu thấy chị “chịu” được những điều khó nhằn đó, anh sẽ giới thiệu cho chị nội dung cuốn Trò chơi[10] - cuốn tiểu thuyết tuy không phải là đặc sắc nhất của nhà văn Nga Yuri Bondarev nhưng lại là tác phẩm nói rất kỹ, rất thấm thía về sự suy đồi, tha hóa của một trong những nền điện ảnh lớn thế giới kể từ khi tuân theo định hướng sáng tác XHCN và những “nghệ sĩ lớn” dần biến thành “ông quan” nghệ thuật có “sứ mệnh” là thực hiện chỉ thị từ trên xuống tới các “nghệ sĩ bé” (về chức vụ) nhằm tạo ra các tác phẩm phục vụ thật tốt đường lối cao cả của Chính quyền và đồng thời cũng xa cách dần các giá trị nhân văn phổ quát của nhân loại… “Cái đít đồng ghế Giám đốc Mosfilm” - theo cách nói của Bondarev - đã lấn át hết, tới chỗ thống trị tư duy sáng tạo của không ít nghệ sĩ điện ảnh Liên Xô có lương tâm một thời… Còn nền điện ảnh đàn em, sinh sau đẻ muộn ở nước ta tuy không mắc “căn bệnh ung thư” tới độ trầm trọng như sự miêu tả của Bondarev, song lại không có đủ nội lực để tự vượt thoát và tự “xạ trị” như “ông lớn Mosfilm”, nên đã bị “đầu độc” một lần tới gần chết vào đầu những năm 90 thế kỷ trước mà di chứng còn đến tận giờ - khi Liên Hiệp Điện ảnh Việt Nam đã có chủ trương hãm hại nó bằng nhiều phương thức khá tàn độc - trong đó có việc xóa bỏ tất cả các rạp chiếu phim và chuyển chúng thành các thứ kinh doanh ăn uống hay văn hóa lặt vặt không dính líu gì tới Nghệ thuật thứ Bảy!… Hãng phim, cùng cả nền điện ảnh dân tộc chết lâm sàng từ đó; những phim sử thi hoành tráng ca ngợi chủ nghĩa Anh hùng Cách mạng và Lãnh tụ vĩ đại một cách chân thành nhất cũng không cứu nó thoát khỏi cảnh ngắc ngoải. Rồi tới khi chủ trương cổ phần hóa đưa ra đã là phương thức thật lý tưởng cho tầng lớp “Mafia” (hay gần giống Mafia) trong ngành Văn hóa - Điện ảnh, những “hậu duệ” của Liên hiệp Điện ảnh trước đây bây giờ nhảy vào ngang nhiên xâu xé cả nền Điện ảnh đang thở hắt, với quy luật trơ tráo của thời kinh tế thị trường dị dạng tiếp tay cho “thương vụ 4 Thụy Khuê” mà một nhà văn từng công tác ở Cục Điện ảnh đã phải thốt lên: “Đó là một thương vụ Mua - Bán đến ăn cướp cũng phải chào thua!”.
Năm ngoái, khi có dịp phải đi qua phố Thụy Khuê, Thế có nghé vào cổng Hãng phim cũ, đúng cái lúc Vivaso, chủ mới của Hãng - những người chẳng cần biết Điện ảnh là gì ngoài số tiền họ đã bỏ ra “mua như ăn cướp” để làm chủ khu đất vàng lớn sát Hồ Tây (cùng khu đất của Hãng tại Đồn Đất, Sài Gòn) - ném hết ra ngoài sân toàn bộ kho phục trang, đạo cụ phó mặc cho mưa nắng, bởi với họ, đó chỉ là mấy thứ “đồng nát” vô giá trị, làm bẩn kho của họ. Cũng như họ đâu thèm quan tâm những người làm nghề sẽ đau xót đến chảy máu mắt ra sao, không thèm đếm xỉa đến đời sống và nghề nghiệp của người làm phim giờ đang như “cá nằm trên thớt” chờ “ơn huệ” của ông chủ mới… Hiện giờ, những ông chủ mới của Hãng phim ấy (Vivaso) đã phải nhè ra, bởi khó “ăn tươi nuốt sống” được miếng mồi béo bở cùng phe nhóm bên trên… Nhưng số phận của cả Hãng phim cùng hàng trăm nghệ sĩ, cán bộ công nhân viên vẫn còn trong giai đoạn “Sống cùng Lịch sử” - như tên một bộ phim truyện gần đây, “Sống cùng Lịch sử” với Vinh và Nhục của một nền Điện ảnh chịu nhiều thua thiệt và kém cỏi so với các đàn anh đàn chị trong khu vực chứ chưa dám so với cả thế giới…
Thế nhận thấy chị diễn viên có mối quan tâm thực sự đến số phận của Hãng phim và cả nền Điện ảnh đang chết lâm sàng, nên anh quyết tâm nói cho chị nghe những gì mà anh biết:
- …Nhưng chị ạ, xét cho cùng, nếu chỉ trách mỗi Vivaso thì cũng hơi oan cho họ, bởi họ đã hành động theo quy luật của Kinh tế thị trường, đúng yêu cầu của quy trình Cổ phần hóa, giữa lúc nền Điện ảnh nhiều năm mang danh Cách mạng kia gần như bị phá sản, thua lỗ, không có người xem vì chủ yếu là những đề tài mang nặng tuyên truyền chính trị, phim nặng tính “cúng cụ” - mà cả một thời rất dài nếu muốn xem loại phim đó cũng chẳng còn rạp đâu mà xem, sau khi Liên hiệp Điện ảnh đã xóa sổ các rạp chiếu phim nhựa, biến chúng thành quán bia, vũ trường, câu lạc bộ văn hóa phường…
Anh chỉ tay ra phía cổng Hãng mở tênh hênh:
- Chị ơi, giữa cái thời chị và các bậc thầy điện ảnh của chị em ta đang lâng lâng tự hào với những tác phẩm điện ảnh ca ngợi lý tưởng Cách mạng cao đẹp được trao giải chiếu cố tại mấy Liên hoan phim quốc tế, thì Ban Giám đốc Hãng trưng ra Bảng chữ to treo trước cổng kia kìa, để cảnh cáo, để bêu nhục những người làm phim lương thiện, trong đó có thằng em của chị đây…
Chị diễn viên giật mình, nhăn mặt lại:
- Cớ sao thế em? Các em mắc lỗi gì ư?
- Họ cảnh cáo những người đã đi làm phim ngoài Hãng cho em - dù họ đã làm đủ định mức lao động của cơ quan…
- Vô lý thế - chị ngắt lời.
- Chỉ vì em đã không đưa kinh phí tài trợ Cục Điện ảnh về cho Hãng thực hiện phim của em… Người bạn em làm trưởng phòng Kỹ thuật của Hãng, một nhà quay phim K5 cũ đã bí mật chọn thuê cho phương tiện lành lặn nhất, giá hợp lý nhất và mời mấy ánh sáng viên, kỹ thuật viên đi giúp đoàn phim quay xa ở miền núi, rồi sau đó cũng bị phát hiện và bị Đảng bộ Hãng kiểm điểm lên xuống… Và tên tuổi anh ấy cũng bị bêu lên trên Bảng chữ to kia!
Chị diễn viên lắc đầu nhẹ, nhưng vẻ mặt vẫn băn khoăn như không tin lời Thế. Anh đang trong đà say máu “tố khổ”:
- Trước đó cả chục năm, điện ảnh Việt Nam đã rơi vào cơn khủng hoảng trầm trọng, từng phải lên tiếng cấp cứu thảm thiết, và nền điện ảnh Cách mạng đáng tự hào đã phải nhường sân cho hàng loạt "phim mì ăn liền" với những cái tên phim câu khách lộ liễu trắng trợn! Ở trong ấy, giữa cái Lò chính sản xuất các “phim mỳ ăn liền”, chị lạ gì nữa?
Chị diễn viên gật đầu xác nhận.
- Gần đây, sau khi một cuốn sách viết về diễn viên Châu Nhuận Phát ra đời, em có viết bài báo nhỏ: “Hoan nghênh Châu Nhuận Phát”, bởi đó là một nhân cách đáng quý, nhất là đã không chấp nhận “Đường lưỡi bò” của bọn bá quyền Trung Nam Hải! Nhưng đó cũng là diễn viên lừng lẫy của một nền Điện ảnh thương mại một dạo đã góp phần “hạ đo ván” nền Điện ảnh VN ốm yếu què quặt mà trong một bài báo viết cho báo “Đại Đoàn Kết” ba chục năm trước em có nói đến, kèm theo hai tấm ảnh: ảnh diễn viên Châu Nhuận Phát đang cầm súng lục chĩa vào ảnh diễn viên Thu Hà… Như thế là sự thê thảm của nền Điện ảnh dân tộc đã diễn ra suốt mấy thập niên qua, không đợi đến lúc ngắc ngoải để Cổ phần hóa: nền điện ảnh ấy vốn đã ốm o gầy mòn, không được bồi bổ, bị ăn chặn tứ phía, lại thường xuyên bị “ăn hiếp” bởi những kẻ tự đắc tự mãn, vừa dốt nát vừa tham lam ở các cấp…
Chị diễn viên cắn môi lại vẻ tức tối và bất lực. Thế bảo:
- Nếu chị không ngại đọc những sự thật đau lòng đến trần trụi của ngành ta, em sẽ gửi cho chị mấy bài viết đã đăng báo chính thống của em viết từ hơn ba chục năm trước tới gần đây nhất nhé, chị sẽ hiểu thêm vì sao có cảnh ngộ này - Thế chỉ tay ra “bối cảnh” tàn tạ hoang vu. Nhưng chị diễn viên lắc đầu:
- Không! Chị không muốn đọc đâu! Chị nhớ ra em rồi, từ lúc mấy đạo diễn phải rời Hãng vào Sài Gòn tìm mối làm phim, chị đã được nghe kể về em, đã đọc các bài báo của em viết về ngành mình, nhưng lúc đó chị không tin. Còn bây giờ, những điều đó sẽ chỉ khiến chị thêm đau lòng…
Thế định nói thêm: “và khiến chị thêm tiếc nuối với các vinh quang của chị; lẽ nào các Bằng khen, Huy chương, Danh hiệu cao quý chị đoạt được lại dính líu thậm chí có nguồn gốc từ sự bê bối khủng hoảng kia?… Nhưng Thế chợt thấy thương hại chị, anh không nỡ nói thêm gì nữa, bởi nếu chị có nghe thì chắc không chịu đựng nổi điều này: sự phá sản của cả một nền Điện ảnh dân tộc cũng có phần đóng góp đáng kể của nhiều tác phẩm điện ảnh ca ngợi Chiến thắng bằng mọi giá của Bên thắng cuộc[11], vẫn được gọi là “Phim Cúng cụ” - trong đó, nhân vật chính diện là chị cùng các đồng nghiệp diễn xuất tài hoa đã nhiệt thành cho khán giả trong nước và thế giới dễ dàng nhận ra tính thù hằn giai cấp tới độ “Thù muôn đời muôn kiếp không tan” ẩn sâu hoặc lộ diện giữa Thanh thiên bạch nhật trong hình ảnh những chiến sĩ hoặc nông dân cầm vũ khí bảo vệ Tổ quốc… Nhà điện ảnh Pháp nổi danh René Claire từng bảo: “Bộ phim thực chất là một bài thơ được viết bằng ánh sáng”, còn ở ta, phần lớn các bộ phim thời “hoàng kim” của Điện ảnh cách mạng thực chất chỉ là những bản lên án - tố cáo - tố khổ - lời kêu gọi sự thương hại, được viết bằng ánh lửa thiêu ngùn ngụt hoặc ngọn đèn vạn Wát gay gắt của sự căm hờn thù hận… Sự thù hận đó tạo thành mạch máu chính của cả một “nền văn nghệ minh họa” - theo cách nói của một nhà văn sớm thức ngộ trước cái “hố thẳm” mà nhiều văn nghệ sĩ Việt hiện đại đang lao vào tựa những con thiêu thân, và nó còn hằn vết tới tận hôm nay khiến các trang sách và các màn ảnh lớn nhỏ vẫn nhuộm đỏ máu người như một sự tuyên bố ngầm quyết liệt xóa bỏ lời kêu gọi Hòa hợp Hòa giải thực sự mà hàng ngày vẫn được ra rả trên các phương tiện truyền thông!
Thế nhớ lại mấy báo Thế viết thời bị Hãng cắt lương phải phiêu bạt cùng nhiều đạo diễn già - trẻ vào Sài Gòn tìm đường cứu nghề. Anh sẽ tìm cách thuyết phục chị đọc chúng, cùng nhiều tài liệu chính thức đã công bố (chứ không phải của Mạng xã hội và truyền miệng), hy vọng chị sẽ là “Nhân chứng” sống có sức nặng không nhỏ trong việc đưa “thương vụ mua bán” Hãng phim đầy phi lý và ô nhục này ra “thanh thiên bạch nhật”; đồng thời - điều này quan trọng hơn - như vậy là chị sẽ cùng Thế thắp nén hương không chỉ tưởng nhớ mà còn thay mặt cả nền điện ảnh Tạ lỗi - Sám hối trước linh hồn các nghệ sĩ điện ảnh đã chết tức tưởi sau các cuộc truy bức tư tưởng & kiểm soát bữa ăn, và các nghệ sĩ điện ảnh đã hy sinh anh dũng trong các mặt trận phía Nam trước năm 75 giữa lúc cầm máy quay!
ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM - VÕ SĨ KHÔNG CÂN SỨC
1. Những cú nốc-ao!
Khi phần đông khán giả Việt Nam đã “quen hơi bén tiếng" phim Hồng Kong, khi các ông chủ trường quay ở xứ xở “lung linh ánh đèn màu” nọ hỉ hả thấy chính sách tiếp thị và kế hoạch kinh doanh điện ảnh lâu dài của họ có hiệu quả vượt ngoài sự mong đợi, thì cũng là lúc điện ảnh Việt Nam bị “nốc ao” và ngắc ngoải chờ một phát súng lục - của Châu Nhuận Phát chẳng hạn, kết liễu.
Ở một tờ báo chuyên ngành, có người viết sau khi đã dài dòng khen chê phim Hồng Kong đã đi tới một kết luận có tính “thực tiễn”: “Ai muốn làm phim nghệ thuật để đoạt giải thưởng quốc tế hãy cứ làm. Điện ảnh ở đây, chủ yếu dựa vào tầng lớp khán giả đông nhất, thị trường đông nhất và cuối cùng cũng là món lợi nhuận kếch xù nhất” (Điện ảnh TP. HCM số 15.10.1990). Bênh vực những phim Hồng Kông dễ dãi, tác giả công kích sâu cay vào một loại phim mà điện ảnh chúng ta giờ vẫn thiếu vắng: phim có giá trị tư tưởng & nghệ thuật cao, kết quả của sự tìm kiếm sáng tạo độc đáo - những bộ phim có khả năng gây được ấn tượng sâu bền, dù nặng nề chăng nữa nhưng đó chính là con đường lớn đầy chông gai của một nền điện ảnh đích thực.
Nhưng chúng ta hãy quay lại với “võ đài” hiện tại. Các “võ sĩ" điện ảnh Việt Nam không “nặng nề” chút nào như người ta vẫn định kiến, mà ngược lại “nhẹ cân lạng” về cả nội dung tư tưởng lẫn hình hài: từ cấu trúc cốt truyện, tâm lý nhân vật đến các chi tiết sống, từ điều kiện làm phim, phổ biến phim đến kĩ thuật các bản phim (négatif và positif)… Nhiều “lời khẩn cầu” cấp bách, nhiều lúc rơi tõm vào chốn hư không; còn sự chai lỳ, câm điếc của những người, những cấp có trách nhiệm và có thẩm quyền đã mặc nhiên cho nền điện ảnh “rơi tự do”, vô tình tiếp tay cho sự ra đời như nấm của hàng đống phế phẩm điện ảnh! Đó là chưa kể đến những vụ móc ngoặc để được giao làm phim, để mua bán phim có lợi cả đôi bên, cùng sự thiếu sót và bất lực thảm hại của các luật lệ… khiến cho “võ đài điện ảnh” Việt Nam mỗi lúc càng bị phủ thêm màn u ám.
Thực ra, ở trên đó vẫn còn vài “hiệp sĩ cô độc”. Những tác phẩm điện ảnh ít nhiều có giá trị nghệ thuật vẫn âm thầm tìm hướng đi cho cả ngành, giữa lúc nhiều địa phương, cơ quan phát hành và chiếu bóng gần như tẩy chay phim Việt Nam bằng một bản án không tuyên bố nhưng nghiệt ngã. Với một phim “trôi nổi” mua với giá vài trăm ngàn đồng có thể thu lời hàng triệu, tội gi mà chiếu phim nội địa vắng khách - dù đã buộc phải bỏ ra hàng chục đến hàng trăm triệu đồng (Kinh phí Nhà nước) để mua nó? Thôi thì mạnh ai nấy được. Việc làm phim và tìm “đầu ra” cho phim trở thành những “phi vụ làm ăn” chụp giật, bịp bợp và chớp nhoáng quay vòng vốn, bất chấp khán giả, bất chấp mọi quy luật về chức năng giáo dục và thẩm mỹ. Người người làm phim, nhà làm phim - cái cảnh tượng mới trông thì tưởng nức lòng, ra chiều “khởi sắc”, xem kỹ ra thì thật tuyệt vọng! “Lợi nhuận kếch xù!”! Lời kêu gọi hấp dẫn ấy không chỉ làm lao đao nhiều nghệ sĩ đáng kính trọng, khiến họ chấp thuận “luật chơi” của đám “võ sĩ nghiệp dư” đang ganh đua uốn éo chiều theo đủ mọi thị hiếu tạp nham, mà còn khiến cho cả Liên hiệp Điện ảnh cũng nhảy ra tổ chức “làm phim thể nghiệm” - mà kết quả thực sự “thể nghiệm” đó (thực chất là “làm tiền”) khiến nhiều người xem phải ê chề xấu hổ… Những “võ sĩ” còn giàu tâm huyết thì bị dồn đến chân tường, bị thương tích băng bó đầy mình (giống như nhiều máy quay phim cổ lỗ ở các hãng phim), phải bán bớt phương tiện và mặt bằng hành nghề để kiếm sống qua ngày. Người làm phim bế tắc, nhà làm phim đau đầu, những người làm công tác phát hành phim và chiếu bóng cũng ngộp thở. Cái giá của lợi nhuận trong nghệ thuật điện ảnh khiến cái “võ đài” thiêng liêng đó trở thành bãi chiến trường : người võ sĩ thất trận - nền điện ảnh dân tộc đáng thương đã tới lúc không còn đủ sức để kêu cứu nữa!
2. Ở đâu, những ông bầu của võ đài?
Họ vẫn tồn tại ở đâu đó. Chỉ có điều, dưới sự chỉ đạo của các “ông bầu” làm phim bằng mọi giá, những "võ sĩ" điện ảnh đang mất phương hướng, bị nhiễu loạn, lại è cổ ra chịu đựng những cú đấm thôi sơn của kinh doanh lỗ lãi. Bị nhốt chung vào một cái “rọ” bùng nhùng của cơ thể quá lỗi thời, quá bất hợp lý, các "võ sĩ" bị dồn đến cùng đường đôi khi đã “đánh lộn” lẫn nhau… Ngành chiếu bóng thì phải è cổ nộp ngân sách cho địa phương, còn ngành phát hành phim thì hoảng hồn trước chỉ tiêu kế hoạch nộp ngân sách Nhà nước mỗi lúc một tăng cao. Năm 89, 90, năm nào ngành phát hành phim cũng bị lỗ hàng tỷ đồng, nhưng nghe nói năm 91 khả năng chỉ tiêu giao nộp còn tăng cao hơn nữa! Trong khi một đồng chí Thứ trưởng thay mặt Bộ Văn hóa - Thông tin Thể thao và Du lịch tuyên bố: “Không thể nhìn văn hóa nghệ thuật như một ngành kinh tế, tự hạch toán và thăng bằng thu chi, mà phải tài trợ cho nó, vì doanh thu chủ yếu của văn hóa nghệ thuận là doanh thu tinh thần, tư tưởng và thẩm mỹ” (Sài Gòn giải phóng 6-1-1991) thì có lẽ chỉ tiêu doanh thu theo pháp lệnh cho ngành điện ảnh đã được ấn định. Để đạt được con số doanh thu ấy, liệu người ta có dám chiếu phim liền trong vòng một tuần không? Nên chăng, cứ tiếp tục dùng tiền thu được ở phát hành phim để vừa mua phim vừa mua phim Việt Nam nhét vào trong kho, vừa nộp ngân sách? Cái vòng luẩn quẩn, sẽ không bao giờ chấm dứt. Để có một số tiền khổng lồ như thế, người ta buộc phải tiếp tục mở rộng của chào mời phim ngoại nhập bằng đủ kiểu, nghĩa là thị trường điện ảnh Việt Nam sẽ còn phải “ngập lụt” bởi chính những “ông bầu” đang tâm hạ sát các “võ sĩ” của mình!
Đến lúc nào mới xuất hiện những “ông bầu” thực sự có hiểu biết về nghệ thuật điện ảnh, toàn tâm toàn ý với các “võ sĩ” của mình, đồng thời tạo điều kiện giúp họ mở mày mở mặt với thiên hạ?
Tp.HCM 1990 (Báo Đại Đoàn kết)
ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM ĐI VỀ ĐÂU?
Dường như, song song với những biểu hiện đáng mừng của một nền kinh tế thời mở cửa là sự “đua nở” của phim ảnh (không chỉ là “ khởi sắc” như nhận định của một vị quan chức điện ảnh). Trên các phương tiện thông tin đại chúng, những “tít” phim mới đua nhau xuất hiện ngày một dồn dập. Các công ty chiếu bóng địa phương không còn kêu ca về chuyện thiếu tiết mục điện ảnh nội địa mà nạn phim ngoại nhập lậu đành tạm lùi vào “hậu trường”. Điện ảnh đã tỏ ra rất nhạy cảm với cơ chế mới cùng những thị hiếu thời thượng; hơn ở đâu hết và hơn ai hết, nó đang là một “chiến sĩ tiên phong” của thương trường văn hóa.
Bất cứ một nền điện ảnh nước nào cũng có một loại phim thương mại mà người ta vẫn gọi là “phim chợ”, phim loại ba với mục tiêu lớn nhất là cung cấp món ăn giải trí cho đông đảo khán giả. Nhưng để duy trì một nền nghệ thuật điện ảnh đích thực, để có một đội ngũ sáng tạo điện ảnh luôn được bổ sung bằng những tài năng mới và để có được những tác phẩm “rửa mặt” cho quốc thể trong các liên hoan phim lớn quốc tế, thì ngay đến những “con sói già” của điện ảnh Pháp, Anh, v.v. cũng cần đến sự tài trợ đáng kể của nhà nước. Hàn quốc đang đầu tư mạnh cho điện ảnh như một phương cách truyền bá văn hóa hữu hiệu... Trông người mà ngẫm đến ta, quả thực đáng lo ngại! Những bộ phim nhựa và vidéo đã và đang ra lò hàng loạt và được quảng cáo rùm beng chỉ có thể chứng minh hùng hồn cho sự suy thoái về trình độ nghề nghiệp lẫn thẩm mỹ của giới làm phim (cả chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư), sự xuống cấp về thưởng thức thẩm mỹ của người xem. Tình trạng này đã ở mức báo động! Nhiều bài báo ở trung ương lẫn địa phương đã bày tỏ sự lo lắng, buồn phiền và chê trách. Điều đáng buồn hơn cả là việc làm phim đã trở thành một phương tiện kiếm sống đơn thuần và dễ dãi (thậm chí gần như một sự chụp giật), một cách vun quén sự giàu sang cho cá nhân. Không kể đến những kẻ “ngoại đạo” háo danh ham tiền nhảy bổ vào điện ảnh để kiếm chác, ngay cả một số không ít các nghệ sĩ đã có tên tuổi, vị trí nhất định trong ngành cũng trở nên mê muội trước những vụ “apphe” trong thị trường phim ảnh (và phim trường)! Một bộ phim làm về lãnh tụ (tiêu tốn tới gần hai tỷ đồng) cũng trở thành “phi vụ” làm ăn béo bở, rồi sau đó thì “bộ phim vĩ đại” được nhét vào kho. Không có gì đáng ngạc nhiên khi một đạo diễn có tiếng tăm ở phía nam chấp nhận làm một bộ phim nhiều tập hoàn toàn dựa theo một cốt truyện phim Hồng Kông, một đạo diễn được phong nghệ sĩ ưu tú ở phía Bắc mang danh “làm phim thể nghiệm” (do LHĐA cũ bày vẽ) để cho ra đời một sản phẩm đáng xấu hổ… Song, điều đáng ngạc nhiên là những nghệ sĩ đáng kính trọng đó đã không hề có một chút áy náy, băn khoăn nào, họ còn ngang nhiên tuyên bố trước công luận: họ cần phải làm phim để sống, cần phải chiều theo ý muốn của kẻ có tiền! Gần đây nhất, một đạo diễn thuộc loại “có cỡ” để thanh minh cho hàng loạt phim kém cỏi làm theo lối “chạy sô” của mình, đã trả lời phỏng vấn như sau: “Điều trước hết đối với riêng tôi là cần phải tồn tại bởi vì tôi không thể không làm phim”… “nhiều đồng nghiệp của tôi, chỉ vì không chịu đổi mình, đành phải sống cơ cực. Muốn làm phim tử tế, tôi phải có thật nhiều tiền”… “Bây giờ người ta đang sửa lại cái “thói quen nghèo khổ” đó, không có gì buộc tôi không như họ”. Thực là thảm hại, và đáng buồn quá! Chưa cần nói đến những mỹ từ to tát: sứ mệnh nghệ thuật, danh dự người nghệ sĩ, v.v, chỉ cần nói đến lòng tự trọng tối thiểu của người làm nghề, người ngoài cũng cảm thấy xót xa, tủi hổ thay! Thế nào là “chịu đổi mình” ? Phải chăng ông đạo diễn đạt kỷ lục về số lượng làm phim nọ muốn nói tránh đi cái sự thật: “chịu đổi mình” cũng có nghĩa là “tự hạ mình”, “tự bán rẻ tài năng và nhân cách của mình”? Đến nay những “tấm gương” như thế không chỉ còn đếm trên đầu ngón tay được nữa. Họ đã đang “chơi” trò chơi phim ảnh như những con gấu đập những đõ ong đầy mật, dù lũ ong có túa ra đốt chí chết bọn trẻ con đang đứng bâu quanh hâm mộ họ cũng chẳng làm họ mảy may động tâm!
Trong suốt một thời gian dài, tất cả những “thể nghiệm” điện ảnh để kiếm ra tiền, để “móc túi” khán giả hầu như đều đã được sử dụng. Còn những thể nghiệm nghiêm túc về nội dung- nghệ thuật thì bị quên lãng, bị coi rẻ, không được ủng hộ (ngoài những lời cổ động chung chung). Những người ôm ấp khát vọng sáng tạo thực sự thì bị coi là không tức thời- tệ hơn, là những kẻ điên rồ, phải sống trong cảnh đói rách, mệt mỏi, chán nản. Cả guồng máy điện ảnh ầm ầm lao theo cái đích doanh thu. Lợi nhuận khổng lồ của phim ảnh phần lớn rơi vào túi những kẻ thức thời cơ hội và những kẻ lợi dụng vị trí công tác để xoay xở mờ ám. Và nhan nhản trên màn ảnh là những nhân vật sang trọng thuộc tầng lớp trên hoặc những kẻ mới phất lên giàu có làm người xem phát thèm rỏ rãi. Những con người sống động với chiều sâu tâm lý chân thật của các tầng lớp xã hội dần dần biến mất khỏi màn ảnh để nhường chỗ cho những hình nhân xa lạ, khóc, cười, thọc lét và ba hoa những triết lý học mót rởm đời. Phim dành riêng cho thiếu nhi gần như vắng bóng…
Nhìn bức tranh toàn cảnh của điện ảnh Việt Nam, không thể không lo ngại. Giai đoạn phim quay thông dụng bằng vật liệu ORWO đã chấm dứt, bước sang giai đoạn phải dùng vật liệu đắt hơn gấp mấy lần (phim AGFA, KODAK, v.v), kinh phí làm phim sẽ phải tăng vọt. Trong khi đó, cơ cấu tổ chức phát hành, chiếu bóng trên toàn quốc chưa được cải tổ một cách đáng kể mà quy trình công nghệ sản xuất phim đã lạc hậu so với thế giới đến nửa thế kỷ. Công chúng xem phim hàng ngày bị ngạt thở với hàng đống thứ phẩm điện ảnh nội địa. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ điện ảnh tựa như chuyện ăn cháo loãng cầm hơi. Những người được đào tạo tử tế, nhất là những người có khuynh hướng thẩm mỹ tích cực , có nhiệt huyết đối với sự nghiệp điện ảnh dân tộc thì sống trong cảnh cầu may…
Điện ảnh Việt Nam sẽ đi về đâu? Trên “võ đài” điện ảnh quốc tế, điện ảnh Việt Nam còn là một “võ sĩ” bủng beo, gầy còm, không cân sức đến bao giờ?... Những điều day dứt, trăn trở của những người hoạt động điện ảnh có tâm huyết hi vọng sẽ tìm được sự đồng cảm sâu xa và những biện pháp mạnh bạo, hữu hiệu của những người lãnh đạo điện ảnh, những cấp có trách nhiệm của Nhà nước.
Những “ông bầu” đích thực của Điện ảnh Việt, theo hình mẫu “Ông hoàng Hollywood" mà dân làm phim nước nào cũng mơ ước cho đến hôm nay vẫn chưa thấy bóng dáng ở chân trời nào của xứ sở! Trong lúc đó, thì việc “đục nước béo cò”, những người có tiền song chẳng hiểu quái gì về Điện ảnh nhảy xô vào mong hốt bạc từ những thứ ngoài nghệ thuật Điện ảnh - là chuyện hiển nhiên, dể hiểu!
Tp. HCM - 1990 ( Báo Đại đoàn kết )
LÀM PHIM... HAY LÀM TIỀN?
I. Thời gian vừa qua, công luận rộ lên về tình trạng bát nháo của phim Việt (đặc biệt là phim truyện truyền hình chiếu "giờ vàng"), tất cả đều xác đáng- mà một "tít" phụ của báo Tuổi trẻ TPHCM đã thâu tóm được chỉ bằng hai chữ: "nhảm nhí". Nhiều ý kiến đã phanh phui thực trạng cũng như nguyên nhân của tình trạng này. Có điều, một sự thật hiển nhiên mà chắc nhiều người cũng biết song không nỡ nói trắng phớ ra: đấy là, người ta không làm phim, nghĩa là không làm văn hóa, mà là làm tiền một cách trắng trợn! Việc làm tiền, đâu có gì đáng phải nói, nhưng ở đây, vấn đề là người ta đã làm tiền một cách thiếu sòng phẳng, không lương thiện, vô tình hoặc cố tình đánh cắp thời giờ, tiền bạc, lòng tin... của đông đảo khán giả!
Nhưng cái thực trạng đáng xấu hổ này (nhục nhã thì đúng hơn!) đã được ủ mầm bệnh từ hai chục năm trước (và đến bây giờ thì có điều kiện bung ra tất cả sự thối tha của nó) khi điện ảnh Việt Nam rơi vào cơn khủng hoảng trầm trọng, từng phải lên tiếng cấp cứu thảm thiết, và cũng là lúc xuất hiện hàng loạt "phim mì ăn liền" với những cái tên phim câu khách lộ liễu trắng trợn! Nhiều ông "chủ phim" xuất hiện, nhưng than ôi, không phải là hình mẫu "Ông Hoàng Hollywood" đáng nghiêng mình kính nể của nhà văn Mỹ Fitzgerald! (cuốn tiểu thuyết đã có bản dịch tiếng Việt). Những ông "chủ phim" này rất giỏi đánh hơi phần thị hiếu tầm thường của công chúng và quả đã lập được những kỷ lục khủng khiếp trong việc kiếm tiền chụp giật cũng như tiêu diệt những thị hiếu lành mạnh còn sót lại! Kẻ viết những dòng này cũng từng lang thang phía Nam nhiều năm ròng "tìm đường làm phim", cũng đã từng phải nhún mình trước những ông chủ phim như thế, để có lần, khi một ông "chủ phim" ra điều kiện làm phim là: không được sửa kịch bản, phải lấy vợ ông ta vào sắm vai chính, thì hắn nổi khùng. Và hắn đã bị ông "chủ phim" đó hắt khinh miệt vào mặt: "Anh không làm thì thôi! Loại đạo diễn thất nghiệp như anh từ ngoài Bắc vào nhiều như chó con!"
Làm khổ độc giả bằng câu chuyện cũ rích như vậy là để từ chuyện làm "phim mỳ ăn liền" kia, khi liên hệ với chuyện làm phim nhố nhăng hiện tại (và việc phát hành nó tới đông đảo khán giả), chúng ta dễ dàng nhận diện những ông "chủ phim" kiểu mới (đã biến tướng đi ít nhiều). Họ bây giờ là những ai? Đó là những công ty truyền thông tư nhân, những hãng phim tư nhân mà mục tiêu chủ yếu trong hoạt động là lợi nhận, lợi nhận, và lợi nhuận - còn những thứ khác như: nội dung giáo dục, vì tương lai thế hệ trẻ, vì thuần phong mỹ tục, v.v. chỉ là đồ trang kim dán bên ngoài để dễ dàng trôi qua kiểm duyệt, để nhanh chóng được nghiệm thu sản phẩm (dĩ nhiên là phải kèm thêm khoản "hoa hồng" hoặc phong bì lót tay hậu hĩ!).
Khoảng 6 năm trước, khi được Nhà nước cho phép, các hãng phim tư nhân mọc lên như nấm sau mưa, các công ty cổ phần hay trách nhiệm hữu hạn làm truyền thông quảng cáo cũng mau chóng bổ sung chức năng làm phim. Lúc đó, Trung tâm dịch vụ & quảng cáo truyền hình (TVAD) Đài THVN đã tổ chức một cuộc gặp mặt hoành tráng với các cơ sở sản xuất phim tư nhân toàn quốc, mở đầu cho giai đoạn xã hội hóa phim ảnh! (Thực ra từ trước đó cũng đã có sự xã hội hóa bằng cách Đài "bán cái" một số chương trình show games truyền hình cho tư nhân thực hiện). Rồi tiến tới, "mật ngọt chết ruồi", đến ngay cả Trung tâm sản xuất phim truyền hình (VFC) - một cơ sở làm phim truyện truyền hình lớn nhất nước cũng hầu như "bán cả hồn lẫn xác" việc sản xuất phim cho tư nhân - và thời kỳ "hoàng kim" của VFC đã trở thành niềm tiếc nuối của không ít khán giả truyền hình khi "Văn nghệ chủ nhật" đã nhường chỗ cho một chương trình lạ hoắc và "lông bông" (nhận xét của một người xem truyền hình). Dựa trên một chủ trương đúng đắn (cần phải có 70% phim nội địa), dòng phim "mỳ ăn liền" đùng đùng sống dậy đã tác yêu tác quái các kênh truyền hình cả nước- và chiễm trệ tại "giờ vàng" của VTV Quốc gia!
Bên điện ảnh phim nhựa cũng rơi vào tình trạng bị "mua đứt bán đoạn" tương tự, đến nỗi người xem phim vào rạp có cảm tưởng phải buộc xem những post quảng cáo kéo dài, buộc xem trình diễn thời trang, buộc mở những trang web cá nhân xa lạ xem nam thanh nữ tú "lộ hàng nóng" khiến họ phải đỏ mặt; và diễn ra cái cảnh mà một nhà biên kịch nổi tiếng Mỹ đã hài hước kể lại trong "Những bài giảng về Nghệ thuật kịch bản điện ảnh": đó là lúc lượng tiêu thụ nước của thành phố thình lình tăng vọt!
Thực ra, ngay cả những phim truyện Truyền hình chưa đủ "tiêu chuẩn" để được gọi là "mỳ ăn liền" cũng đã mang những yếu tố của "mỳ ăn liền" đích thị! Vì không có trường quay, kinh phí quá bèo bọt, nên một số phim TH quay kéo dài hàng tháng trời đã mang tiếng là "lừa đảo" những chủ nhà cho thuê mượn bối cảnh (bởi hứa hẹn là chỉ quay có vài ngày!) Những người tham gia làm phim thì mắt trước mắt sau ngốn cho xong tiến độ để còn "chạy sô" phim khác; bộ phận kỹ thuật thường rất khó chịu khi đạo diễn muốn tìm tòi suy nghĩ cho phim thì có câu nói mỉa mai kinh điển: "định săn bắt cái con gì thế hở?"; còn diễn viên (trừ một số ít người đứng tuổi) thì mắt nhắm mắt mở cầm cuốn kịch bản phân cảnh đọc mà chẳng cần biết đầu cua tai nheo thế nào, nhăn nhó năn nỉ với trợ lý: "Nhắc thoại tý!"- nhưng "một tý "ấy kéo dài hết cảnh này sang cảnh khác, khiến người lồng tiếng hậu kỳ phải chửi rủa ầm ĩ (còn nếu do chính mình đóng mà nhai lời lại thì đành ngậm bồ hòn làm ngọt), và người xem phim thì có ấn tượng rằng: đấy là những người lớn đang tập nói tiếng Việt!… Thảm cảnh của chuyện làm phim ở Việt Nam cũng có thể coi là một thứ phim truyền hình bi hài dài tập không có hồi kết!
II. Có mấy công đoạn liên kết chủ yếu để diễn ra cái tình cảnh phim Việt trở thành nỗi "kinh hoàng", "ghê sợ", làm đau đầu nhiều người hiện nay, tôi xin thử tháo gỡ và phân tích từng công đoạn:
1. Được các Nhà đài bật đèn xanh, các công ty sản xuất phim tư nhân năng nổ kêu gọi các nhà tài trợ (thường là những cơ sở sản xuất kinh doanh muốn quảng cáo sản phẩm trên TH) - bằng các dự án phim TH dài tập. Nghĩa là, Nhà đài cho phép đổi phim lấy quảng cáo. Còn công ty sản xuất phim bắt đầu đi thuê mướn đội ngũ làm phim, với hình thức "cò kè bớt một thêm hai", và tất nhiên họ sẽ "ngã giá" với những ai có khả năng thực hiện "nhanh nhiều tốt rẻ" và chấp thuận những điều kiện có lợi nhất cho họ. Những người đổ tiền vào để quảng cáo (trong phim và ngoài phim) chỉ chăm chăm xem sản phẩm của mình có làm "mờ mắt thủng tai" người xem hay không. Ngay cái khâu đầu tiên này đã sặc mùi thương mại, chẳng thèm đếm xỉa đến nội dung tư tưởng nghệ thuật gì hết trọi, nếu còn mong phim có giá trị nhân bản sâu sắc hay nghệ thuật cao siêu thì thực là ảo tưởng!
2. Người làm phim (thường do đạo diễn, hoặc đối tác trung gian đứng ra "nhận thầu"), khi cầm đồng tiền tạm ứng làm phim thì phải so đo đong đếm để "gọt giày vừa chân". Chưa kể, người làm phim trong khi lo xoay sở chuẩn bị tiền kỳ, lại phải đối phó với trung gian đương tìm mọi cách bớt xén phần kinh phí vốn đã quá èo uột... Nhưng không chấp nhận thì... đạo diễn thất nghiệp và "chợ người làm phim" chờ việc đang nhan nhản ra kia ở cổng các hãng phim lớn nhỏ! Và không ít người làm phim, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt, đã chấp nhận làm phim bằng mọi giá, đồng thời cũng coi lương tâm nghề nghiệp chẳng đáng xu rỉ, đã thực hiện đúng phương châm: "Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi"! Sở dĩ trong dân gian lâu nay vẫn lưu truyền câu nói của bố mẹ với con cái: "Nếu con mà lười học, dốt nát, mai kia sẽ cho làm đạo diễn phim truyền hình!", phải chăng có cơ sở thực tế là những "đạo diễn truyền hình, đạo diễn điện ảnh" kiểu này đang xuất hiện nhan nhản trên thương trường phim ảnh? Chỉ cần có những mối quan hệ hữu hảo, biết "chi đẹp", là dễ dàng được "cầm cờ" làm đạo diễn, hô diễn hô cắt máy rất oai, để vênh váo với bạn - hơn thế, có thể "hòa vốn" hoặc có lãi to chưa biết chừng trong cuộc mua bán hư danh! (Chỉ đơn cử ví dụ: một người chỉ mới làm vài cái saw games đơn giản trên truyền hình bỗng dưng nảy nòi trên cương vị đạo diễn điện ảnh rất oách, trong một phim lịch sử cực kỳ đồ sộ và tai tiếng cũng đồ sộ không kém! Thật may cho khán giả là phim chưa kịp ra "lò" đã bị tuýt còi, xếp xó).
Nếu là một người làm nghề có lương tâm thì sẽ không bị đồng tiền chi phối một cách thảm hại, sẽ biết lịch sự hay thẳng thừng từ chối những kịch bản dở, từ chối lối làm phim chụp giật. Nhưng than ôi, người biết từ chối như vậy trong nghề xem ra ngày càng hiếm "như lá mùa thu", và góp phần làm tràn ngập những bộ phim quái thai "khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào"!
3. Nhưng xét cho cùng, nếu những thứ phẩm của điện ảnh - truyền hình (đúng ra phải gọi là Rác văn hóa) bị chặn lại bởi hệ thống duyệt & phát hành đúng nghĩa thì đã không xảy ra chuyện dở cười dở khóc khiến bao người phải phí công sức để than phiền, phẫn nộ! Thực chất thế nào? Nhiều ý kiến đã vạch ra quá chi tiết và xác đáng, tôi chỉ xin nói thêm điều này: tôi thực sự kinh ngạc khi thấy người duyệt phim rất kỹ lưỡng, săm soi từng chi tiết, từng câu thoại mà họ coi là "nhạy cảm", song lại tỏ ra thông thoáng dễ dãi đến đáng ngờ trước những sản phẩm nhạt nhẽo, vô duyên, ngớ ngẩn, và nhảm nhí! Bản thân tôi và một số đồng nghiệp cũng không chỉ một lần là nạn nhân của cái bệnh "cầm đèn chạy trước ô tô", thói "bảo hoàng hơn vua" này của những người duyệt phim, khi phân cảnh thì được soi rất kỹ từng lời thoại, song khi diễn viên nói ra lại khiến họ sợ dúm, bắt đạo diễn phải cắt, hoặc "hiếp lời" (diễn viên nói một đằng, nhưng lồng tiếng lại một nẻo!) Và có những phim phải bị cắt đến không còn ra hình thù gì cả khi phát sóng khiến đạo diễn không nỡ, không dám xem lại phim của mình nữa!
Hệ lụy của tất cả những điều nói trên không chỉ là làm mất lòng tin của số đông khán giả với truyền hình - điện ảnh nước nhà, làm lãng phí công sức, thời gian tiền bạc của biết bao người, nó còn góp phần đắc lực tạo ra sự lệch lạc méo mó trong thị hiếu thẩm mỹ của thế hệ trẻ, góp vào sự suy đồi của đạo đức xã hội, tạo ra nguy cơ "sự trống rỗng văn hóa" như một số nhà hoạt động văn hóa nước ngoài đã từng cảnh báo!
…Trong mối quan hệ chằng chịt giữa các công đoạn, các tổ chức để ném ra đời hàng đống phim nhảm nhí kia, là những âm mưu, những tính toán, những mục đích không "nhảm nhí" chút nào, còn người xem vô tội lương thiện thì lãnh đủ; và tôi đồ rằng, dường như có một hình bóng của quy luật "Maphia" đang len lỏi thao túng làm u ám thêm đời sống phim ảnh nước nhà vốn đang ốm yếu què quặt…
Hà Nội, 2011 (Tuanvietnam.net)
Nếu chị diễn viên chịu đọc qua mấy bài báo tép này, Thế sẽ có cớ để nhẹ nhàng nói với chị: Vậy đó chị, nói như cụ Nguyễn Trãi: “họa phúc hữu môi phi nhất nhật” - họa phúc có mầm đâu chỉ một buổi, cái sự tan hoang này khiến chị phải khóc đã được chuẩn bị từ lâu rồi, có gì mà phải phí hoài nước mắt, thưa bà chị, nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng, nữ Nghệ sĩ Nhân Dân đáng kính và đáng thương?
2.
Chật vật lắm mới được chuyển vùng từ Tây Bắc về Thủ đô, sau gần “Chín năm làm một Điện Biên” và bao nỗi kiên trì và kiên quyết “nổi loạn” cùng một số đồng nghiệp “giáo khổ” nhằm phá vỡ lời nguyền “Không cho chúng nó thoát” của các “thủ lĩnh” Giáo dục của một tỉnh miền núi, Thế mới được toại nguyện, và sau đó được phân về một trường Phổ thông trung học ngoại thành cách nhà hơn 20 cây số…
Những hôm có tiết dạy đầu, Thế phải dậy từ 4 giờ sáng, hộc tốc đạp xe đạp tàng từ phố xá còn loạng choạng đèn đường tới những con đường đất đá lổn nhổn dẫn ra một bến phà ngồi chờ đợi, lúc mặt trời bắt đầu le lói tia nắng đầu tiên trên sông Hồng… Nỗi nhớ thời dạy học miền núi và những suy tư về ước vọng điện ảnh giúp Thế bớt đi nỗi bực dọc của sự đợi phà đến cũng như lúc phà đi… Có lần, lúc trở về, trên con phà lênh đênh giữa dòng sông đỏ quạch chìm trong hoàng hôn, Thế lặng đi trong nỗi nhớ Tây Bắc và mối tình đầu…
Sông Hồng mùa lũ đục ngầu miên man cuộn chảy. Anh nhìn phía thượng nguồn xa tít tắp…
Hỡi chàng trai không còn trẻ nữa, bao dòng sông bao con suối anh đã đi qua
Một con tàu trắng hiện lên, khi chỉ còn một chấm nhỏ, sóng con tàu mới đánh vào bờ dào dạt. Chỉ nỗi nhớ thương là có thật và đầy ắp cả không gian bao la
Sông nhoè ướt, cồn cào…
Sao em chỉ đi qua đời anh như một tia sáng?
Anh chợt hiểu những gì là phù du, dối giả của đời anh - chúng tựa những bọt cát đang trôi vật vờ trên sông…
Cùng những rác rến bèo bọt, những năm tháng lỗi lầm và hèn đớn trôi đi… Anh ngược dòng tìm đến thượng nguồn sông, tới đầu con suối. Để sống, dù một ngày thôi, giữa cái nơi không có thù hằn, đố kỵ, bon chen.
Để sống, dù một chốc lát thôi, với ngọt ngào dịu êm vô tận của mối tình đầu…
Sông nhoè ướt, cồn cào…
Cũng có buổi trên sông lúc hoàng hôn đỏ rực những đám mây vần vụ tận chân trời, Thế chợt hình dung đó là một màn ảnh khổng lồ của một bãi chiếu phim ngoài trời… Vốn là "tín đồ" của màn ảnh, cả tuổi thơ anh từng lê la qua hầu hết các rạp chiếu phim của Hà Nội, lần đầu tiên đã ngỡ ngàng xiết bao khi được xem phim ở bãi chiếu phim thời đi sơ tán tại một làng quê Bắc Bộ... Trong khi nhiều bạn trẻ trong làng rú lên khiếp sợ khi đàn chiến mã trên màn ảnh lao về phía ống kính (bởi lần đầu xem phim) thì cậu bé Thế ngơ ngác quan sát những người xem phim đang ngồi bệt ngồi xổm xung quanh. Thế bắt đầu có ý niệm về sự giao lưu trực tiếp giữa màn ảnh với người xem, giữa người xem với khung cảnh: màn trời đêm đầy sao, phông màn ảnh được dựng lên bằng các sào tre, gió đồng thổi lộng khiến những hình ảnh khổng lồ đang hoạt động như cũng được tiếp thêm năng lượng - đó là điều anh không cảm nhận thấy ở trong rạp kín. Thế có lần kể cho mẹ nghe ấn tượng không thể quên về phim bãi tuổi thơ trong một lần cùng mẹ đi xem phim rạp ở Hà Nội, mẹ chỉ cười... Cho tới khi tình nguyện lên công tác một thị trấn vùng núi Tây Bắc, nơi Tuổi trẻ anh đi qua những bản nghèo/ Những thảo nguyên, những phố huyện buồn ngủ quên trong mây núi... Phố huyện buồn đó thường được đánh thức bởi những buổi chiếu phim bãi. Tiếng loa từ Uỷ ban huyện ngay lúc đầu giờ chiều đã oang oang thông báo lịch của đội chiếu bóng. Mấy cái thông báo viết nguệch ngoạc tên phim, xuất xứ phim dán ở cửa hàng ăn, cửa hàng bách hóa. Học trò rỉ tai nhau trong giờ học về bộ phim sẽ chiếu. Các gia đình ở thị trấn lo nấu bữa cơm chiều thật sớm… Có lẽ, tất cả những bãi chiếu phim từ đồng bằng, vùng trung du, cho tới thị trấn miền núi ấy đều có những điểm tương đồng: Đó một bãi đất trống được rào giậu cẩn thận, ở một số nơi, có khi bãi chiếu là nghĩa địa của làng. Vài cái ghế con, vài viên gạch được ai đó đặt giữa bãi để xí chỗ từ chiều. Bọn trẻ hiếu động thường đi rất sớm tranh chỗ, thường là trước buồng máy (được dựng bằng tranh nứa hay gỗ, tựa lều canh cá) - nơi chúng có thể hoa chân múa tay lúc thử máy để thấy hình mình trên màn ảnh, được ngắm nghía cái máy chiếu cồng kềnh như súng đại liên với những hộp phim như các băng đạn trong bộ phim "Dặm đường máu lửa" và nhiều phim chiến đấu của Liên Xô, Ba Lan, CHDC Đức, thế mà lại chỉ "bắn" ra luồng ánh sáng mờ bụi... Học sinh con em cán bộ thì thường nhịn ăn quà sáng dành tiền xem phim bãi; đứa không có tiền thì năn nỉ với anh soát vé, không được thì tìm cách nhảy rào hoặc chờ đến khi chiếu đến cuốn hai thì được vào "tháo khoán", đông quá thì chui ra phía sau màn ảnh xem cũng "đã"! Không ít người vượt tới chục cây số đường rừng đến bãi chiếu, mang theo cơm nắm, ngô luộc. Có buổi, cả bãi phải đợi cả tiếng đồng hồ, vì phim còn đang vận chuyển từ huyện khác tới, hay một xã vùng cao về, nhưng ít có sự rên rẩm kêu la, thay vào đó là sự râm ran bàn luận về bộ phim chiếu hôm trước... Tới lúc máy nổ rùng rùng, mọi người hân hoan hẳn lên, sau đó, một bóng đèn điện lập tức áp đảo ánh nến, ánh đèn dầu của những gánh, những mủng hàng rong bán kẹo, lạc rang, mực nướng, khoai sắn nướng, những con tò he... ở trong và ngoài bãi. Khi người thuyết minh (cũng thường đồng thời là đội trưởng chiếu bóng) trịnh trọng: “Thưa bà con, hôm nay đội chiếu bóng xin phục vụ bà con bộ phim..." thì một tràng vỗ tay, kèm những tiếng reo hò như cổ vũ bóng đá. Đèn tắt. Tiếng máy xè xè cất lên, cả bãi phim đang như ong vỡ tổ chợt lặng đi. Một thế giới lúc gần gũi lúc xa lạ xuất hiện, với những lời thoại cô đọng bay bổng quyện khí lạnh trời đêm dường góp phần thăng hoa sự say đắm, thi vị... Trẻ con, người lớn, bà đi chợ, anh phòng thuế, ông cán bộ huyện... tất cả đều như bị phép lạ thôi miên, mặc kệ những vết xước ào ạt trên phim vì khai thác quá nhiều (mà lẽ ra chúng phải "hóa kiếp" thành đèn lồng, cây cau, thuyền buồm... từ lâu). Cái dạ dày đương rên rỉ bởi cơm độn ngô bỗng quên phắt anh giáo huyện là Thế để cùng mê mải với những gì đương diễn ra trên màn ảnh lớn đang lay động kia... Có đôi lần, vào trước giờ chiếu, anh đội trưởng say mèm đã năn nỉ nhờ Thế thuyết minh hộ. Chưa hề được xem qua, lại thấy bản thuyết minh đánh máy chữ nhàu nát, lúc đầu Thế từ chối; nhưng rồi vì thương anh ta và thương khán giả đang mong chờ, anh tặc lưỡi đồng ý - may mà không bị khán giả la ó, ném rác lên màn ảnh phản đối!... Chẳng hiếm người khi phim đang chiếu đã lăn ra bãi làm một giấc ngon lành, tỉnh dậy xem tiếp; và đôi lần, khi bãi đã vắng hoe từ lâu, có khán giả mới choàng thức giấc! Các đôi nam nữ thanh niên đang thời kỳ tìm hiểu nhau hay đã yêu nhau tìm đến bãi chiếu phim để "mượn cớ" với cha mẹ, hoặc để vừa xem vừa thủ thỉ tâm sự; và nếu có cảnh cầm tay rạo rực trên phim sẽ giúp họ bạo dạn hơn cầm tay nhau trong sáng tối nhập nhoạng mà cả hai không thấy quá đột ngột! (thời mới hòa bình, thời chiến tranh, rồi đến thời bao cấp, những cảnh "nóng" tràn ngập phim ảnh, thậm chí chỉ hôn nhau kín đáo thôi cũng đã bị cắt béng!). Trước khi lên Tây Bắc, Thế từng được nghe kể lại: thời kỳ đầu, ở các bãi chiếu bóng thường xảy ra những sự kiện chẳng khác gì phim hành động: gạch đá, dép cao su bay vèo vèo đến màn ảnh cùng tiếng thét “đả đảo địa chủ", thậm chí có cả tiếng súng bắn lên trời!... Tuy nhiên thời ấu trĩ đó qua rất nhanh, và bãi chiếu phim thực sự trở thành bạn tâm giao, trường học lớn của không ít lớp người, chưa kể là nơi chắp mối nên duyên của không ít lứa đôi khi tìm được sự đồng điệu qua phim ảnh, được phim ảnh cổ vũ đến với tự do hôn nhân... Những năm sau Giải phóng, ở phía Nam, ngay tại trung tâm nhiều thành phố - thị xã, điện ảnh đến với người dân chủ yếu bằng các bãi chiếu bóng dân dã kiểu này. Đôi ba bài ca dao mới xuất hiện bằng các các tên phim chắp lại vốn là sản phẩm độc đáo của thời phim bãi: “Khởi đầu” em đứng “Trên cao”/ Nghe “Cơn gió lốc” thổi vào buồng tim/ Ngày mai em quyết đi tìm/ “Người thứ Bốn mốt” của “Đêm giao thừa”/ "Bao giờ cho đến..." ngày xưa/ Dù "Đại hồng thủy" chẳng chừa đâu anh. Với riêng Thế, bãi chiếu phim chính là cái nôi ấp ủ cho anh khát vọng Điện ảnh kể từ thời thơ ấu… Giờ đây trên sông Hồng nhớ tới bãi chiếu phim phố Núi, Thế có cảm giác bùi ngùi tựa tâm trạng nhân vật chính trong phim Rạp chiếu bóng Thiên đường (Cinema Paradiso) của Ý sau nhiều năm trở lại chốn hoang tàn nhưng lại nơi đã hun đúc cho anh tình yêu điện ảnh và khơi nguồn sự nghiệp cả đời người...
Thế chỉ tồn tại ở mái trường ngoại thành này ngót một năm, chẳng để lại ấn tượng gì đáng kể, ngoài một mối tình thoáng qua mà nguyên cớ ban đầu và chủ yếu của “sự kiện” tình ái này lại bởi… Thơ:
Cô tài vụ của trường tên là Liên có vẻ ác cảm với một kẻ tự ti lầm lỳ như Thế, hoặc coi thường anh “giáo khổ” miền núi trở về, nên cứ vào kỳ lĩnh lương, cô thường để anh phải đi tới đi lui dăm bẩy bận, đến phát khùng lên mới được lĩnh hết lương.
Một buổi, Thế vào phòng tài vụ chờ rất lâu. Trong lúc nôn nóng chờ đợi cô tài vụ và chuẩn bị thái độ ứng xử trước sự trù úm quen thuộc, Thế chợt nhìn thấy một cuốn sổ tay để mở trên bàn. Anh tò mò cầm lên đọc. Hóa ra là sổ chép thơ, ngoài thơ Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm, Chính Hữu, Bằng Việt… còn có mấy bài thơ tình của Puskin. Có nhiều câu, đoạn chép sai, còn chính tả sai be bét. Thế liều mạng lấy bút ra sửa giúp, say sưa đến nỗi không nhận ra cô tài vụ đã về từ lúc nào. Cô giằng lấy cuốn sổ từ tay anh, nhìn với vẻ hết sức khó chịu, như lên án một kẻ phạm tội nặng nề, quên thoái thác nhiệm vụ theo kiểu đối phó với kẻ cô có sẵn ác tâm rằng: hôm nay chưa có tiền lương!
Thế tái mặt lo lắng. Nhưng số anh quả là có sao may mắn chiếu mệnh. Cô đọc một lúc xem tay này có viết bậy gì trong sổ quý của cô. Vẻ lạnh lùng khinh khỉnh dần biến mất, rồi nhẹ nhàng hỏi: "Anh sửa đấy à?" Thế ấp úng gật đầu: "Tôi… Tôi là giáo viên văn mà...". Cô dường như quên phắt cái “sứ mệnh” là phải hành hạ một "ma mới" như Thế, hào hứng: "Anh thuộc nhiều thơ không? Chép hộ em với nhé?"
Thế là hôm đó, lần đầu tiên sau nửa năm chuyển vùng về, anh được lĩnh lương đúng hạn... Cô còn chủ động hẹn được gặp Thế để “xin anh phụ đạo cho một ít về thơ ca” - như cô chân thành bảo. Để trả ơn tri ngộ, đúng hơn là cái ơn được xóa bỏ trù úm “ma mới”, Thế đã đến phòng tài vụ vài lần nữa - ngoài lúc lĩnh lương, để nói chuyện với cô những gì anh biết về Thơ. Cũng may là ngày đó chưa xuất hiện những hiện tượng quái đản về Thơ như việc tôn xưng “Nhà thơ Thế giới”, người làm thơ dám tự nhận "mượn bút tiền nhân giáng bút thơ Thiền”. Cũng chưa có chuyện làm thơ bằng AL rồi được trao giải thưởng cao ngút khiến cả xã hội phải lên đồng. Cũng chưa có chuyện "Thơ thập - diện - mai - phục… thơ làm tắc nghẽn mọi ngóc ngách, ngõ hẻm, đường sá, giao lộ tinh thần khiến cho thơ sạch không có lối đi" cùng thái độ của Thế trước sự lạm phát thơ đó trong bộ phim truyện Trời cho - trò chơi mà hơn mười năm sau anh thực hiện và phát sóng trên Truyền hình quốc gia: Một ông được đền bù đất đai đã vung tiền cho mình và vợ con làm sang: vợ mở phủ, con gái mua sắm, còn bản thân thì cho in thơ "con cóc" của mình để khoe và để biếu. Nhưng chỉ mới nói về chuyện “thuổng thơ” được trao giải ở một địa phương, thấy mặt cô hơi nhăn lại Thế vội nói: “Đấy chỉ là cá biệt thôi, em à… Lòng yêu thơ, có thể nói là cái phần tốt đẹp nhất trong những tình cảm tốt đẹp còn sót lại sau những cuộc tàn phá kinh hoàng của nền kinh tế thị trường méo mó đối với nhân tính và các mối quan hệ xã hội - Mặt Liên lại nhăn, nhìn Thế nghi ngờ, anh vội tiếp - Một đàn anh của tôi trong giới văn chương có ý kiến khá lạ và hóm hỉnh: "Nếu có một ngày toàn nhà thơ tham gia giao thông thì chắc chắn nạn tắc đường giảm đi rất nhiều, bởi dù đấy là nhà thơ ở cấp độ nào thì đều là những người có tâm hồn phong phú, có nhân tính, biết nhường nhịn nhau… Còn nếu các nhà công quyền lại đồng thời là các nhà thơ thì lại tốt quá, người dân chắc không phải điêu đứng vì thói hống hách, quan liêu, cửa quyền, tham lam vô độ…”.
Mặt cô trở lại tươi tỉnh. Thế được đà, khai thác sâu thêm lòng yêu thơ của cô: “Trong một lần trả lời phỏng vấn, nhà thơ Hoàng Cầm có nói đại ý rằng: tính cách của người Việt rất gần gũi với thơ - đó là lối sống tình cảm đối với bạn bè, bà con làng xóm, nhường cơm sẻ áo trong hoạn nạn... Mới tuần trước, nhà thơ dân gian Đăng Luận hùng dũng phóng xe tới nhà tôi để tặng tận tay một tập "Tân Văn" sang trọng mới in, do ông làm chủ biên, kèm theo cuốn foto Lời thề lá sen và 64 bài họa. Bài thơ Lời thề lá sen nổi tiếng của ông có vẻ ngoài đặc dân gian, song cảm thức bên trong thì hiện đại không kém một thi sĩ hiện đại hay hậu hiện đại nào:
Lá sen chưa kịp đi tu
Mà hoa cúc đã nhộm thu óng vàng
Yêu em mua cốm làng Vòng
Nâng niu anh gói trong lòng lá sen
Lời thề hôm ấy của em
Thơm như cốm ướp hương sen giữa mùa
Không ngờ, anh thật không ngờ
Lá sen rách. Cốm bây giờ thơm đâu?
Em à, tôi kính nể nhà thơ này bởi tình yêu dường không giới hạn và đặc biệt không vụ lợi đối với thơ văn. Ông đã ghi rõ trong sách “Tân Văn” như một tiêu chí: "Không nhận tài trợ, không đăng quảng cáo". Khi tự coi mình là "nhà thơ tình", Đăng Luận chắc cũng chẳng quan tâm đến sự đánh giá của các vị mũ cao áo dài trong các hội đoàn cơ quan nghề nghiệp, mà ông chỉ sung sướng đến ngây ngất với những người đọc ông một cách trân trọng, và còn họa thơ của ông nữa! Sự hồn nhiên của nhà thơ dân gian này thực đáng yêu, và điều đó càng tương phản với một vài kẻ lợi dụng lòng yêu thơ của mọi người để kiếm lợi!”
Câu chuyện này khiến cô tài vụ cảm động, khiến Thế được đà bồi thêm: “Tháng trước có dịp về thôn Duệ Đông - một trong 49 làng quan họ gốc Bắc Ninh, tôi được tặng một tập thơ của các liền anh liền chị cao tuổi. Trong số những tác giả mà tôi được tiếp xúc, tôi đặc biệt chú ý tới bà Ngọc Viên. Say mê tiếng hát quan họ cổ của bà, tôi còn rung động sâu sắc trước cuộc đời bà: chồng và cả ba người con đều lần lượt ra đi do tai nạn và bệnh tật bất ngờ, trong nhiều năm bà đã cắn răng để sống, để hát quan họ, truyền dạy hát quan họ cho lớp trẻ, và làm thơ. Thơ của bà dung dị, chân thật, đượm xót xa ngọt ngào và thấm như câu ca quan họ:
Cánh sen gọi nắng trưa hè
Mưa rào bất chợt, ướt nhòe thơ tôi...
Nhưng câu chuyện về nhà thơ Trần Dần mà tôi được một đàn anh kể còn thú vị hơn nhiều... - Liên mở to mắt háo hức chờ đợi - Ông Trần Dần bảo, có một bài ca dao cổ tuy hay nhưng ông không đồng tình lắm với nội dung lẫn hình thức của nó:
Tình cờ bắt gặp nàng đây
Đòi cắt cái áo đòi may cái quần
May rồi anh sẽ trả công
Ít nữa lấy chồng, anh sẽ giúp cho
Giúp em một thúng xôi vò
Ba con lợn béo một vò rượu tăm
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp đôi chằm em đeo
Giúp em quan tám tiền cheo
Quan tư tiền cưới lại đèo buồng cau...
Nhà thơ Trần Dần đã làm lại bài ca dao như sau:
Bao giờ em đi lấy chồng
Để anh sắm sanh quà cưới
Anh mừng em đôi chiếu mới
Em về trải kín giường đôi
Anh đi sang tận làng Ngòi
Tìm mua gạo cẩm
Xu xuê bánh cốm tự anh buộc lạt điều...
Em có cần anh đầu cỗ
Bảo người nhắn gọi anh sang
Giò lụa chạo nem, thịt quay xôi gấc
Vật bò mổ lợn
Con dao anh cắt, nuột lạt anh thắt
Giò thủ anh nén, nước xuýt anh nếm, nạc mỡ anh pha
Cỗ lòng anh thuốn, gỏi cuốn anh cuộn
Mâm son anh dọn, đĩa trúc anh so...
Hay em nhờ anh giúp về văn nghệ
Để anh sửa soạn chương trình
Máy hát anh mượn, trò vui anh chọn
Bạn bè anh đón
Tuyên bố lý do anh nói
Kèn tàu anh thổi.
Anh lưu tới cuối tiệc tan
Khách muộn anh tiếp, đèn rạp anh tắt
Thuốc lá thừa anh nhặt
Xong xuôi anh về!
Nghe xong bài ca dao làm lại trên, cô gái tài vụ yêu thơ bất giác vỗ tay đôm đốp, y như trong một cuộc Hội nghị lớn mà cô là người quan trọng. Thế được thêm kha khá điểm với cô gái này. Đến khi Liên hỏi: “Cái ông Trần Dần này có phải là người trong sổ đen bị lên án hay không, mà sao lại có bài ca dao mới thích thế?”, anh trả lời: “Đúng, ông ấy từng bị chụp mũ là “Thủ lĩnh của nhóm Nhân văn Giai phẩm”, “Thủ lĩnh trong bóng tối”, nhưng… - Cô nhăn mặt lại: “Em từ bé đã được nghe nói đấy là một tổ chức phản động nguy hiểm” - “Không đâu, thật ra đó là một sự hiểu lầm thôi! Ông ấy và nhiều người của Nhóm này đang được phục hồi danh dự, rất có thể sẽ được Giải thưởng Nhà nước nữa cơ!”[12] . Liên lại nhìn Thế vẻ nghi ngờ một lúc rất lâu…
Tới lúc cô cảm thấy có thể tin được tay thầy giáo dạy văn ngu ngơ về đời sống này về mặt lý lịch chính trị, quan điểm tư tưởng, sau vài cuộc “thẩm tra” kín đáo - qua người quen trong Ban giám hiệu, nhất là qua “đối thoại” trực tiếp, thì cô hăng hái nấu cơm trưa cho Thế những hôm ở lại họp hành, và một tuần sau cô chủ động tỏ tình với anh; hai người đã có dăm buổi ngồi tâm sự thân mật kèm những cái hôn khá thắm thiết trên bờ đê sông Hồng… Rõ công đầu là do Thơ; đúng hơn là do tâm hồn yêu thơ của một cô gái tuy có nhiều nét tính cách không dễ chịu gì cho lắm nhưng chỉ một cái đức yêu thơ đó cũng đủ thể tất nhân tình cho tất cả. Và Liên là người đầu tiên trong đời được anh tin tưởng bộc bạch nhiều ý tưởng về phim truyện của anh - khi cái mộng vào ngành điện ảnh còn xa vời đối với anh.
Song, sự lạnh nhạt của Liên với Thế bắt đầu ươm mầm từ buổi anh đọc cô nghe bài thơ viết về nhà giáo của một người anh kết nghĩa từng là Hiệu trưởng của anh trên Tây Bắc:
GIÁO RỞM
Ăn sư ở phạm đã lâu
Tôi thành giáo rởm từ đầu tới chân
Đồng lương rởm chẳng đủ ăn
Nên chi cái áo cái quần rởm theo
Căn nhà rởm đứng liêu xiêu
Nhà chị Dậu cái chuồng heo nặng mùi
Tơ hơ chẳng líp chẳng đùi
Cái xe đạp rởm nằm chui góc nhà
Ngày xuân cơm rởm dọn ra
Năm Gà chẳng có con ga trên mầm
Cái giường rởm chẳng ai nằm
Đêm nghe tiếng mọt nghiến răng kẽo kè
Trường xa sớm tối đi về
Một tấm thân rởm xác ve hao gầy
Đang đi nghe tiếng chào thầy
Học trò rởm đứng một bầy lao nhao
Mai sau ơi hỡi mai sau
Cái gì rởm nữa "lấy đầu mà tương"...
Liên có vẻ khó chịu: Sao anh lại có thể tuyên truyền thứ thơ bôi nhọ giáo giới, cũng là bôi nhọ chế độ thế? - Anh tiếp luôn - Đấy là sự thật hiển nhiên mà em. Ông ấy còn có bài thơ vui: GIÁO GIÀU GIÁO NGHÈO, trong đó thống kê ba loại “Giáo giàu” - thứ nhất là Phường giáo mác vua liều xưa nay, thứ hai là "Giáo" giảm "dục" tăng, thứ ba là loại này:
Giáo gì miệng nói thao thao
Ấy ông giáo huấn mũ cao áo dài
Suốt đời ông chỉ một bài
Dăm câu khẩu hiệu ông sài quanh năm
Giáo huấn, Giáo mát, Giáo mác Giáo đâm
Ba giáo giàu giao hợp đẻ hàng trăm giáo nghèo!
Liên mặt nhăn nhó, đùng đùng bỏ đi. Tới khi anh kể cho cô nghe về chuyện trong nhiều năm anh đi tìm “dịch giả thực sự” của một bộ ba tác phẩm văn học Pháp hiện đại, mà gần đây nhất mới tìm ra, đó là nhà thơ Trần Dần, cô đã thẳng thắn và hùng hồn chỉnh huấn Thế như một “nữ Chính ủy” mà cô may mắn được ảnh hưởng sâu sắc qua vài cuốn sách dịch của Liên Xô, Trung Quốc cùng một loạt phim điện ảnh nói tiếng Nga, tiếng Tàu và tiếng nội địa:
- Em không hiểu vì sao anh lại cứ mất công sức tâm trí vào những nhân vật có “vấn đề” như vậy, dù các ông ấy đang được được minh oan, bởi “không có lửa sao có khói”, chắc chắn họ đã từng là kẻ đi ngược lại thậm chí kịch liệt chống phá Lý tưởng cao đẹp của cả Dân tộc, bây giờ có thể được hưởng sự khoan hồng độ lượng… Anh không phải cầm súng bảo vệ Tổ quốc như anh trai em, một liệt sĩ, nên anh không hiểu nổi cái giá của Tự do Độc lập dân tộc… Em cảm thấy, anh thực là… là…
Thế cắt lời ngay để giúp cô, đúng hơn là giúp anh bớt đi ấn tượng về định kiến thô thiển của cô trong cái lĩnh vực mà cô không biết đến đầu đến đũa, không có cơ sở tri thức cần thiết mà cứ luôn luôn ra vẻ là người có đủ tư cách để phán xét định giá - như số đông người vào thời đó:
- Là sao? Em cho rằng anh là kẻ phản động thế hệ sau bị “lọt lưới” à? Không đâu nhé, trên mặt trận văn hóa tư tưởng của giai đoạn mới này, khi anh vào ngành điện ảnh, những thằng như anh sẽ là kẻ tiên phong, sẽ được coi trọng đó!
Liên tròn xoe mắt nhìn Thế như nhìn “Cô bé Maika từ trên trời rơi xuống”[13], như anh là một kẻ mắc bệnh hoang tưởng hoặc là đối tượng phức tạp thuộc thế giới “Bạch vệ” rơi rớt lại đang khoác áo cán bộ Nhà nước trong ngành giáo dục, kẻ có thể làm u ám tinh thần cả một thế hệ trẻ - ít nhất là bọn học trò nơi cô đang công tác… Thế đọc được cảm nghĩ của cô và chợt ân hận, rồi thương hại cô gái “phổi bò” đã bị nhồi nhét bao điều ngớ ngẩn. Đồng thời, anh cũng thoáng nhận ra ảo tưởng của bản thân sau những điều vu vơ nhằm “trấn an” cô gái đang tin yêu anh, đang hy vọng tìm được bờ vai cho đời cô, và anh cũng bắt đầu thấy yêu cô. Nhưng Thế đâu ngờ rằng, lời “tiên tri” về tình cảm trai gái của thi hào Nguyễn Du đã ứng vào anh và cô gái yêu thơ này: Trong khi chắp cánh liền cành/ Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên - sau khi Thế đọc cô nghe những câu cảm ngôn văn xuôi anh mới nảy ra trong óc khi đi phà trên sông Hồng tháng trước, tới câu cuối: “Sông nhòe ướt cồn cào”, Liên thắc mắc luôn: “Thơ mà chẳng có vần điệu gì cả anh? Lại lằng ngà lằng ngoằng đẩu đâu ý! Mà sao chẳng thấy chút lạc quan nào, toàn buồn thỉu buồn thiu, đen tối, tiêu cực, anh vứt đâu rồi niềm vui chiến thắng của toàn dân tộc?” Và cô bắt đầu tìm cách lảng tránh Thế - bắt đầu bằng việc thoái thác lý do để không nấu cơm cho Thế những hôm anh phải ở lại trường tới chiều hoặc qua đêm như mọi khi, sau khi anh tâm sự cho cô về nỗi tuyệt vọng trong một “cơn khủng hoảng tình duyên” cũ bằng mấy vần vè sau đây:
… Bao nhiêu năm qua
Em đã bỏ anh vơ vơ một mình
Chàng trai đa sầu và nhát nhúa
Chỉ giàu có nỗi buồn và trăn trở
Đôi lúc anh thầm kêu lên:
Tuổi trẻ nghèo nàn và cay cực ơi
Sao cứ đuổi theo ta như thú dữ cắn càn!
…Có lẽ nào em đã bay khỏi đời anh
Em - Vị thiên sứ có đôi cánh mỏng như ban mai, trong suốt như nước đầu nguồn
Anh sẽ chết mà không nhắm được mắt
Khi em đã xa vời như bông hoa cô đơn trên núi tuyết
Kẻ lữ hành mệt mỏi là anh gục ngã giữa lưng chừng
Không một lời an ủi, không một giọt lệ xót thương
Hấp hối sau bao nhiêu trớ trêu và nhục mạ
Danh dự - Nhân phẩm - Tình yêu chỉ còn là đài tưởng niệm của quá khứ
Cái thời người ta có thể rút gươm vì một chút lòng tự trọng bị xúc phạm có còn đâu
Cũng không còn ai dám chết vì một niềm tin xác thực, một chân lý hiển nhiên bị đe doạ
Anh bị những “hiệp sỹ” của miếng cơm manh áo và những quyền lợi nhỏ bé bao vây
Bị dồn đến chân tường mà chưa biết cách tự thoát, cũng chưa biết chết bằng cách nào.
Chỉ còn nỗi tuyệt vọng về em là liều thuốc độc
Anh sẽ phải uống
Như đã từng uống bao vại đắng vại cay,
Uống đến trọn đời!
Sau cùng, cô gửi Thế mấy dòng thư nghệch ngoạc, gửi qua người bạn cùng Tổ văn của anh, bằng thứ chữ của người từng chép thơ sai lổn nhổn: Phải chăng là anh muốn cảnh báo em và tìm cách lảng xa em bằng câu chuyện cô gái đã phản bội anh, khiến anh phải muốn uống thuốc độc tự tử? Em không níu giữ anh đâu, bởi ý nghĩ và cuộc sống của anh viển vông quá, mờ mịt quá, không thể đem lại hạnh phúc lâu dài cho em hay bất cứ cô gái nào đâu! Nhưng em vẫn rất quý trọng anh, mong anh được hạnh phúc thực sự và đạt được ước mơ điện ảnh của mình…
Cũng vào những ngày “khủng hoảng” mới đó của Thế, Sở Giáo dục Hà Nội có công văn điều chuyển anh vào một trường PTTH trong Khu kinh tế mới Đức Trọng - Lâm Đồng. Buổi Thế rời đi “không kèn không trống”, bởi anh chưa kịp để lại ấn tượng nào đáng kể với đồng nghiệp tổ văn và một lớp học sinh cuối cấp mà anh dạy hơn nửa năm; còn anh chỉ có chút kỷ niệm với Liên, song anh không muốn nghe thêm một lời chúc tụng ráo hoảnh nặng giáo huấn nào của cô nữa…
Mấy năm sau, khi đã biên chế chính thức ở Xí nghiệp phim truyện lớn nhất nước (sau thành Hãng) với chức danh Đạo diễn, tình cờ Thế được biết một trong những nguyên nhân anh bị Lãnh đạo Hãng chú ý, đề phòng và “được chăm sóc” kỹ càng về tư tưởng trong sự nghiệp điện ảnh ngay từ đầu, chính là câu chuyện về thân phận bộ tiểu thuyết dịch anh đã kể cho Liên nghe lúc yêu nhau, mà mấy năm sau đó anh đã viết thành bài báo dài và làm thành một phim tài liệu mang tên: “Đi tìm dịch giả Trần Dần”…
3.
Rời ngôi trường cấp Ba ngoại thành với công văn chuyển vào Lâm Đồng, việc đầu tiên là Thế tìm tới nhà riêng một bậc “Thủ lĩnh” ngành Điện ảnh, một “Bố già biên kịch“ - theo cách gọi vui của vài người trong Xí nghiệp phim truyện mà Thế nghe lỏm ngoài quán nước trong những ngày lê la tìm đường vào nghề. Đây là lần thứ hai, còn lần thứ nhất là do một nhà báo lớn tuổi dẫn tới…
Ông nhà báo từng công tác ở miền núi Tây Bắc nhiều năm, chuyển về Thủ đô làm Tổng biên tập một tờ báo lớn mà Thế có gửi bài tới nhiều lần những chưa hề được sử dụng, song ông tỏ ra rất quý Thế - bởi “cậu thuộc ‘Quân khu Tây Bắc’ của dân làm văn nghệ và giáo dục mà bọn tôi tin tưởng đó” - ông vỗ vai Thế buổi đầu tiếp kiến; ông đã khuyên bảo Thế như một người cha, người anh. Khi Thế bày tỏ ước vọng điện ảnh, muốn ông giới thiệu cho người nào đó có thể học hỏi và dẫn dắt vào nghề, ông nhà báo nhìn Thế vẻ kính nể rồi mau chóng chuyển sang e ngại thực lòng: “Viết kịch bản điện ảnh cũng là một tham vọng của tớ, tớ đã xin nhà văn Mạc Phi cho phép chuyển thể tiểu thuyết Rừng Động, ông ấy mừng lắm, hy vọng lắm, song tớ bắt tay vào thì như gà mắc tóc, rồi bị sa lầy trong hàng đống đề cương vứt xó cả chục năm nay. Mấy ông bạn biên kịch tên tuổi, có người đi Nga đi Tàu về cho mượn cả đống sách vở tài liệu về biên kịch thế giới để tham khảo, nhưng mấy tháng sau, khi mấy ông ấy hỏi, cậu có biết tớ bảo gì không - Ông cười vui lắc đầu, vỗ vai Thế - Tớ bảo: chưa đọc sách của các ngài, tôi có thể tự tin dù chậm như rùa cũng viết được ít nhiều xê căng[14] xem ra có thể quay tạm được, nhưng đọc xong mớ lý luận này, tớ giống như con cuốn chiếu ấy: từ khi nghe bạn hỏi là khi đi đã đưa chân nào ra trước, chân nào ra sau, thì ba mươi sáu chân của nó cứ loạn cả lên, nó không thể đi được như mọi khi nữa… Hóa ra kịch bản điện ảnh hay kịch nói là một lĩnh vực khác biệt với văn xuôi, báo chí - chúng gắn với diễn viên và công nghệ… - Thế nói chen ông - Vâng, hồi sinh viên em cũng có đọc ông Gorki bảo kịch là khó nhất trong các thể loại, còn điện ảnh lại có gốc của Kịch nghệ… Trước khi thử sức viết kịch bản điện ảnh, em đã viết gần chục kịch bản sân khấu dài, ngắn… Em xin gửi đại ca thẩm định cho ạ! - Ông Tổng biên tập báo xua tay - Khỏi cần! Tớ mà nhận đọc của ai thì đọc rất kỹ, rất lâu, với trách nhiệm của người Biên tập, còn bây giờ thì tớ rất bận… Nhưng cậu quyết tâm vậy thì tớ ủng hộ hai tay. Tớ sẽ dẫn cậu tới ông bạn thân là nhà biên kịch nổi tiếng nhất hiện giờ, đang làm Phó Giám đốc của Xí nghiệp phim truyện… Phó nhưng quyền hành vượt sếp trưởng!
Trong một khu nhà cổ kính làm toàn bằng gỗ quý nằm giữa vùng đất Thập Tam trại xưa[15], đầu tiên, Thế kể cho “Bố già Biên kịch” nghe đề cương chi tiết kịch bản phim về một liệt sĩ chống xâm lược Trung Quốc, xuất thân là một thầy giáo dạy văn miền núi mà anh biết được qua nhà văn Mã Lềnh ở Đài PTTH tỉnh Lào Cai trong giai đoạn ông bắt đầu thu thập tư liệu để biên soạn cuốn sách về người bạn chí thiết của ông: Bùi Nguyên Khiết - Bóng dáng thân yêu. Cuộc đời anh Khiết khiến cho sự đồng cảm của kẻ vốn là một “giáo khổ” Tây Bắc đối với người anh chưa biết mặt ấy trở nên rất đặc biệt: Người thầy giáo đó khi rời bục giảng đã là một nhà báo năng nổ, có nhiều bài viết về cuộc đời lam lũ, đau thương, anh dũng của nhân dân vùng Biên giới trong công cuộc chinh phục nghèo đói, hủ tục, sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự phá hoại của bọn thổ phỉ, sự đe dọa biên cương của lũ bá quyền Đại Hán; và khi lũ bành trướng khốn nạn xả súng vào dân thường ở biên giới phía Bắc, anh là người tiên phong đi vào điểm “nóng” chiến sự, đã cầm súng tiêu diệt nhiều tên địch trước khi hy sinh trên điểm cao 1378 chốt biên giới Lao Páo Chải đúng ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra: 17/2/1979. Chắc chắn là cho tới tận giây phút cuối đời, trong tâm hồn nhà giáo-nhà văn đó vẫn đang chất chứa bao số phận, bao câu chuyện xúc động về con người vùng Biên giới…
Sau đó, Thế kể ông nghe về ý tưởng kịch bản “Chuyện tình dưới chân Thập vạn đại sơn”: Hồi trên Tây Bắc, anh được người bạn giáo viên trường Quân chính huyện cho đọc tập nhật ký của ông bác, một phóng viên mặt trận. Ông đang tham gia Chiến dịch Biên giới thì được trên điều động vào đoàn quân tình nguyện Việt Nam giúp Hồng quân Trung Hoa phá quân Tưởng. Ông xuất thân là một thầy giáo tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, sau khi vợ con bị bom giặc giết hại ở vùng tản cư, đã gác bút nghiên theo tiếng gọi của Kháng chiến. Ông am hiểu văn học Pháp và văn học cổ Trung Hoa, giàu tình cảm, mơ mộng, một thời trong quân ngũ từng bị đồng đội phê phán là “có tâm lý tiểu tư sản”… Thế kể tóm tắt truyện phim: Cụ Sì Láng 90 tuổi ở chân núi Pò Luông, Bằng Tường dẫn cháu tới thăm mộ của một bộ đội Việt Nam vào dịp Thanh minh. Cụ giở ra một cuốn sổ cũ nhàu nát - đó là nhật ký của một chiến sĩ tình nguyện quân Việt Nam năm xưa tại chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn… Câu chuyện phim diễn ra theo lời kể của cuốn nhật ký, và lời của cụ già người Hoa về thời cụ 15 tuổi, làm giao liên cho bộ đội Việt Nam và dân quân xã Trung Quốc; chú bé Sì Láng có cô chị thầm yêu người chiến sĩ tình nguyện Việt Nam. Anh đã phải đóng giả là người họ hàng của cô, và từng phải thi viết thơ chữ Hán với đối phương đang tấn công cô gái, nhưng không che dấu nổi thân phận mình lúc chiếc mũ lá mõm trâu đã giấu kín bị phát hiện… Khi anh ngã xuống vì bảo vệ dân làng, cô đã ôm xác anh khóc ngất cuối phim, thầm đọc lại bài thơ do anh dạy, trong nước mắt nghẹn ngào: Quan quan thư cưu/ Tại hà chi châu/ Yểu điệu thục nữ/ Quân tử hảo cầu…[16]
“Bố già Biên kịch” nghe xong gật gù một hồi, sau đó, ông nói từ tốn, nhẫn nại và nghiêm nghị như một Giám mục giảng đạo cho con chiên:
- Chú đã nhìn thấy trong những ý tưởng phác thảo này các bộ phim rất xúc động, rất có giá trị - nhất là về thầy giáo-nhà văn-liệt sĩ Bùi Nguyên Khiết, và về mối tình chiến đấu hai nước Việt - Trung qua một mối tình nam nữ vượt Biên giới. Có điều, cháu nên nhớ: hiện tại, sau cuộc xâm lược của Trung Quốc trên Biên giới phía Bắc, quan hệ hai nước đang rất căng thẳng, việc ca ngợi giải phóng quân Trung Quốc hay lên án họ vào lúc này sẽ không lợi… Xí nghiệp phim truyện đã thực hiện mấy bộ phim về đề tài chống xâm lược biên giới phía Bắc lên án chủ nghĩa Đại Hán, khắc họa sự khốc liệt của chiến tranh, tinh thần quả cảm của quân dân ta như Đất mẹ, Thị xã trong tầm tay, Cha và con, Người bạn ấy… - Ông hạ giọng tâm sự như Thế đã là nhân viên thuộc ông quản lý - Hội đồng nghệ thuật đã nghiên cứu mấy kịch bản đề tài này để chuẩn bị đưa vào sản xuất tiếp, như Cỏ thiêng, Chân dung người hàng xóm…, nhưng rồi phải tạm đừng lại. Người làm nghệ thuật chúng ta buộc phải có cần ăng ten chính trị nhạy cảm để đoán trước rằng: đề tài này sẽ trở thành cấm kỵ khi quan hệ hai nước cần nối lại như xưa - núi liền núi sông liền sông vì quyền lợi kinh tế - xã hội của dân chúng hai nước… Cháu nên đi vào những đề tài chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, xây dựng cuộc sống mới sau chiến tranh, đặc biệt là xây dựng con người mới thời đại hôm nay - thời đại của Chủ nghĩa xã hội vĩ đại với ba dòng thác cách mạng mà nước ta là ngọn cờ tiên phong…
Sau bài giảng này của“Bố già Biên kịch”, ý định “xi nê mồm” mấy đề cương kịch bản nữa của Thế cho ông chợt tắt ngóm; và anh tỉnh táo quyết định “hãm phanh” lại máu mê của kẻ xuất thân nghề dạy văn, không kể cho ông nghe về mấy thông tin anh mới biết về chiến dịch tẩy xóa lịch sử đáng buồn bắt đầu diễn ra, như chuyện đục thơ đục bia ở chiến trường cũ: Bia Khánh Khê ở Lạng Sơn ghi nhận sự hi sinh của 650 chiến sĩ thuộc sư đoàn 337 năm 1979 mới đây được báo chí phát hiện là đã bị đục bỏ dòng chữ: “quân Trung Quốc xâm lược”. Và người ta không chỉ đục bia, mà còn “đục” cả thơ của một tác giả địa phương, khiến bài thơ rất hay trở nên khập khiễng và ngớ ngẩn![17]
Thế đã kìm hãm được cảm hứng thơ ca lẫn cảm hứng sự thật về ”vụ án” văn chương - lịch sử nói trên, bởi anh chợt nhận thấy rõ: ông đang tự tin coi bản thân mình là một “Tiền đồn tư tưởng” vững chắc đồ sộ của Mặt trận Văn hóa - Văn nghệ trong thế giới điện ảnh nội địa, là “Thiên sứ” đầy uy quyền dẫn dắt các nghệ sĩ của “Nàng Tiên Út” tránh khỏi các cạm bẫy của chủ nghĩa tư sản, tiểu tư sản cùng một lô một lốc những tư tưởng - cảm xúc xa lạ thù địch với chế độ. Và chắc ông rất tự hào khi biết rằng: “vũ khí” tư tưởng ông đưa ra mới có một mẩu thôi cũng đã trấn áp được một kẻ chữ nghĩa và bản lĩnh nghệ thuật có thể hơn ông, bởi có điều kiện ăn học hơn những kẻ trưởng thành trong khói lửa chiến tranh như ông, song sự ngây thơ về Chính trị sẽ khiến hắn vô tình biến nghệ thuật thành viên đạn bọc đường bắn phá tệ hại nền tảng của một chế độ - cái chế độ mà ông và bao chiến hữu đã đổ xương máu ra mới có được. Quả thực ông cũng đã phần nào áp đảo được Thế, khiến anh thoáng ngẩn ngơ về những hoài nghi đã nảy sinh và bắt đầu bén rễ trong anh từ những năm ở Tây Bắc - trước nhiệt thành cảm động của ông, và trước cái mục tiêu anh phải chinh phục được lòng tin của người “gác cổng” ngành… Khát vọng điện ảnh đã lấn át đi cái cảm giác thoáng qua là anh đã trở nên hèn hạ, giả dối để được “thêm điểm về chính trị”, mong lọt được vào cổng Xí nghiệp phim bằng mọi giá…
Trong lần “ra mắt” thứ nhất đó, Thế đã có một “thắng lợi” đáng kể: Trước mặt người bạn chiến đấu cũ là nhà báo Tổng Biên tập, ông Biên kịch tên tuổi lẫy lừng đã vui vẻ công khai và công bằng đánh giá: Thế có tiềm năng tốt để phát triển nghề biên kịch điện ảnh, và hứa sẽ tuyển anh vào ngành khi có dịp. Ông mong đợi một, hai kịch bản của Thế sẽ hoàn thành sớm nhất gửi cho ông để giám định, và biết đâu có thể lọt được vào guồng sản xuất… Mặc dù Thế biết lời hứa đó ông đã nói với khá nhiều người để làm “quà”, là một kiểu “lịch sự nghệ sĩ” tầm thủ lĩnh, song cũng khiến anh mừng mất ăn mất ngủ, trở thành động lực mạnh mẽ giúp anh vượt qua dễ dàng bao níu kéo của “cơm áo không đùa với khách Thơ” để bắt tay vào hoàn chỉnh mấy kịch bản văn học đã ấp ủ nhiều năm - trong đó có kịch bản Xòe trinh nữ, kịch bản tâm huyết nhất của anh: Vua xứ Thái tự trị Đèo Văn Long có niềm say mê kỳ lạ với nghệ thuật xoè Thái cổ truyền, đã thành lập những Ban xoè bằng cách tuyển chọn những cô gái đẹp, còn trinh trắng, có giọng hát hay trên khắp xứ Thái từ lúc các cô còn nhỏ, huấn luyện để họ trở thành những nghệ nhân múa xoè giỏi giang. Trong số đó, nổi bật nhất là Lò Thị Mây. Đèo Văn Ún mê Mây, mong lấy Mây làm vợ, nhưng ông bố chúa đất phản đối. Trong lần trình diễn xoè đầu tiên của Mây cho các quan Tây, cô đã lọt vào con mắt xanh của thiếu uý (quan hai) Pháp Cornaul đồng thời là nhà dân tộc học (Ethnologue). Hai người dần hiểu nhau, và trở nên kính trọng nhau qua những bài dân ca Thái, những phong tục tập quán Thái mà Cornaul đang háo hức tìm hiểu... Nhưng Mây trốn chạy khỏi vương quốc họ Đèo cùng với một cô xoè và anh lính hầu cận của vua Đèo; và họ đã không thoát… Vua Đèo, ngay đêm đó ra lệnh cho xoè Mây phải múa xoè phục vụ quan khách, khi thân hình xơ xác, máu tươi toé ra từ đôi chân, và cô ngã gục xuống sàn. Cornaul đã đưa cô vào phòng riêng săn sóc. Từ nỗi thương xót, cảm thông, Cornaul đã nảy nở tình yêu thương với cô xoè bất hạnh. Khi Mây chưa lành vết thương, vua Đèo lại buộc cô ra phục vụ xoè cho các quan Tây trước khi lên máy bay về Điện Biên tử thủ. Đó cũng là lúc quân đội Việt Minh tràn tới khu dinh thự. Đèo Văn Long hạ lệnh rút lui, mang theo tất cả các cô xoè về Điện Biên. Một cuộc chạm trán nảy lửa, dẫn tới nổ súng giữa Cornaul và tri châu Ún, Ún bị thương tức tối chạy đi. Còn Cornaul và Mây bắt đầu cuộc trốn chạy thực sự khỏi vương quốc họ Đèo...
Họ chạy ra phía sông Đà theo lối hầm bí mật trong dinh thự. Rồi họ tìm tới khu rừng ma để lẩn trốn, ôm nhau chịu đói chịu rét trong nhà mồ tối tăm. Tình yêu đã đến với họ trong cảnh tuyệt vọng ấy. Hai người lang thang trong rừng vào mùa hoa ban nở… Rồi họ bị bộ đội Việt Minh bắt, giải về doanh trại. Cornaul kể về lai lịch và thân phận của mình, anh tìm được sự cảm thông sâu sắc của người chỉ huy Việt Minh. Nhưng đôi tình nhân vẫn phải chia tay nhau. Cornaul lên xe cùng các hàng binh, tù binh Pháp trở về Hà Nội. Còn Mây thì vượt rừng tìm về quê cũ... Anh lính lệ Mười sau khi thoát được sự phục kích của tri châu Ún, đã bắt gặp Mây trong tình cảnh kiệt sức, anh cõng Mây tìm về quê của cô. Sau nhiều năm chờ đợi và bặt tin Cornaul, Mây đồng ý làm vợ Mười...
Nhiều năm sau, nhà khoa học già Cornaul trở lại Tây Bắc, tìm lại hình bóng xưa cũ. Qua nhiều mường bản Thái Tây Bắc, cuối cùng ông đã tìm lại được bà Mây và ông Mười. Họ cùng sống trong kỷ niệm đau đớn và ngọt ngào...
Lần thứ hai đến nhà “Người giữ Đền” một cơ sở làm phim truyện lớn nhất nước, Thế đã “xi-nê mồm” cho ông nghe kịch bản này trong nửa giờ đồng hồ. Ông lim dim mắt lắng nghe - y như lần trước nghe hai ý tưởng kịch bản về người thầy giáo-liệt sĩ và mối tình Việt - Trung. Ông pha trà rồi trịnh trọng rót cho Thế, lâu sau mới thủng thẳng những lời phán quyết tựa dao cắt đối với “đứa con tinh thần” được sinh ra bằng máu mắt của anh:
- Câu chuyện phim rất xúc động… Xúc động thấm thía, cháu ạ. Nhưng chú chân tình nói điều này với nhà biên kịch tương lai: Đề tài này sẽ không thể lọt qua cửa duyệt đầu tư của Bộ văn hóa đâu cháu - dù có nói khá thú vị về bộ đội ta ở Điện Biên Phủ… Bởi, thứ nhất, điện ảnh chúng ta đang cần những phim trực tiếp đề cập tới thắng lợi và ca ngợi trực diện người anh hùng Cách mạng xuất thân từ nông dân công nhân; còn cháu lại đi vun vén cho mối tình vượt biên giới bất chấp giai cấp của một cô xòe Thái với một sĩ quan Pháp - dù ông ta còn là một nhà dân tộc học, dù câu chuyện tình này có nguyên mẫu trong thực tế, điều này có nghĩa là tuyên truyền cho một thứ chủ nghĩa nhân đạo chung chung xóa nhòa giai cấp, như vậy khác gì sự tuyên chiến với đường lối văn nghệ của Đảng ta! Thứ hai, dễ thấy ngay là phim ca ngợi công lao bảo tồn, duy trì nghệ thuật xòe Thái cổ truyền của một tên chúa đất Thái, kẻ tàn ác chuyên bóc lột dân nghèo và đày đọa các cô xòe của ông ta như một sở hữu độc quyền trong dinh thự lãnh chúa! Chớ có dại dột đem cái Đẹp ra thử lửa với những nguyên tắc Mỹ học mac-xít, cháu hãy ghi nhớ nằm lòng bài học đầu tiên và sinh tử này nếu có cơ bước vào ngành điện ảnh nước nhà… Sao cháu không chịu khó bắt đầu sự nghiệp làm phim cháu mơ ước bằng một kịch bản về đề tài chiến tranh Nhân dân Thần thánh; nếu không được may mắn cầm súng ngày nào thì qua ký ức còn sống động của người thân, qua sách vở rất nhiều, bằng trí tưởng tượng của nghệ sĩ điện ảnh và lòng Ái quốc mà chú tin đậm đặc trong cháu, để sáng tạo? - Những lời này ông nói nghiêm trang, thành kính tựa Thánh phán hoặc Tổ nghề dạy bảo.
Thế cũng cố tạo ra sự thành kính long trọng để tương xứng với không khí và tâm thế đối thoại giàu tính điện ảnh viễn tưởng chuyên nghiệp mà ông đã tạo ra giữa hai người:
- Cám ơn chú đã bớt thì giờ quý báu để thân tình nói những điều này với cháu, kẻ không máu mủ ruột rà với chú, một anh giáo nghèo từ miền núi về, thân cô thế cô đương tìm cách len chân vào làng điện ảnh mà chưa biết có được chấp nhận hay không… - Ông không lim dim mắt nữa mà mở to mắt nhìn vẻ dò xét của một Thám tử. Thế hít một hơi dài lấy thêm dũng khí rồi tiếp - Cháu tin rằng nỗi xúc động của chú với truyện phim của cháu là có thực, cháu rất biết ơn, và đó mới là con người nghệ sĩ đích thực của chú, một nhà biên kịch tầm quốc gia mà lâu nay cháu kính nể, mong được theo chú làm đệ tử trung thành để được truyền nghề… Nhưng cháu xin lỗi chú, sự thẩm định tổng thể có ý nghĩa quyết định sinh tử đối với kịch bản của cháu vừa rồi… xin lỗi, không phải là của chú…
Đang nằm ngả trên ghế mây dài, ông gần như bật dậy nhanh tựa mèo, rồi ông mau chóng trở lại bình thản, lấy điếu cày ra hút một hơi rõ sâu, mắt lim dim khi thả khói.
- Cháu nói cũng phải. Nhưng đúng ra là thế này: những ý nghĩ, những cảm nhận và những tác phẩm của chú, lâu nay đã hòa nhập vào Lý tưởng chung của dân tộc mình… Những đòi hỏi cao cả về nội dung tư tưởng trong mỗi trang kịch bản của chú là đòi hỏi của bao đồng đội đã hy sinh ngoài mặt trận, của những người dân thường đã tháo dỡ nhà làm cầu phao cho xe qua, làm hầm trú ẩn cho bộ đội… Đúng đấy, góp ý kịch bản của chú đâu phải của riêng chú nữa, khi cái riêng của chú đã hòa vào sự nghiệp chung của toàn Đảng toàn Dân?…
Thoáng nhìn gương mặt nghiêm trang, ánh mắt chợt long lanh ngời sáng của ông, Thế hiểu là ông hết sức chân thực - kể cả chân thực với những điều ông ngờ vực nhưng vì sự an toàn tối đa đã bắt bản thân và người khác phải tin tưởng, dù có trở thành tín điều mù quáng: Tâm hồn nghệ sĩ và bản năng chính trị suốt nhiều năm đã tạo thành bản hợp ca dịu dàng của nghệ thuật ứng xử giúp ông chinh phục được mọi tầng lớp lãnh đạo về cả Hồng lẫn Chuyên, và giờ đây tuy không đảm nhiệm chức vụ Bí thư Đảng ủy nữa, ông vẫn được coi là “Thủ lĩnh” tinh thần - tư tưởng cho cả Xí nghiệp phim lớn! Những ý nghĩ này của Thế tuy không nói ra nhưng đã tự dựng thêm bức trường thành giữa anh và cái thế giới anh đang rắp ranh lẻn vào, bởi chính đáng thì sẽ bằng cách nào và đợi đến bao giờ? Anh tạm thời thất bại rồi! Những điều Thế tự nói về kịch bản của mình sau “lời phán xử” kia giống như một sự vuốt đuôi, “nước chảy lá khoai”, một kiểu “tạ sự” vô duyên, chúng vô nghĩa đối với ông lẫn cái thế lực trấn giữ cả ngành văn hóa nói chung, ngành điện ảnh nói riêng vào thời đó: “Thưa chú, cháu cho rằng đề tài chiến tranh Cách mạng đã và sẽ có nhiều cách tiếp cận, khai thác, góp phần làm phong phú điện ảnh dân tộc, và có thể ra với khán giả nước ngoài đễ dàng hơn… Còn bộ phim tương lai này, trước hết cháu mong muốn tôn vinh một kho tàng văn hoá dân gian đặc sắc của miền Tây Bắc Việt Nam mà không nơi nào có: nghệ thuật múa xoè Thái - đã được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia và đang đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại[18]. Nền nghệ thuật dân gian đó đã tồn tại, được duy trì và phát triển ngay cả trong nỗi thống khổ của thân phận người vũ nữ Thái... Qua câu chuyện tình đẹp và buồn thảm giữa một cô gái xoè thuộc ban xoè của vua Thái Đèo Văn Long với một nhà dân tộc học Pháp khoác áo nhà binh, khán giả có thể hiểu được thân phận chung của cái Đẹp và Tri thức mọi thời: chúng thường bị xua đuổi, bị truy bức, bị lợi dụng... Thế nhưng cái Đẹp và Tri thức lại luôn cứu giúp con người, tạo ra sự cảm thông sâu sắc, chỉ chúng mới có thể hun đúc nên Tình yêu vĩnh cửu... Và đó cũng là giá trị trường tồn của cái Đẹp và Tri thức trong cõi đời này…
Thế ngậm ngùi chào ông ra về, sau khi xin phép ông để lại hai chai mật ong rừng do học trò cũ đương làm lãnh đạo một huyện vùng cao vừa gửi xuống kịp thời để anh làm “lễ vật” ban đầu trên đường tìm đến cánh cửa Nghệ thuật thứ Bảy…
4.
Sắp tới ngày Thế lên đường vào Lâm Đồng theo quyết định của Cơ quan chủ quản đương trả lương cho anh, thì Lưu, một người bạn thân thời học phổ thông tìm đến. Lưu học đại học xây dựng ở Liên Xô, về nước được vài năm. Lưu thông báo ngắn gọn, và như ra một quyết định thay bạn: “Anh Minh cùng học xây dựng ở Kiev với mình, hiện đang làm Giám đốc nhà máy Bê tông đúc sẵn Vinh Quang, anh ấy nhờ tớ tìm một người phụ trách văn hóa văn nghệ của nhà máy. Tớ nghĩ ngay đến cậu! Qua thằng Toan “giáo khổ Việt Bắc” tớ được biết cậu đã chuyển vùng từ Tây Bắc về, và giờ đang bị chuyển vào miền Trung làm “giáo khổ Tây Nguyên”… Cậu vứt mẹ tất cả đi, nghĩa vụ tuổi trẻ với miền núi thế đủ rồi, chắc gian khổ không kém đời lính tráng ngoài mặt trận!…
Thế định nói: “Chẳng biết gian khổ hơn kém thế nào, chỉ biết tớ sau mấy năm miền núi đã hỏng gần hết bộ phận tiêu hóa bởi mì ngô bo bo sắn độn xuất ăn tập thể”, nhưng anh chỉ hỏi thăm dò: “Ông Minh ấy là người thế nào?”
- Mê văn chương, âm nhạc, hội họa… Nói chung là ông giám đốc khá đặc biệt của một ngành khô cằn nhưng lại có tâm hồn nghệ sĩ! Tớ mới kể qua là cậu con nhà gốc hội họa, âm nhạc, lại ôm mộng viết kịch, ông ấy mê liền, bắt tớ đi tìm cậu ngay, lệnh phải làm thuyết khách cho bằng đươc…
- Không cần đến tài của Trương Nghi, Tô Tần đâu, tớ cũng sẽ gật đầu sái cổ! Có điều, Bộ chủ quản của tớ đâu có dễ nhả người ra - dù là loại Tốt đen!
- Yên chí lớn! Tớ vừa nói ra băn khoăn này, anh Minh liền bảo: “Tao là bạn nối khố của một ông lãnh đạo Sở Giáo dục Thủ đô, lại đang thiết kế xây dựng cho gia đình ông ta một biệt thự chưa từng có ở ngoại thành - bằng bê tông tấm lợp nhẹ, dĩ nhiên vật liệu mới mẻ này này là do tao sáng chế và trực tiếp sản xuất thí điểm tại Việt Nam! Lo gì nữa, hở mấy thằng thi sĩ tâm hồn treo ngược trên cành cây! Bạn mày về đây với tao, tha hồ mà ngụp lặn trong nguyên liệu đời sống dữ dội không kém gì tiểu thuyết Xi Măng[19] của Fedor Gladkov!”
Cái “dữ dội” ấy chỉ hai tháng sau Thế sẽ được trải nghiệm. Đơn xin chuyển ngành của anh được ký tắp lự mà anh không mất một xu một khắc chạy chọt lên xuống các phòng ban từ Sở tới Bộ - cái việc khó như lên trời mà không ít người kể lại với Thế từ những năm ở Tây Bắc.
Thế chuyển về một nhà máy chuyên sản xuất bê tông đúc sẵn các loại, hưởng nguyên lương với chức danh nghe khá oách: “Trưởng phòng văn hóa thông tin”, nhưng chẳng mấy lúc anh đã thấm thía sự trái khoáy nghề nghiệp - cái nghề nghiệp bất đắc dĩ mà trước đây dù có phong phú trí tưởng tượng đến đâu anh cũng không thể nghĩ ra nổi! Thế chân thật tâm sự điều này với Giám đốc Minh, sau buổi anh trang trí đám cưới và chụp bộ ảnh cưới kỷ niệm cho con trai đầu của ông. Minh nhìn Thế vẻ dịu dàng, thương cảm. Tuổi trẻ của ông may mắn hơn Thế nhiều, ông không phải đi lính vì là con một, lại có lý lịch “Gia đình Cách mạng” đỏ chót nên tốt nghiệp cấp Ba là được cử sang Liên Xô học. Dù có “trợ cấp” đều đặn từ gia đình có người làm quan chức cao, Minh không phải làm “bộ đội”[20] nhục nhằn đánh hàng tiêu hàng như hầu hết lưu học sinh Việt thời “hậu Xô Viết” bắt đầu hoành hành “Luật rừng” toàn xã hội, nhưng cảnh ngộ Ngửa mặt kêu trời[21] của các sĩ tử đồng bào cũng ảnh hưởng tới tinh thần ông không ít - nhất là ở một nhà khoa học tương lai ẩn dấu tâm hồn nghệ sĩ… Nghe kể qua về Thế và sau đôi ba lần tiếp xúc ban đầu, ông đã hiểu rõ khát vọng văn chương điện ảnh ở chàng trai gầy gò bị mắc bệnh đường ruột kinh niên, ông thêm quý mến Thế và lặng lẽ tạo điều kiện cho anh được “thâm nhập thực tế sản xuất công nghiệp cho sáng tạo nghệ thuật” - như ông tuyên bố với cán bộ phòng của Nhà máy trong một buổi giao ban.
Xúc động với mối Tri ân nặng tình nặng nghĩa của người “bạn vong niên” - như Minh đề nghị - Thế đã chịu khó tìm đọc nhiều sách báo, tài liệu về nghề xây dựng, về công nghệ sản xuất bê tông trong nước và nước ngoài, thường hỏi han các cán bộ kỹ thuật, theo dõi sát sao các phong trào thi đua, và đặc biệt nhất, đúng với chức năng của anh nhất, là tìm hiểu tâm tư - đời sống của công nhân một ngành nghề cực kỳ nặng nhọc vất vả để có những bài báo tường, báo ngành xây dựng, và một số báo chí các loại… Thấy cán bộ văn hóa dùng máy ảnh Zênhít của Liên Xô chụp tư liệu, Minh gọi Thế vào và bảo: “Tớ là dân đi Nga về mà không kịp mua bộ Zênhít này làm kỷ niệm, ân hận lắm. Tớ mạnh dạn đề nghị: tớ đổi cho cậu cái máy Nikon này của tớ lấy máy Zênhit của cậu! Chịu không?” - Ông lấy chiếc máy ảnh hầm hố trong tủ ra đưa Thế xem. “Trời ạ! Nikomat! Em được nghe kể: đây là những máy Nikon đặc biệt do Mỹ đặt Nhật sản xuất riêng cho phóng viên mặt trận đây mà, nồi đồng cối đá, được sản xuất đâu chỉ vài chục chiếc, bằng thép của máy bay rơi” - Minh cười: “Cậu đúng là ma xó của dân chơi ảnh! Phải đấy, một cựu chiến binh bạn phổ thông với tớ nhặt được “chiến lợi phẩm” này ở chiến trường Khu 5, mới tặng lại tớ làm quà gặp mặt sau 20 năm đều sống nhăn răng!’ - “Sao anh lại đem cái máy quý đủ kiểu này đổi cho thằng em lấy cái máy rẻ tiền nhất trong các dòng máy viseur flex?[22] - “Thứ nhất là chiếc máy Nga mà lâu nay tớ vẫn đi tìm kia sẽ giúp tớ nhớ lại một thời “lưu vong” khó quên ở miền Bạch dương, thứ hai, chiếc máy Nhật - Mỹ này có ích hơn đối với cậu, người mơ ước làm điện ảnh và đang giúp nhà máy của tớ xây dựng lịch sử bằng hình ảnh! Ngoài ra, vì cậu là người hiểu được giá trị của máy, nên xứng đáng sở hữu nó; còn cuộc trao đổi này hai bên đều có lợi, và cậu thì có thêm sự trao gửi tin cậy của tớ về công việc trong nhà máy của tớ - à không, của chúng ta chứ!”
Minh mở chai rượu gửi từ Nga sang có mác con cá sấu bằng đồng nổi hằn ở lưng chai, rót vào hai chén tống. Rồi hai người cụng chén.
- Chúc mừng nghệ sĩ nhiếp ảnh có đồ chơi nhà nghề mới!
- Chúc mừng Giám đốc chịu chơi có được Kỷ vật mới và chịu thiệt bởi Kỹ nghệ nhiếp ảnh thụt lùi…
- Này, cho cậu sửa sai ngay! Chịu chơi thì không cãi được rồi, nhưng chịu thiệt thì, đợi đấy nhé, còn lâu…
- Đúng vậy, anh không chịu thiệt với em về Kỹ nghệ nhiếp ảnh đâu… - Minh có ý hỏi, Thế tìm cách chống chế - Anh có biết bức ảnh cụ Võ An Ninh chụp sương và mây Sapa không? Bức ảnh tuyệt đẹp, chưa ai chụp được cảnh này bằng cụ, chủ yếu nhờ cái nhìn và sự săn cảnh vất vả, chỉ bằng loại máy Retina gập lên gập xuống cũ kỹ của Đức, thua xa về kỹ thuật so với các lại máy ảnh hiện đại - kể cả với máy Zênhit này! Vì vậy theo em, chỉ nên nói về thẩm mỹ thụt lùi, thẩm mỹ thoái hóa…
Đáp lại lời Thế, Minh cười to và bất chợt cất tiếng hát bài Triệu Bông hồng[23]. Thế hát hòa theo một đoạn, rồi mở túi lấy ra cuộn phim Đức lắp vào máy Nikomat, chọn góc chụp bấm liên tiếp cả chục kiểu ông Giám đốc - Ân nhân của anh trong cảm hứng âm nhạc từng sống suốt tuổi thơ anh… Có lần, Thế đã kể Minh nghe về người chú của anh, cũng tên Minh: thời chú từ Liên Xô trở về rạng rỡ như một hiện thân của Paven Corsaghin và làm tràn ngập tuổi thơ anh em Thế trong âm nhạc của Tsaicovsky, Rachmaninov, Alla Pugasova, Robertino Loreti, trong hội họa của I. Levitan, V. Serov, I. Kramskoy, I. Aivazovsky… Gia đình nhà giáo nghệ sĩ nghèo của anh như được bừng sáng thêm bởi những giá trị văn học - nghệ thuật Nga và phương Tây mà chú mang về. Anh không sao quên cái ấn tượng trẻ thơ háo hức lúc hóng chuyện của chú với bố anh, một họa sĩ và một bác sĩ “Tây học” mới về nước quanh chuyện âm nhạc, hội họa, thế sự, ấn tượng đó còn theo anh cho tới hôm nay…
Trong những bức ảnh chân dung chụp ông Minh hôm ấy, có một tấm mà Thế ưng ý nhất, mà Minh cũng gật gù thừa nhận: Bức ảnh ngược sáng ông đang hát trong phòng giám đốc, hơi bị nhòe vì ống kính normal chụp trung cảnh lại tốc độ chậm 30’’, song, “như thế này mới nói được nỗi nhớ đến run rẩy của tớ về một thời tuyết trắng nước Nga” - Minh nhận xét trong bữa chiêu đãi Thế món Salad cá hồi Nga mấy hôm sau vì “Những tấm ảnh chân dung đẹp nhất trong đời tớ” - Minh trịnh trọng và chân thành tuyên bố. Thế rụt rè thêm: “Theo em, không phải đẹp nhất… Mà là thực nhất về anh, một nhà khoa học mơ mộng làm quản lý sản xuất giữa cái thời kinh tế thị trường lộn xộn, các chính sách vĩ mô lẫn chủ trương thực hiện xộc xẹo chẳng đến đầu đến đũa…”, Minh tròn xoe mắt nhìn cái kẻ mà ông vẫn cho rằng chỉ “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”. “Vodka Nga của anh ngon lắm, và giúp em thêm dũng cảm để nói điều này: mấy tháng qua em không chỉ kẻ vẽ pano, khẩu hiệu lớn nhỏ, làm trang trí cho các hội nghị hội thảo nhà máy, em còn lân la tìm hiểu đời sống, tâm tư các công nhân, và nhận ra không ít điều bất cập thậm chí rất lạc hậu trong guồng máy sản xuất không chỉ của nhà máy ta và của cả nền sản xuất nước mình…” - “Cái thằng này khá đấy! - Minh thốt lên hơi ngạc nhiên có phần thán phục xen lẫn nghi hoặc - Nào, cậu trưởng phòng văn hóa thông tin kiêm nghệ sĩ điện ảnh ẩn dật, cố vấn cho tớ đi nào!” - “Ấy chết, em đâu dám cố vấn, tham vấn gì cho Giám đốc! Anh làm em tổn thọ đấy! - Nốc cạn chén Vodka, Thế quay ra nhìn ngoài của sổ văn phòng thấy các tấm - thanh bê tông ngổn ngang như làm tiền cảnh lẫn hậu cảnh cho một phông màn sân khấu, rồi chậm rãi nói tựa tâm sự với chính mình - Anh à, em biết ơn thằng bạn nối khố đã cho em biết anh và nhà máy ta… Anh có biết: sau lần nghe anh nói về mơ ước kiến tạo ra bê tông tấm nhẹ bằng rơm rạ, em quan sát việc làm bê tông của công nhân với con mắt khác, cảm nghĩ khác trước… - Minh nhìn Thế vẻ háo hức chờ đợi, khuyến khích - Thằng em mơ mộng của anh có mấy vần thơ vụng, đúng hơn chỉ là cảm ngôn thôi: CÔ THỢ ĐỔ BÊ TÔNG. Tôi gặp em giữa một trưa bỏng lửa/ Nắng dội khắp người, khuôn thép nóng rang/ Nắng lẩn vào màu áo xanh bình dị/ Nổi bật dáng em nơi sân bãi thênh thang// Xao động nỗi gì, nắng cứ chói chang/ Mồ hôi trên áo em ướt đẫm/ Anh như thấy ở trong cồn vữa xám/ Nỗi lòng em da diết những công trình…// Dưới tay em những cấu kiện thành hình/ Vật chất tự nhiên hoá thành vĩnh cửu/ Có cốt thép và hồn người xuyên thấu/ Bê tông nhẹ bay như mơ ước xa xăm// Đầm chặt rồi, lại nhẹ nhàng dưỡng chăm/ Nước bay hơi giữa mịt mù bụi khói/ Nắng chưa hả lại bất ngờ mưa xối/ Tấm bạt vội ra che kín cả dáng người// Giữa ngổn ngang bê tông chợt thấy một nụ cười/ Ai bảo những sản phẩm nặng nề và khắc khổ?/ Anh bỗng hiểu thế nào là niềm vui lặng lẽ/ Khi những tấm bê tông được nhấc bổng dưới trục cầu// Em chưa kịp hỏi những tấm cấu kiện sẽ về đâu/ Khuôn cốp pha lại sạch bong dưới bàn tay người thợ/ Ngày mai, những ngôi nhà cao tầng sinh nở/ Bắt đầu từ tình yêu của cô gái bê tông…
- Hay lắm! Có cốt thép và hồn người xuyên thấu. Bê tông nhẹ bay như mơ ước xa xăm - Minh vỗ tay nhè nhẹ - Cậu đã nói được ý nghĩ thầm kín và mong ước sâu xa của tớ… Vậy cậu đã yêu được cô bê tông nào của tớ chưa đấy?
- Chưa đâu ạ!… Nhưng anh ơi, đó chỉ là những cảm nghĩ hời hợt bên ngoài thôi… Em đang viết một vở kịch về nghề bê tông nói riêng, nghề xây dựng nói chung, mà trong đó, em xin phép trước, nhân vật chính lấy anh làm prototype…
- Chắc chắn nguyên mẫu đó phải là tích cực? - Minh nheo mắt lại nhìn Thế.
- Dĩ nhiên là vậy, anh, song đó là tích cực của bi kịch - Bi kịch lạc quan…
- Cậu vừa nhắc tới một vở kịch Liên Xô, có phải không… Để tớ nhớ lại nào…
- Vâng, vở Bi kịch lạc quan của tác giả Visnhevsky…
- Theo tớ, nói về Bi kịch trong văn nghệ lúc này là một thứ ‘sa xỉ phẩm’, thậm chí là ‘phạm húy’… Được, cậu thử kể về Bi kịch lạc quan tại Nhà máy của chúng ta đi nào?
Thế tóm tắt cho Minh nghe nội dung chính của kịch bản đang nung nấu, ông bắt tay anh nồng nhiệt kiểu “Paven Corsaghin” và yêu cầu anh phải viết ngay. “Tớ sẽ mời một đạo diễn sân khấu bạn tớ từ hồi ở Liên Xô tới dựng vở này, ngay tại nhà máy, với toàn bộ diễn viên của nhà máy” - “Tốt quá, em xin làm trợ lý đạo diễn cho anh ấy! Nếu anh ấy bận hoặc đòi thù lao quá cao, thì chính em sẽ làm đạo diễn! Em cũng từng làm đạo diễn kịch dài hồi dạy học ở Tây Bắc… Em đã dự kiến các diễn viên rồi - trừ anh, bởi anh không thể lên sân khấu đóng vai giám đốc…”
Sau một tuần, Thế viết xong lần đầu, đưa Minh đọc, ông rất thích thú, góp ý cho từng chi tiết, từng lời thoại. Ông thích nhất cái ý tưởng: Những tầng cao trong xây dựng cũng như mọi tầng cao trong các lĩnh vực đời sống vật chất lẫn tinh thần đểu là những tầng cao “nghiệt ngã” cả, đòi hỏi người tạo ra chúng phải tận tâm đổ mồ hôi, nước mắt, trí tuệ, sự lương thiện, thậm chí cả máu nữa… Anh kể ông nghe câu chuyện bi thảm về nghề xây dựng xưa ở Hunggari đọc được trong cuốn sách dịch: Xây dựng xưa và nay ở thư viện trường CĐ Sư phạm Tây Bắc: Những người thợ đốt lò nung gạch xây không sao xây nổi lò cho tới khi biết được một lời nguyền nghiệt ngã của truyền thuyết: phải ném người đầu tiên bước tới lò đang xây vào lửa… Họ đã buộc phải làm theo lời nguyền đó trong máu mắt của mình… Tuần sau nữa, Thế đã hoàn chỉnh kịch bản lần cuối, và chủ động thành lập “Đội kịch lâm thời của những người thợ Bê tông”, tuyển chọn diễn viên và lên lịch tập kịch; mọi kế hoạch đều được Ban Giám đốc và Đảng ủy hoan hỷ, ủng hộ hết lòng, tạo mọi điều kiện để anh có thể cho trình diễn đúng vào dịp 30 năm thành lập ngành Xây dựng[24].
Thời kỳ Thế âm thầm tích lũy kiến thức về nghề xây dựng - sản xuất bê tông và đời sống công nhân, anh làm thân với Thảo - một cô kỹ sư học ở Cộng hòa Dân chủ Đức, chủ yếu là trên đường đạp xe đạp từ nhà máy về Hà Nội… Tốt nghiệp về nước, Thảo được Giám đốc Minh tuyển ngay vào nhà máy, bởi theo lời ông từng nói với Thế khi anh hỏi về cô: “Con bé tốt nghiệp bằng đỏ, lại có tâm hồn nghệ sĩ, sẽ cùng cậu xây dựng và phát triển phong trào văn nghệ quần chúng rầm rộ ở cơ ngơi khô cứng đầy bụi này! Tớ giao cho cậu đấy!” Những tuần đầu, cô tỏ ra khinh khỉnh, phớt lờ cái thằng cha mặt mũi lúc nào cũng đăm chiêu, lầm lũi đến các phòng ban, cơ sở sản xuất với chiếc máy ảnh lủng lẳng trước ngực và cuốn sổ trên tay, hỏi han công nhân và cán bộ kỹ thuật mà chưa hề liếc mắt chú ý đến cô - một kỹ sư trẻ được cả Ban Giám đốc coi trọng, trong giờ làm cũng ăn vận lịch sự và mô đec như một nữ chuyên gia nước ngoài. Lúc tuyển chọn diễn viên cho vở kịch, tên tuổi cô lẫn hình dáng thanh tú, khuôn mặt photogénique (ăn ảnh) của cô đã không vào tầm ngắm lẫn bộ nhớ của tay đạo diễn nghiệp dư kiêu căng này! Mà có năn nỉ mời chưa chắc người ta đã thèm ngó mắt vào cái kịch bản vớ vẩn chứ đừng nói vào vai!
Cho tới một lần… Thảo đạp xe rời khỏi nhà máy được dăm cây số thì bị tuột xích. Cô đang ngồi xổm loay hoay với cái xích xe bằng đôi bàn tay lấm đầy dầu mỡ thì Thế đạp xe tới. Chẳng nói chẳng rằng, anh ngả luôn xe mình ở vệ đê chạy đến giúp cô. Xe của Thảo là xe cực sang cô mang về từ Đức, có bộ líp tầng, khi tuột xích mà không biết cách, và không gặp được Thế lúc đó thì chỉ có ngồi khóc trên con đường liên tỉnh vắng tanh! Sửa xong xích xe, Thế lấy giấy báo trong cặp ra lau tay, rồi rút khăn mù xoa đưa cho Thảo, và chỉ tay vào bên má có dính vệt dầu đen lẫn mồ hôi, anh mỉm cười. Thảo chợt sửng sốt, bởi đó là lần đầu tiên cô nhìn thấy anh chàng có “cái mặt không chơi được” này cười, mà lại cười với cô một cách thân thiện, làm như đã quen thân từ lâu, làm như không có nhiều lần cô cố tình lảng xa anh mà chắc chắn là anh biết… Cô lúng túng ngượng nghịu:
- Cám ơn… Em cám ơn anh…
Thế bật cười nhẹ:
- Em nên cám ơn cái khăn này đi đã, nó sẽ giúp em bước đầu lấy lại phong độ của bà chuyên gia kỹ thuật Đức dạo nọ đến nhà máy…
Thảo cười, vừa lau má vừa liếc khẽ Thế:
- Em mà anh ví với bà chuyên gia đó ư, em đâu có chút gì giống và làm sao có thể so sánh với bà ấy được…
- Ừ, đâu có già và soi mói như bà ta - Thế nói ngay. Cả hai chợt cười vang, phá tan mọi nghi kỵ dò xét giữa đôi trẻ từng bao quanh họ mấy tháng trời bên những chồng bê tông im lặng.
Lau má xong, Thảo đưa chiếc khăn lại cho Thế. Anh xua tay:
- Em để dành đôi tay mang dấu vết kỹ thuật hỏng kia về nhà à? Lau nốt đi chứ, đừng thương cái khăn này nữa, coi như anh bỏ đi rồi!
Thảo ngần ngừ một lúc rồi cầm khăn lau hai tay cẩn thận kỹ lưỡng. Thế chăm chú theo dõi từng cử chỉ của Thảo. Cô chợt ngẩng lên, tỏ ra xấu hổ:
- Sao anh lại nhìn em thế? Em có gì hợp với các nhân vật kịch của anh đâu…
Thế chống chế:
- Anh nhìn đôi tay lấm lem của em đấy chứ, và hình dung: nếu em cứ để vậy về nhà, mẹ em sẽ hỏi gì, và em sẽ trả lời ra sao?…
- Anh thực giàu trí tưởng tượng. Chú Minh Giám đốc giới thiệu anh là nhà viết kịch, em không tin… Nhưng bây giờ thì… Có thể bắt đầu tin rồi! Thế cái đoạn đối thoại kia giữa hai mẹ con em sẽ là gì, hở anh?
- Em cứ như Giám khảo của một cuộc thử tay nghề tuyển dụng ấy! Được rồi, lên xe đi, anh sẽ thoại cho mà xem!
Lúc ra vệ đê dựng xe lên, Thế thoáng nghĩ: Cô bé này đáo để đây, nhưng bõ công mình bay nhảy trí tưởng tượng, chứ không như em Liên tài vụ của thế giới câu lạc bộ Thơ ca và văn nghệ quần chúng mình chia tay nửa năm trước… Trên đường vắng đạp xe thong dong hàng đôi, Thế đã vượt qua cuộc “thử lửa” đầu tiên của cô kỹ sư xinh đẹp nổi tiếng kiêu kỳ khắp nhà máy và trai phố trai làng có máu mặt ở địa phương:
- Bố mẹ em là cán bộ nhà nước, phải không?
- Anh tra hỏi lý lịch em đấy à? - Thảo bất ngờ độp luôn, theo thói quen.
- Cứ tạm coi như em nghĩ đi, nhưng với mục đích là anh cần xác định nội dung - tính chất lời thoại kịch mà em yêu cầu lúc nãy… Và cũng tính xem là em có thể vào vai nào cho xứng…
Thảo thoáng ân hận đã vội vàng để nói hớ một câu hỏi khá vớ vẩn:
- Em biết rồi…
Thế lựa lời “chữa cháy” giúp cô:
- Còn anh biết là… em đã từng dị ứng với không ít đối tượng săn đón em…
- Anh đừng nói nữa… Em khóc đây này! - Thảo vội ngắt lời Thế.
Hai người lặng lẽ đạp xe chậm rãi bên nhau, cái im lặng hòa vào bóng chiều bắt đầu tràn ngập vùng trung du như một “đồng minh” giúp họ khỏi làm tổn thương nhau bởi dễ chạm đến thói đời dung tục của thời hậu “Giá - Lương - Tiền” chuyển sang thời “Bù giá vào lương, bù xương vào da” khiến cả xã hội cứ loạn lên, mờ mắt trước thế lực “Tiền là Tiên là Phật” lên ngôi trong bảng giá trị làm Người… Suốt mấy hôm sau đi về cùng nhau, hai người cố tình né tránh cái điều đã trót gợi ra hôm trước, vì vậy Thế không có dịp “trình diễn” mấy câu thoại kịch mà Thảo yêu cầu… Nhưng anh đã thuyết phục được Thảo nhận một vai thứ chính trong vở diễn của anh. Và khi đã có sự tin cậy, Thảo kể với Thế: cô về nước, chỉ mang theo mấy hòm gồm sách kỹ thuật, đĩa hát, tranh ảnh, một bộ sưu tập Búp bê, và đồ dùng có giá trị vật chất cao nhất chỉ là chiếc xe đạp Mifa Thảo đang đi, khiến cả nhà ngao ngán thất vọng và cả khu phố xôn xao bàn tán suốt năm ròng về sự “chơi ngông”, “khác đời” đến kinh ngạc của cô kỹ sư. Bố Thảo là Thứ trưởng của một Bộ, từng làm Chính trị viên tiểu đoàn thời chống Mỹ, có nhiều quan hệ tốt, lại có lý lịch Cách mạng nòi từ ông nội Thảo là tù chính trị thời Tiền khởi nghĩa, nên Thảo và anh trai đã mặc nhiên thuộc giới tinh hoa, cả hai có danh sách được chọn học đại học nước ngoài ngay từ đầu cấp Ba. Mẹ Thảo chỉ là một nhân viên văn thư sớm về hưu để toàn tâm toàn ý làm nội trợ - nội tướng cho toàn gia được “thăng quan tiến chức”… Bù đắp cho sự thiếu hụt học vấn của bà là lòng yêu các bài hát nhạc đỏ, mê xem phim ướt át, ham đọc các loại tiểu thuyết có chất “ngôn tình”, và bà có ảnh hưởng nhiều tới cô con gái út thường được cưng chiều như Công chúa. Trước khi Thảo về nước, ông bố đã “lót ổ” sẵn cho con gái một chỗ làm thơm tho ngay tại Bộ nhà, nơi đương kim Thứ trưởng là ông đang có quan hệ đặc biệt với nhiều doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài. Nhưng Thảo đã tuyên bố hồn nhiên - cũng hồn nhiên như việc cô mang về cả một thùng Búp bê trong lúc thiên hạ tính toán dung tích của thùng theo “Cây - Chỉ”: “Con không muốn sau khi thoát khỏi các thư viện, phòng thí nghiệm học đường lại chui ngay vào văn phòng để gậm nhấm công văn, tài liệu… Con muốn được đem kiến thức lý thuyết vào thực tiễn sản xuất, nhất là những cơ sở đang sản xuất ra các vật liệu rẻ tiền, cho những ngôi nhà giá thành thấp phục vụ đông đảo dân chúng…”. Sau khi đi tham quan vài cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, tới nhà máy Bê tông đúc sẵn Vinh Quang, cô bắt gặp mơ ước làm ra các tấm Bê tông bằng rơm rạ của Minh, cô mê ngay và xin đầu quân về Nhà máy, được Minh phân luôn là Phó Trưởng phòng Kỹ thuật - điều này khiến ông bị mấy kỹ sư thâm niên kỳ kèo, phản đối, và ông còn bị mang tiếng là “bao cấp cho bồ nhí” một thời gian… Rồi xuất hiện một ấn tượng thiên về châm biếm, dè bỉu về cái gọi là “Hội Mơ Mộng Mây Gió” với hy vọng hão huyền là làm cho Bê tông bớt nặng nề…
Lúc nghỉ chân ở một quán nước vối dọc đường, Thế nói với Thảo:
- Hóa ra, anh là kẻ sau cùng được gia nhập vào “Hội Mơ Mộng” của nhà máy, dĩ nhiên là Hội viên miễn cưỡng, được chiếu cố, vì là dân “ngoại đạo” với mọi thứ kỹ thuật, mọi quy luật sản xuất kinh doanh xây dựng…
- Chú Minh là thủ lĩnh, anh là phó thủ lĩnh, còn em là nhân viên - Thảo cười duyên dáng - Em sẽ thu hút thêm mấy người trong đội văn nghệ Nhà máy, trong đó có chị bạn học ở Liên Xô về trước em tham gia Hội này cho đông đúc…
- Em dùng chữ “Thủ lĩnh” với Hội này Hội nọ dễ khiến bị nghi ngờ là Hội kín, nguy hiểm lắm!
- Không lo! Em đang là đối tượng cảm tình Đảng số một rồi nhé! Anh biết không: Hôm kia, có người biết là anh em mình hay về với nhau liền tung tin là: Hạt giống Đỏ của Nhà máy đang liên hệ thân thiết với một tay “Bạch Vệ” dưới vỏ làm văn hóa văn nghệ tìm cách chui vào Nhà máy phá hoại đoàn kết… Em biết ngay là ai, và đã làm anh ta bẽ mặt hôm qua buổi giao ban: Này anh, về cả tư cách lẫn tài năng thì anh không so được với người mà anh gọi sau lưng là “Bạch vệ” đó đâu! Còn nếu như phải “đoàn kết” trong nhà máy theo tinh thần nghị quyết Đảng ủy, thì đối với loại như anh tôi không thể đoàn kết được, nhé!
Thế cười rũ:
- Không ngờ em đáo để thế… Anh nào muốn “nâng khăn sửa túi” cho em, có là ba đầu sáu tay chắc cũng phải chạy mất dép!
Thảo giơ ngón tay dí dí vào mũi Thế:
- Em cảnh cáo anh đó!
Tới lần này đi về Hà Nội cùng nhau, Thế và Thảo đã thực sự trở thành đôi bạn tri âm tri kỷ về văn chương - sân khấu - điện ảnh. Thời học sinh cuối cấp, Thảo đã vùi đầu trong những cuốn tiểu thuyết dịch dày cộp của Nga, Pháp như Chiến tranh và Hòa Bình, Anna Karenina, Phục sinh, Con đường đau khổ, Đỏ và Đen, Giăng Kristôp… Sang Đức du học, cô cũng ôm theo một va ly sách truyện, “Phục Sinh là sách gối đầu giường của em bên đó, anh ạ”… Thế hỏi Thảo đã xem các phim Nga chuyển thể tác phẩm của Lev Tolstoy chưa, cô lắc đầu.
- Vậy em đã xem phim bãi bao giờ chưa? - Thảo lại lắc đầu - Phim bãi tức là một loại rạp chiếu bóng ngoài trời, bây giờ đã vào Bảo tàng điện ảnh rồi. Em chưa biết loại rạp này thì quả là thiệt thòi… Mấy năm trước, trong các phim bãi được xem ở một phố Huyện miền núi, anh ấn tượng nhất là phim Thợ cạo Sibiri, bộ phim Nga này mang dấu ấn của tinh túy văn học cổ điển Nga rất đậm, đặc biệt là kiệt tác Phục sinh của Lev Tolstoy - trong đó, khát vọng về Tình yêu trong sạch, cao cả cùng những giá trị tinh thần vươn tới đỉnh cao của Thượng đế là âm hưởng lớn nhất… Em hãy nhớ lại sự sám hối của nhân vật luật sư Nêkhliudov quyết tâm đi theo dấu tù đày ở Siberi cùng cô gái điếm Maxlôva, đề nghị cô làm vợ mình như một sự đền đáp cho tội lỗi của mình đã gây ra cho cô lúc còn trẻ, sẽ hiểu thêm tình cảm của nhân vật nữ Jane trong phim Thợ cạo Sibiri đối với nhân vật chàng học viên sĩ quan Tolstoy - sự trùng tên này chắc không phải vô tình trong sáng tạo của người làm phim - cũng trong bối cảnh nước Nga thời Sa hoàng cuối thế kỷ XIX. Người phụ nữ ấy trong suốt mười năm đã lê bước trên khắp miền Siberi mênh mông lạnh giá để kiếm tìm người tình, đồng thời cũng tìm ra chính con người mình ở phần sâu thẳm, thiêng liêng nhất, đó là Tình Yêu…
Một đồng nghiệp cũ ở phía Nam có kể cho anh nội dung một truyện ngắn viết về cuộc đời khá kỳ lạ của ông bố vợ, một người Kinh lên Tây Bắc làm nghề thợ cạo. Anh thích quá, đề nghị anh ấy gửi ngay cái truyện đó, bởi cái tên đã gợi đến bộ phim Nga này và vở kịch Người thợ cạo thành Xêvin của nhà văn Pháp Bômacse. Anh đã hình dung ra kịch bản mang tên: Người thợ cạo vùng sông Đen - sông Đen là Sông Đà, Rivier Noir - nếu lên màn ảnh sẽ là một bộ phim chưa từng có về đời sống tâm hồn của người Thái Tây Bắc với chằng chịt mối quan hệ xã hội, tập tục địa phương, mà mới chỉ có tiểu thuyết Rừng động của nhà văn Mạc Phi và tiểu thuyết Đất bản quê cha của nhà văn Vương Trung phác họa. Phim sẽ dựng lên cái thế giới của người sống, của hồn ma và ở các mường Trời - Mường Then, thông qua những lời "khắp" sử thi và lời cúng mo bay bổng huyền ảo nhưng lại thấm đẫm sự sống, giữa bao thử thách và tai nạn do cả lòng tham, thói đố kỵ, sự ngu muội của chính đồng bào mình gây ra… Phim sẽ có những tâm trạng đang yêu "mãnh liệt như sóng tung, thác dội", với tâm lý cổ "Mười bản không bằng bản rụng rốn/ Mười mường không bằng mường treo nhau", với cảnh chìm nổi theo sóng cuộn, vật vã theo sóng tung" khắp các vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc, dù không ít đận "gặp hổ sói”, nhưng các nhân vật của phim cũng luôn sống hiên ngang, không bao giờ dùng tới những thủ đoạn hiểm ác – như một tay thầy cúng xấu sẽ có trong phim lợi dụng mê tín của dân để bịa ra hồn ma khủng bố tinh thần người lương thiện... Phim sẽ giàu chất điện ảnh dữ dội, không kém phim Những đứa con của Gấu mẹ vĩ đại[25] của Đức năm nào đâu em!
Thảo lặng đi rất lâu. Trong câu chuyện phim do anh chàng phụ trách văn hóa có vẻ ngoài khờ khạo này vừa kể lại, lần đầu tiên cô khám phá ra cả một kho năng lượng tinh thần chứa đựng khát vọng nồng nàn của anh với cuộc đời và điện ảnh, cái khát vọng có khả năng thiêu cháy tâm hồn cô. Sau đó, trong những ngày tập kịch, đôi lúc nhìn anh thị phạm cho diễn viên quần chúng, Thảo chợt thấy anh có gì từa tựa các nhân vật Ruồi Trâu, Paven, Andrây Bolkonsky đã từng in sâu trong tâm tưởng thiếu nữ đầy mơ mộng của mình… Anh đã kể cho Thảo nghe thời là “giáo khổ” Tây Bắc, anh và người bạn dạy văn tên là Phúc vào một dịp nghỉ hè đã rủ nhau lang thang xuống cao nguyên Mộc Châu, rồi lên vùng thượng nguồn sông Mã để thâm nhập thực tế mấy tuần liền, rồi sau đó cùng dựng viết và dựng một vở kịch dài về Nguyễn Trãi cho Trường Cao đẳng sư phạm Tây Bắc, bụng đói chỉ được bồi dưỡng bằng bát súp sắn nhưng tâm hồn bừng cháy nguồn cảm hứng của Stanilavski, Arbuzov, Kornêytruc, Vampilov, Ghenman, v.v, – những tác giả sân khấu Xô Viết mà anh và Phúc đã say mê từ hồi sinh viên… Anh còn kể cho toàn đội kịch nghe chuyện: thời sinh viên văn khoa năm nhất, anh tự viết và dựng cho khoa vở kịch Đêm Ức Trai, các thầy khen là được hình ảnh bó đuốc tượng trưng cho ánh sáng thời trung cổ; còn các nhân vật thì ăn nói như trong kịch Shakespeare… Thảo nói luôn: Có nghĩa là chê một cách thâm thúy, lịch sự, chứ gì? Mọi người cười vui, thêm tình gắn bó với nhau, và từ lúc đó, Thế bắt đầu thấy kiềng nể cô gái thông minh này…
Dần dà, cô đã được anh tâm sự hết về gia đình anh. Bố anh là họa sĩ, mẹ anh là một cô giáo dạy nhạc phổ thông, cũng yêu phim ảnh sách truyện và quen sống nhẫn nhịn y như mẹ cô. Hai em trai kế anh cũng là họa sĩ. Cô đã chảy nước mắt sau khi anh kể về chuyện người em trai anh: “Hôm ấy, trèo lên tường cao Hội trường nhà máy để kẻ khẩu hiệu chuẩn bị cho một hội nghị, anh bỗng nhớ Lăng, em trai anh, một họa sĩ phải đi xuất khẩu lao động ở Bun, cũng làm xây dựng, hiện đang méo mặt lo vé về nước theo con đường chính thống… Cậu ấy tốt nghiệp loại ưu Đại học Mỹ thuật mà mấy năm trời phải làm công việc kẻ vẽ đơn điệu như thế này ở một trường Đại học…
Qua thư Lăng và một người bạn thân cậu ta mới về nước, anh đã hình thành được mấy truyện phim ngắn về những chặng Trên từng cây số[26] cuối cùng của con đường khổ ải thấm nước mắt và máu này mà cậu em anh trải qua…”. Anh đã “xi nê mồm” cho Thảo nghe một trong số mấy truyện đó: Âm bản ĐÓA HỒNG TRÊN NGỌN NÚI VITÔSA, đây là đoạn cuối, tâm sự của chàng họa sĩ lưu vong trước cô giáo trẻ dạy tiếng người Bun:
- Anh có thường hay vẽ phong cảnh không?
Tôi giật mình quay lại. Một tia sáng chợt soi thẳng vào cõi lòng bối rối, không hình thù rõ rệt mà tôi đang hướng về cõi vô định. Sự khắc khoải cuối cùng để tự nâng đôi cánh xúc cảm lên ngang với tia nắng dập dờn trên rặng thông non mới nhú kia giờ đã biến thành nỗi lo âu vô cớ về một sự yếm thế, cô độc khó lòng tránh khỏi. Cô mở to đôi mắt chuyển sang màu hạt dẻ, nhìn tôi như nhìn một con chim bay lạc bị trúng tên. “Sao, anh không có màu và giấy bút ư?”. Tôi im lặng, chưa biết trả lời sao. Cô lại nói tiếp, như trong hơi thở của sự thương cảm dịu dàng: ”Mà sao anh lại chọn nghề xây dựng vất vả này ở Bun? Nghề họa ở nước anh chẳng lẽ không được dùng đến ư?” - “Tôi muốn đi du lịch. Chuyến đi Bun này của tôi coi như là một chuyến đi thực tế”. Tôi trả lời thành thực, nhưng rồi ngay sau đó chợt ý thức được hết về thân phận của mình. Tôi đã hiện nguyên hình trước mắt cô: một công nhân tương lai, đúng hơn là một kẻ đi bán sức lao động giản đơn. Liệu tôi có đủ thời gian để giải thích: tôi đã cầm cọ từ lúc còn bé tí, được khá nhiều giải thưởng vẽ thiếu nhi trong nước và quốc tế; khi đi lính hải quân vẫn vẽ nhiều. Xuất ngũ, thi vào Cao đẳng Mỹ thuật. Nhưng tốt nghiệp xong được phân về một trường đại học thì thời gian sáng tác không còn nữa, chỉ vùi đầu vào chuyện kẻ chữ, vẽ pa nô, trang trí phông màn phục vụ cho các cuộc hội nghị, họp hành liên miên từ đầu năm tới cuối năm. Có lần vẽ giấu diếm được vài bức tranh thì bị tổ chức phát hiện, phải kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, thậm chí còn bị chụp cho cái “mũ” là vẽ tranh theo trường phái suy đồi (!) gây ảnh hưởng tác hại tới sinh viên! Ngán ngẩm với đồng lương bố thí trả cho những công việc khổ sai thì ít mà chán nản với cuộc sống vô vị của mình thì nhiều, tôi đã liều đăng ký xin đi xuất khẩu lao động khi có dịp. May mắn là tổ chức đã sáng suốt ghi nhận rằng tôi có một quá trình phấn đấu tốt – từ trong quân đội tới cơ quan, nên việc đi nước ngoài được xét duyệt nhanh chóng. Hơn nữa, công việc của tôi đang làm ở cơ quan cũng đã được “nhấm nháy” dành cho con cháu mấy vị lãnh đạo. Thế là, như một giấc mơ, tôi đã có mặt ở xứ sở này… Dải đất Ban-căng có thung lũng hoa hồng, văng vẳng tiếng vó ngựa tiếng sừng dê, có điệu nhảy xoay tròn tay nắm tay hân hoan trong men rượu nồng say, có mùa đông cũng ngập tràn ánh nắng cho những trò đua tài trên tuyết, có đàn hải âu lượn lờ quanh những chiếc phao bơi, có thuyền buồm nhọn mũi lướt nghiêng và bãi cát hoàng hôn trần truồng nâu bóng… Biết bao điều hấp dẫn du khách từ mọi miền tới đây dể tìm lạc thú và để sống cho ra con người… Tôi nhớn nhác, rối bời trong mớ hành trang tinh thần tuy cọc còi, bé nhỏ nhưng làm lòng tôi trĩu nặng. Những điều đó đối với tôi giờ chỉ là những mụn vá xinh xẻo trên một tấm áo phong sương và mục nát. Cô giáo ơi, em chỉ là một cô gái hoàn toàn khác biệt về ngôn ngữ, tập quán, và cả đẳng cấp đối với những kẻ như tôi… Chính ý nghĩ này chợt đến với tôi như những tàn lửa bốc lên, bay vào đêm tối không trăng sao.
Cô giáo dành cả mấy tiết cuối để trò chuyện cùng lớp và sinh hoạt văn nghệ. Lúc này, ở lớp bên cạnh vẳng sang một giọng hát dân ca luyến láy nghiệp dư cất lên trước sự ngạc nhiên và cảm phục của cô giáo… Đến lượt tôi. Cô giáo và cả lớp chờ đợi. Tôi lưỡng lự. Biết hát gì? Trong tôi lúc này tràn ngập một nỗi niềm thầm kín và vô vọng. Bất giác, tôi quay ra nhìn mỏm đồi thoai thoải, có con đường dẫn lên đỉnh núi Vitôsa nổi tiếng. Một đàn cừu mải mê gặm cỏ, không có người chăn thả. Đâu rồi chàng chăn cừu Ac-lơ-canh? Có phải chàng đang vượt qua dãy núi cao vời kia để tìm vùng đất mới, hay đương khua mái chèo đưa cô chủ sang sông? Giai điệu bị lãng quên của thời thơ ấu nghèo nàn và đắng cay chợt hiện về trong tiếng đàn cùng giọng hát của mẹ tôi, một cô giáo dạy nhạc - bài dân ca Ý “Giấc mơ triệu phú”. Và tôi hát tặng cô giáo: “Đến bao giờ em mới sang sông tìm anh. Đến bao giờ cây lá bên sông lại xanh…”. Trong khi hát, tôi thoáng nhìn thấy cặp mắt cô trở nên xa vắng, buồn rượi, ướt lấp loáng và thẫm màu của hoàng hôn trên Biển Đen…
…Trong lúc nhích dần tới chỗ cửa lấy đồ ăn, tôi nhìn lên phía rặng mận um tùm, nơi có ki-ốt bán đồ giải khát. Cô giáo trẻ của tôi đứng tựa lưng vào quầy hàng, nhìn quanh như có ý tìm kiếm một ai đó, những món tóc mềm của cô bay bay. Cô không thể nhìn thấy tôi trong biển áo sọc – biển áo của những người sẽ hoàn thiện cho Tổ quốc của cô vô vàn những căn hộ mới xây… Phải, thế là chúng ta đã xa nhau rồi. Những ngày sắp tới là mùa đông tuyết phủ. Tôi sẽ cố gắng tìm gặp lại em, với vốn từ chắc sẽ nhiều hơn, để giúp em hiểu thêm về Tổ quốc tôi, về con người Việt Nam, về nỗi lòng của một “kẻ sĩ” nghèo phải tha hương làm thuê kiếm sống, về tất cả mọi điều, nếu cần sẽ dùng thêm cả bảng màu, cây cọ – thứ “ngôn ngữ mẹ đẻ” của loài người – nếu như điều đó đem thêm cho em niềm vui và sự yên lành.
Nghe xong, Thảo rơm rớm nước mắt bảo Thế:
- Anh Lăng thực đáng thương… Anh dạy em bài hát “Giấc mơ triệu phú” nhé? Em thấy mê mẹ anh quá… Hôm nào anh đưa em tới thăm mẹ, và được nghe mẹ chơi đàn… - Cô nói chữ “Mẹ” một cách tự nhiên, như tiến độ tình cảm giữa hai người đã tới lúc cần phải thế, khiến anh xúc động, nếu cô thổ lộ “Em yêu anh” thì có lẽ anh không xúc động đến vậy. Sau khi vở kịch đã chạy dượt lần cuối và lên lịch diễn cho Đảng ủy nhà máy duyệt, Thế đưa cô tới thăm nhà anh theo đề nghị nhắc lại của Thảo.
Cô xuất hiện trong ngôi nhà cấp Bốn cũ kỹ của Thế như Bà chúa Tuyết lộng lẫy lạc vào căn lều rách nát của chàng Thợ săn, song cô lại mang dáng vẻ của một nàng tiên bé nhỏ hiền dịu, hòa nhập ngay được với tâm tính của bà giáo dạy nhạc - cái tâm tính đã tạo nên không khí chung của một gia đình tuy đương lay lắt trong cơn sóng mưu sinh dữ dằn cả xã hội song vẫn cố giữ lấy căn cốt gia phong như một thành lũy cuối cùng… Nhà có mỗi mình bà giáo. Ông họa sĩ chủ nhà vào Sài Gòn tổ chức triển lãm tranh và thăm vợ chồng cô con út, cậu thứ họa sĩ sống ở nhà vợ, cô thứ tư dạy học ở ngoại thành, cũng đã lập gia đình. Thấy trưởng nam lần đầu tiên dẫn một cô gái về nhà, linh cảm của người mẹ nhà giáo - nghệ sĩ mách bảo điều tốt lành, như đáp ứng được kịp thời mong ước mấy năm nay của bà về thằng con vất vả long đong nhất nhà. Bà tiếp đón Thảo như người bạn lâu năm của Thế và của gia đình, như học trò cũ thân thiết gặp lại cô giáo yêu quý từ thời thơ ấu… Khi Thảo nhắc đến người con thứ ba sống ở Bun đương chạy vạy tiền nong và thủ tục để quay về nước, bà thoáng buồn rồi bước tới cây đàn organ loại lớn: Vậy chắc Thế có kể cho cháu nghe về bài hát gắn với tuổi thơ của anh em Thế, cháu nghe thử nhé? - Thảo mừng rơn: Vâng ạ, anh Thế hứa dạy cháu bài dân ca Ý ‘Giấc mơ triệu phú’ đấy ạ… Cô dạy cháu nhé? Bà giáo ngồi xuống đàn và vừa đệm nhạc vừa cất giọng hát: Đến bao giờ em mới sang sông tìm anh. Đến bao giờ cây lá bên sông lại xanh… Thảo bất giác bước tới gần đàn, khi mẹ Thế hát xong cô rụt trè đề nghị: Cô ơi, cô cho phép cháu thử đệm bài hát này nhé? Bà giáo thoáng ngạc nhiên, chưa kịp hỏi thì Thảo vội giải thích: Hồi cháu vào cấp Hai, bố mẹ cháu đã mua cho hai anh em cháu một chiếc đàn Ancơ đẹp lắm, thuê gia sư về dạy, nhưng chỉ có cháu thích học thôi... - Thế cháu đã học đến trình độ nào rồi? - Dạ, cháu đã tập gần hết các tác phẩm piano cơ bản trong giáo trình Alfred's Basic Piano Library Level, và có tham khảo cả John Thompson's Modern. Bà giáo thốt lên: Tuyệt quá! Thế sao cháu không tiếp tục con đường âm nhạc, mà lại thành kỹ sư xây dựng? - Mấy năm cấp Ba cháu bận bài vở, rồi thi tốt nghiệp, nên học đàn bập bõm, có khi cả tháng không mó tới đàn. Cháu đăng ký học đại học văn, nhưng bố cháu lại xin cho cháu học xây dựng bên Đức… Sang đó, thi thoảng cháu cũng tìm đến các câu lạc bộ, các gia đình có đàn để nghịch chơi cho đỡ nhớ… - Trước đây, nhà cô cũng có piano Yamaha, cô trực tiếp dạy hai em gái của Thế… Rồi vào thời buổi khó khăn, cô phải bán piano đi để mua cái organ này dùng tạm, đã được mấy năm… - Cô dạy cháu đàn nhé? Nghe cô đàn, cháu muốn trở lại học piano quá! Đàn Ancơ nhà cháu để không gần chục năm nay, chỉ chờ mong một gia sư như cô thôi… Cháu sẽ là học trò không để cô thất vọng đâu ạ.
Bà giáo và Thế bất giác thoáng nhìn nhau. Bà đứng lên nhường chỗ cho Thảo, và Thảo bắt đầu gõ phím thử, mới đầu hơi bỡ ngỡ, rồi cô tự tin rải nhạc đệm. Cô giáo dạy nhạc cất tiếng hát theo tiếng nhạc… Thế im lặng suốt từ đầu cuộc trò chuyện giữa hai người, và lúc này như ngây người ra trước tiếng đàn tiếng hát của họ…
Mẹ Thế giữ Thảo ở lại ăn cơm chiều, Thảo đồng ý ngay, và chủ động vào bếp làm cơm cùng bà như người thân quen từ lâu của ngôi nhà… Mình Thế ngồi lại trong căn phòng chất đầy sách vở một bức tường và treo tranh các cỡ khung to nhỏ ở ba bức tường kia, chúng được tô điểm thêm bằng những lời ríu rít của cô gái đã tìm thêm được con đường đến với sâu thẳm tâm hồn anh bằng âm nhạc - thứ “gia bảo” của mấy anh em Thế, giữa những ngày anh đi tìm lẽ tồn tại thực sự của đời mình, khi mọi thứ còn mông lung xa vời…
Thế sẽ kể cho cô gái này nghe: mẹ từng là cô giáo dạy nhạc của mấy anh em Thế, và nếu cô thực lòng yêu anh, sẽ kể thêm một điều khá buồn liên quan tới đề nghị chân thành của Thảo lúc nãy, cũng có nghĩa gắn với một “sự kiện” khá đặc biệt trong đời học trò của Thế: Anh đã “rơi” vào một lớp cấp hai toàn con ông cháu cha loại chót đỉnh, trong khi Thế chỉ là con của một ông “Lưu Bị” - tức cán bộ lưu dung[27]; chắc bởi mẹ là giáo viên hiền lành của trường, có anh trai là nhạc sĩ tên tuổi đã đóng góp một số bài hát cách mạng được đánh giá tốt, nên Thế mới được “đặc cách” chiếu cố vào một lớp “con cưng”, “hạt giống đỏ” của trường? Không bao giờ Thế biết được điều này. Nhưng có chuyện anh còn nhớ như in: trong lớp, anh kết thân với cô con gái một ông tướng, được cô ta mời đến nhà chơi. Cô ta quý Thế, trước hết bởi Thế là con cô giáo dạy nhạc, và đó cũng là động lực của lòng dũng cảm để anh bước vào ngôi biệt thự thâm nghiêm có cổng sắt lớn phủ hoa tigôn quanh năm đóng im ỉm, và tự tin thưởng thức những đồ ăn đãi bạn mua ở Tôn Đản mà mẹ con anh nằm mơ cũng không bao giờ biết tới. Thế cũng liều mạng mời cô ta đến nhà. Cô đến thật, và một tuần sau, bản năng trong sáng của tuổi quàng khăn đỏ đã thú thực: “Tớ rất mê tiếng đàn của cô. Tớ đã đề nghị bố mẹ tớ mời cô dạy thêm đàn cho tớ tại nhà… Nhưng… Bố mẹ và các cô các bác tớ bảo: Con phải có gia sư dạy thêm đàn là giảng viên học nước ngoài về, mà phải là Đảng viên cơ… Cậu đừng buồn cho tớ nhé!” Lúc ấy Thế chỉ thấy chạnh buồn cho thân phận mẹ con anh… Thế đã kể lại cho mẹ nghe nguyện vọng đáng yêu của bạn, song chẳng đề cập vế thứ hai, bà vui lắm, và tới nhờ anh trai ở Nhạc viện tìm hộ mấy giáo trình piano nước ngoài in rô-nê-ô, chuẩn bị đón cô học trò yêu tiếng đàn của bà… Sau đó, vì sự ngây thơ, hồn nhiên, và bận bịu chuyện gia đình, bà chẳng nhớ tới chuyện này nữa, và Thế thì thoát được một lần bất đắc dĩ phải nói dối. Thế cứ định tới một lúc nào đó, vui chuyện sẽ kể lại hết cho mẹ. Nhưng năm tháng trôi qua, rồi Thế gần như bị đi đày biệt xứ ngót chín năm ròng, biết đâu đã tới lúc thuận lợi thực hiện việc này, khi anh có Thảo gắn bó với đời mình?
Thế tốt nghiệp phổ thông, vào cái thời “Nhất Y nhì Dược tạm được Bách khoa, Sư phạm bỏ qua”, xét lý lịch bố chỉ là dân hội họa ngây thơ có vẽ tranh vui “ăn theo” mấy ông Nhân văn Giai phẩm, anh may mắn được xếp vào Đại học Sư phạm Hà Nội. Đọc được nỗi buồn thất vọng của trai trưởng vì thừa điểm đi học nước ngoài mà bị “bỏ qua” một cách bất công như thế, mẹ đã nói với Thế những điều có sức mạnh hơn mọi lời động viên an ủi, bằng tiếng đàn và lời hát của bà từng tràn ngập tuổi thơ anh em Thế vừa mới ngân lên trong ngôi nhà này: Đến bao giờ em mới sang sông tìm anh. Đến bao giờ cây mới bên sông lại xanh… Tiếng đàn và giọng hát ấy theo các em Thế cùng mẹ trải qua bao nỗi vất vả mưu sinh, và theo anh lên chốn rừng xanh núi đỏ trong thân phận “giáo khổ Tây Bắc”. Những năm sống ở “Thị trấn buồn ngủ quên trong mây núi”, hai loại thư Thế mong nhất là thư cô học trò vừa bay khỏi trường cấp ba mà anh không dạy buổi nào song nhất quyết gọi anh là “thầy”, và thư mẹ. Song thư mẹ mới là thế giới bình yên, ấm áp thật sự của anh lúc xa nhà, giữa bao khổ cực, đói khát, nhọc nhằn. Tiền lương trích ra dành dụm mang về, đưa mẹ thì mẹ cầm vui vẻ, song khi Thế đi, mẹ lại dúi nguyên vẹn vào ba lô cho anh… Chuyển vùng về Thủ đô, với tấm thân tàn tạ và đặc biệt là cái bộ tiêu hóa gần thành “phế phẩm” bởi nhiều năm ăn độn bo bo, ngô, sắn, người chăm lo trực tiếp cho Thế chỉ có mẹ - “nội tướng” của một gia đình nhà giáo-nghệ sĩ nghèo chỉ trông vào tem phiếu bình dân… Thế chợt lo lắng mơ hồ. Đã rõ ràng là hai người thuộc hai đẳng cấp khác nhau, càng nổi bật sự xa cách vào thời cảm hứng dân gian thế này mặc nhiên trở thành chân lý sống của đa số người: Nhà mặt phố, bố làm to - Yêu anh chẳng quản khó nghèo/ Tiền nhà tiền điện anh leo một mình… Thế mới đi cùng đường dài với Thảo có vài ba lần, cả nhà máy đã đồn ầm lên rằng anh là “kẻ đào mỏ”, “chuột sa chĩnh gạo”… Bố cô ấy có tiêu chuẩn Nhà thờ nhiều năm qua, và đã có kế hoạch chắc chắn về nhân sự để thăng hạng lên tiêu chuẩn Tôn Đản (theo giám đốc Minh bật mí cho Thế) - trong cái chế độ đãi ngộ lâu nay đi vào Từ điển dân dã, nguồn dữ liệu ngôn ngữ - dân tộc học - sử học ngoài luồng quý giá cho các bộ Bách khoa toàn thư thế kỷ sau: Tôn Đản là chợ vua quan/ Đặng Dung là chợ trung gian nịnh thần/ Đồng Xuân là chợ thương nhân/ Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng…
Thế bỗng ngậm ngùi nghĩ tới những năm qua mẹ anh đã sống trong cái “ma trận” tem phiếu, như là “nguồn sống” chủ yếu của người dân thời bao cấp do Bộ Nội thương sáng tạo ra, và bây giờ vẫn tiếp tục sống như thế... Phiếu vải, phiếu đường, phiếu đậu, phiếu thịt, phiếu rau, phiếu củi, phiếu dầu… - những mẩu giấy nhỏ bé lại có sức mạnh “thần linh” cứ hàng này đè nén tấm thân mảnh mai và đôi tay chơi đàn xanh xao của cô nữ sinh Hà thành duyên dáng một thưở xuống đất đen nhớp nháp của nơi đặt gạch ghi tên xí chỗ mua gạo mua rau, nơi hứng nước sạch phân phối ở vòi công cộng đầu phố, chen chúc tranh giành với bọn thiếu niên mà trong đó có cả học trò của bà… Ngày đầu tiên chính thức trở về Thủ đô, khi đến thăm thầy dạy văn cuối cấp cũ, Thế đã tận mắt chứng kiến cảnh cảnh xếp thùng lấy nước từ mờ sáng hôm trước đến nửa đêm hôm sau, còn vòi nước công cộng đông nghịt người ấy là nơi vo gạo, rửa rau của các bà, đồng thời là nơi tắm của đàn ông và trẻ con. Nhà thầy có 8 người, chen chúc ở căn phòng 14 m2, sống trong một ngõ 12 hộ dân mà chung một khu bếp, nhà đun bằng dầu, nhà nấu bằng mùn cưa, người quạt, người thổi, khói bốc mù mịt, những gương mặt ám đầy muội than và ôm ngực ho sù sụ…
Khu phố nhà Thế đỡ nhộn nhạo hơn, đỡ chật chội hơn, may mắn không có những “bếp tập thể” kiểu ấy, vòi nước công cộng không đến nỗi “đa năng” như thế, song mẹ anh chắc chắn đã sống trong “địa ngục” xếp hàng mua từng cân gạo, từng lít dầu hỏa, từng chai nước mắm để giúp bố anh được toàn tâm toàn ý sống trong cảm hứng sáng tạo chỉ chìm trong mây, nắng và tình yêu con người ở nhiều vùng đất ông đi qua… Thế từng kể cho Thảo nghe về bố anh: có lần, sau vài tuần ở Đồng Mỏ - Lạng Sơn về, ông hớn hở khoe đã kết nghĩa anh em với một ông người dân tộc Tày, và đem cất trang trọng một bọc to lên xà nhà, sau này cả nhà mới biết đó là sợi thuốc lá, thuốc lào được biếu và được trả công vẽ chân dung cho các cụ trong bản, chúng đã mốc xanh tự bao giờ! Không chỉ một lần ông được trả công vẽ chân dung bằng hiện vật như thế… Ông đã cho anh chiếc đồng hồ bấm giây thể thao cũ kỹ - một thứ được trả công sau lần đi thực tế ở Phú Thọ, anh giữ nó cẩn thận dành cho việc làm phim sau này… Nhưng thu hoạch lớn nhất của ông sau những lần đi thực tế “tự do” ấy là tình người ở những vùng đất nghèo khó mà ông thường say sưa kể lại cho vợ con và bè bạn, cùng hàng loạt phác thảo, ký hoạ chân dung, phong cảnh, đồ vật… làm chất liệu giúp ông nghiền ngẫm xây dựng tác phẩm. Ông vẽ rất nhiều, có những bức đã hoàn chỉnh, có không ít bức còn ở dạng phác thảo, tìm kiếm bút pháp - nhưng tất cả đều rung động một tình yêu thuần khiết, mộc mạc đối với thiên nhiên và con người. Ông vẽ về những kỷ niệm xưa bập bềnh trong sương khói, về những lễ hội dân gian ngây ngất lòng người ở miền núi và đồng bằng Bắc Bộ, về những cảnh lao động lầm lụi trong các bản làng người dân tộc… Ông vẽ trên lụa, trên giấy, trên toan vải… Dù bằng chất liệu gì cũng cho thấy một tâm hồn say đắm muốn lắng nghe thâu nhận để không bỏ sót một sắc thái nhỏ nào của đời… Nhưng cuộc vật lộn giữa mưu sinh với những mục tiêu về nghệ thuật thực gay gắt, chúng luôn thường trực trong ông; đó là sự xung đột giữa tính chất sú-vơ-nia[28] của tranh và phẩm chất đích thực của nghệ thuật - và xót xa thay, không phải lúc nào mục tiêu nghệ thuật cũng thắng! Ông vẽ để tìm kiếm một bản sắc riêng của mình, để giải toả những ẩn ức thẩm mỹ mà một nghệ sĩ đau đáu trong mình, nhưng ông cũng phải vẽ để bán tranh cho các gallery, các nhà sưu tập tranh để nuôi sống một gia đình 5 con qua thời Bao cấp! Có lần, ông giao vài chục bức tranh lụa cho một người hoạ sĩ (nhưng thực chất là một người buôn tranh), sau một thời gian, người ấy thông báo chưa bán hết, và đưa trước cho ông một chiếc tivi đen trắng (sau đó thì “lặn” luôn). Khi ấy trông ông có vẻ vui lắm, vì ông cũng đang muốn mua cho vợ con một chiếc tivi. Nhưng rồi sau đó, ông lặng buồn rất lâu, ai gặng hỏi cũng không được. Thế không thể quên câu chuyện bố từng kể về danh hoạ Uytrilô[29]: ông này chỉ ngồi trong nhà, vẽ tranh theo những carpostal phong cảnh vợ đem về, kèm theo một cốc rượu đặt trước mặt; nhưng mỗi khi bà vợ thông báo đã bán được một bức tranh phong cảnh không một bóng người của ông, ông thở dài lắc đầu buồn bã: “ Ôi chao! Loài người thật ngu xuẩn!”
Như vậy là đã có thừa đủ các tiêu chuẩn để xếp gia đình anh vào tầng lớp “Dưới đáy” - như tên một vở kịch của M. Gorki. Nếu bố mẹ Thảo cũng từng sống qua cảnh này, chắc chắn sẽ tìm cách ngăn cản con gái họ tránh xa gia đình anh như tránh hủi, còn họ vốn đã thuộc thế giới khác, đẳng cấp khác, khi được trực tiếp “mục sở thị” chốn này và biết được những “thông gia tương lai” đã từng sống ra sao, đã là hạng nhà giáo - nghệ sĩ điển hình của tầng lớp “vô sản” thì chắc chắn họ sẽ phải nôn ọe vì ghê tởm… Anh phải nói thật với cô thôi, đừng để cô phải ê chề nhục nhã thay cho anh khi bố mẹ họ hàng cô phản đối anh, từ chối anh bằng đủ thứ lý do từ tế nhị nhất đến trần trụi nhất. Anh cần tự đặt mình vào cương vị bố mẹ cô mà ngẫm và tìm lối thoát cho danh dự của một kẻ sĩ “chỉ giàu có nỗi buồn và trăn trở” - như một câu cảm ngôn của anh, tránh khỏi một sự lăng nhục tất yếu một khi anh dám cả gan “đũa mốc trèo mâm son”!
Quả nhiên, những lo xa của Thế là có “cơ sở lịch sử - xã hội” - y như đòi hỏi đầu tiên của bất kỳ Dự án nào về kinh tế hoặc văn hóa, và trùng hợp một cách lạ lùng quái quỷ với không ít tình huống văn chương - nghệ thuật cổ điển mà Thế quen thuộc sau nhiều năm hóa “mọt sách” để giết thời gian và quên đói quên rét: Ba hôm sau, Thảo tức tưởi chạy tìm Thế khắp nhà máy với đôi mắt đỏ hoe, sưng vù vì khóc nhiều. Cô kéo anh từ chỗ tập kịch mới kết thúc ra đống bê tông hỏng chất chồng ngổn ngang cuối Nhà máy, vừa vào chỗ khuất, cô ôm chầm lấy anh mà khóc nấc lên như một đứa trẻ quen được chiều chuộng luôn đạt mọi mong muốn bằng cách đó. Thế vỗ về cô, đợi cô vơi đi chút ít rồi khẽ hỏi cái điều nhằm khẳng định thêm nội dung trả lời:
- Bố mẹ em phản đối chứ gì?… Anh đã đoán trước…
Thảo vừa kể lau nước mắt. Cô gái nào đang yêu mà tuyệt vọng cũng nhiều nước mắt cả, Tây và Ta, Xưa và Nay đều thế, có điều, Thảo từng đi Tây, đọc nhiều sách văn học Cổ - Kim, nên Thế không bị nhấn chìm trong bể bi lụy sướt mướt cải lương để mau chóng bình thản tìm ra lối thoát bi kịch cho cả hai một cách dễ chịu nhất… Sau khi từ nhà Thế về, cô đã hớn hở khoe với bố mẹ là tìm được một bà gia sư dạy nhạc giỏi, em gái của một nhạc sĩ tên tuổi, bà đã vui vẻ nhận lời dạy thêm đàn cho cô bằng chính chiếc đàn dương cầm giá trị nhất thế giới suốt một thế kỷ để không trong nhà nhiều năm nay… Thấy bố mẹ phấn khởi, cô liền thừa cơ công bố luôn về người cô quyết định chọn làm bạn trăm năm, “một nửa” của cô. Cô chân thật kể về lai lịch, thân nhân, mơ ước, khát vọng của Thế, cả về vở kịch anh viết và đang dựng cho Nhà máy mà cô đảm nhiệm vai thứ chính… Đợi cô nói xong hết, bậc song thân im lặng rất lâu, rồi bố cô tâm sự với con gái, vừa thân tình thuyết phục vừa lạnh lùng như bạo chúa tuyên án: Về nước chưa được một năm, con chưa kịp đem kiến thức khoa học kỹ thuật tiên tiến ra để thi thố, kiểm nghiệm, như mong mỏi của chính con khi nằng nặc đòi về Nhà máy chú Minh, thì đã vội vàng bập vào chuyện yêu đương, hôn nhân, thứ mà cần có thời gian tìm hiểu kỹ lưỡng để “dò cho đến ngọn nguồn lạch sông” mới có thể đảm bảo hạnh phúc dài lâu vững bền! Con vẫn còn mơ mộng, trên mây trên gió quá, vừa ở xứ sở văn minh về, đâu có biết thực tế trần trụi trong nước những năm qua… Cả nước đói, con ơi! Cả nước đương gồng mình tới kiệt sức để cố thoát đại nạn Bao cấp và hậu Bao cấp khốn khổ tròng lên số phận hàng chục triệu người, nhà ta thuộc bộ phận thiểu số đã may mắn không bị cái đại nạn đó uy hiếp, song cũng bấp bênh lắm con, thời cuộc trắng đen sấp ngửa chưa biết thế nào… Bố đã cầy cục cho con suất đào tạo Tiến sĩ khoa học ở một nước Tây Âu; quen thân đấy, thế lực của bố có thừa đấy, thế mà cũng mất khoản chi phí gấp đôi giá trị chiếc đàn kia kìa - Ông nghiến răng lại - Thế mà con nhởn nhơ như con bướm, sa đà vào chuyện kịch cọt vớ vẩn, lại dính vào cái thằng giáo khổ miền núi thân tàn ma dại trở về, về đâu chứ, về cái ngôi nhà bố tin là rách nát hơn của lũ bần cố nông mà chủ nhân không giữ nổi cây đàn Piano hành nghề! Còn con, con có may mắn hơn rất nhiều người, nhưng lại không may là không sống cảnh của hàng ngàn lưu học sinh phải chạy hàng gom hàng đến hộc máu ra để kiếm thêm chút gì mong cứu gia đình đang ngắc ngoải ở nhà, bởi vậy con trở về chỉ toàn sách và búp bê làm trò cười cho thiên hạ… Nhưng thôi, con ngông nghênh coi thường vật chất thế đủ rồi! Bố đâu có ngồi tới già ở chức vị này, lại nơm nớp lo hạ cánh an toàn - an toàn không phải cho bố mà cho cả nhà mình, giữa thời mà bất kỳ kẻ nào đang cười cợt nịnh nọt bố cũng có thể đâm trộm bố chí tử bên sườn, sau lưng, tình đồng chí đồng bào bây giờ chỉ là đầu lưỡi thôi con! Vậy mà con cứ nhởn nhơ ngông nghênh mãi thế này, bố mẹ tổn thọ mất! - Mẹ cô chêm vào - Còn mẹ thì phát ốm, phát rồ, mẹ sắp ngã quỵ rồi đây… Con quên rồi sao, hồi con còn ở bên kia, ông Bộ trưởng đã có ý nhắm con cho cậu con trai ông ta đang tu nghiệp bên Mỹ… - Ông bố cướp lời - Phải đấy, cậu ta ngoan ngoãn, đẹp trai, đang được Tổ chức nhắm vào chân Thứ trưởng khi về nước với bằng Tiến sĩ… - Mẹ cô kết bằng một scene[30] kinh điển vốn thuộc bản năng của mọi người mẹ thương con: Nghe lời bố một lần đi con! Con chưa báo hiếu bố mẹ được một ngày, thế mà… Bố mẹ đặt bao hy vọng về con… Rồi sau đó ôm mặt khóc um lên hơn cha chết, và Thảo cũng ôm mẹ khóc theo, thề thốt đủ kiểu mới làm bà ta nguôi dần.
Giữa mớ thông tin lộn xộn thấm đẫm nước mắt mà cái nào cũng có khả năng tàn phá trái tim đa cảm của Thế, không hiểu sao lại lắng đọng, kết tủa trong lòng anh cái điều hết sức hiển nhiên theo lẽ đời song lại trái khoáy đối với anh: sự hứa hôn của hai gia đình quý tộc An Nam thời mới theo kiểu nhìn nhau chỉ bụng định nhời thông gia thời xưa…[31] Tức thì, phản ứng bản năng của một gia đình trí thức nhú lên tựa măng nhọn: À, các vị dám nói tới đẳng cấp ư, dám vỗ ngực tự coi là thượng tầng cao quý là tinh hoa xã hội ư? Cả một lũ các vị may mắn nhảy vào tranh cướp được cái thẻ vàng “Công Nông”, mua được thẻ bài “Có công với Cách mạng” bằng máu xương kẻ khác để thay phiên nhau đi các xứ sở Tư Bản giãy chết vơ vét của cải mang về, còn bao tinh hoa tri thức nhân loại ở thế giới văn minh đâu có đáng xu rỉ nào với các vị! Ôi, cái đẳng cấp của bọn ăn mày khoác áo trí thức… Ta đâu có vinh dự đứng chung với thứ đẳng cấp đáng vứt sọt rác tinh thần thế gian từ lâu và hiện đang bốc mùi làm ô uế tâm hồn các thế hệ ngơ ngác đáng thương… Thế bỗng ứa nước mắt nghĩ tới cái chết thảm thương đẫm máu của bạn Lăng - cậu em trai họa sĩ của anh, và tình cảnh Lăng chỉ còn mấy đồng lê-va cuối cùng chạy chọt vé về nước theo giá quy định từ một dây “Mafia” ở Đại sứ quán và ở Ban quản lý lao động, và tiếng than của cậu ta mà anh đã tả lại trong mấy Âm bản mang tên chung: Trên từng cây số cuối cùng của máu và nước mắt[32]: “Trời ơi! Ta đã phải nếm trải bao nhục nhã, phải vất vả ngược xuôi để được ‘đi Tây’, cốt để sơ tán khỏi những kẻ như vậy nhung nhúc ở trong nước. Vậy mà ở đây, tận bên này quả đất… Chỉ khác một điều là sự đểu cáng và thô bỉ không cần được che giấu kỹ lưỡng…”.
Thế chợt ân hận là chưa kịp đọc cho Thảo nghe cảm ngôn: Viết cho con gái năm con 19 tuổi, xuất phát từ câu văn: “Khi người ta 19 tuổi, người ta là bà Hoàng” của A. Tolstoy[33] thời anh lang thang trên một đoạn đường núi Tây Bắc thương cảm ngắm nhìn những đứa trẻ dân tộc cởi trần da cháy nắng và nghĩ về đứa con gái đầu lòng của anh sau này… Nhưng chưa kịp kể cũng là may…
Hai tuần trước, trong một đêm cuối hè. Hai người nghỉ chân ở cánh rừng thông cằn cỗi trên đường về, Thảo chủ động kéo tay anh lên tận đỉnh đồi và ôm chặt lấy anh lúc hai người còn thở hổn hển vì chạy lên dốc. Họ trao cho nhau cái hôn đầu tiên, đắm đuối mê man như sự giải tỏa bao kìm nén tích tụ. Sau đó, Thảo rải tấm nilon màu ngọc bích ra khoảng đất bằng phẳng, cô ngồi xuống rồi giơ tay ra kéo anh ngồi xuống cạnh mình. Lại một cái hôn dài nữa, cũng do Thảo chủ động. “Anh có biết em yêu anh vì cái gì không? - Thế tìm cách trả lời thì cô tiếp - Bởi vì lúc bao thanh niên trong và ngoài nhà máy săn đón em tựa những con công xòe hết lông cánh khoe khoang, thì anh dửng dưng như lẩn tránh em - Đâu nào, vì anh mặc cảm thôi, một thằng giáo khổ… - Thảo giơ tay bịt miệng anh - Em cấm anh không bao giờ được nói thế nữa! Từ hôm anh trót cho em xem tấm ảnh anh trên Tây Bắc, mặc chiếc măng tô Nga do bạn anh gửi tặng, em thấy anh giống một nhà quý tộc Nga chống lại Sa hoàng ý. Nhưng quý tộc Nga mang khí phách của Ruồi Trâu… - Thì họ đều cùng một lò của Thế kỷ Ánh sáng bước ra mà lại… - À, hôm nọ anh kể trong kịch bản mới nhất của anh có một nhân vật quý tộc như thế người Pháp, một quan hai kiêm nhà dân tộc học yêu cô gái đẹp nhất của ban xòe vua xứ Thái họ Đèo. Kể em nghe chuyện tình yêu của họ đi anh? - Thế đành “xi-nê mồm” một trường đoạn của cái scenario film chưa biết đến lúc nào mới có cơ hội trở thành Dương bản:
Một chiếc máy bay Dacota tiếp viện cho Điện Biên Phủ đang bay trên đầu hai người chạy trốn chợt bị đạn pháo bắn trúng, khói phun đen kịt, rú lên và lao xuống. Mây sợ hãi chúi cả người vào nhà dân tộc học Pháp. Anh ôm chặt lấy cô, vỗ về.
- Đừng sợ... đừng sợ.
Một tiếng nổ lớn vang động. Một cột khói lửa bốc lên phía xa, sáng rực cả một khoảng rừng đêm. Cornaul ghì sát thân hình cô gái trong lòng mình, thì thầm.
- Em là thiên thần hộ mệnh của anh... Anh yêu em...
- Ông yêu em, hay yêu những bước xoè của em, hay chỉ yêu những điệu xoè của người Thái? Ông chọn dao hay chọn vỏ dao?
- Anh yêu từng hơi thở của em, yêu cả những lời vô nghĩa như vừa rồi... Anh thèm nghe em nói quá!
Cornaul hôn lên mái tóc dài xoã tả tơi của cô. Mây nói khẽ trong khi chúi đầu vào lòng anh:
- Ông yêu em làm gì cho cả hai đều khổ?
Cornaul nâng đầu Mây lên, nhìn cặp má ướt của cô.
- Em có yêu anh không?
Mây lặng lẽ gật đầu tin cậy. Cornaul khẽ khàng đặt cô nằm xuống mặt đất còn ngổn ngang hoa ban rụng. Hai người ôm nhau ngủ say trên mặt đất. Mặt trời ló lên sau rặng núi. Trên người Mây được đắp chiếc áo nhà binh. Mây mở mắt, ngỡ ngàng nhìn sang người đàn ông nằm cạnh, rồi ánh mắt cô trở nên lấp lánh một tình yêu thương tràn ngập. Cô lấy áo đắp lên người Cornaul, anh cũng thức giấc. Việc đầu tiên là anh ôm chầm lấy Mây.
- Chúng mình đi đi, anh.
Cornaul ngồi hẳn lên:
- Chào buổi sáng! Em ngon giấc không?
- Em ngủ chẳng biết trời đất là gì nữa.
- Và quên cả có anh ở bên cạnh.
- Không phải thế! Anh cứ trêu em!…
Thế dừng lại. Thảo sốt ruột:
- Sau thì thế nào, anh?
- Lúc họ lần tới một chiếc máy bay Đa cô ta bị rơi để tìm thức ăn thì bị bộ đội ta bắt, giải về doanh trại. Trong lán chỉ huy Việt Minh, Cornaul kể về lai lịch và thân phận của mình, anh tìm được sự cảm thông sâu sắc của viên sĩ quan Việt Minh. Nhưng rồi họ vẫn phải chia tay nhau…
Một cánh rừng vắng Một anh bộ đội trẻ đeo súng đi cùng Cornaul tới đầu cánh rừng thì dừng bước. Anh bộ đội: “Ông hãy đến chia tay cô ấy đi”.
Cornaul nhìn thấy Mây đang đứng bồn chồn phía xa xa. Anh chạy nhanh lại, vấp ngã, rồi lại vội đứng lên chạy tiếp. Vừa sát tới Mây, Cornaul ôm chầm lấy Mây.
Anh bộ đội trẻ nhìn thấy cảnh đó, anh mỉm cười lắc đầu nhẹ rồi quay gót rảo bước.
Mây thảng thốt trong vòng tay người yêu, bỗng cô gỡ anh ra.
- Ngượng lắm, có người kìa...
- Anh nghĩ rằng không có một ai đâu.
Mây nhìn quanh. Cornaul cũng nhìn theo cô. Quả không một bóng người, cánh rừng vắng ngắt.
Mây như quỵ người trong vòng tay và cái hôn say đắm của Cornau.
Lán chỉ huy VM, anh bộ đội bước vào, đứng nghiêm: Báo cáo chỉ huy ! Đã đưa họ tới chỗ tập kết. Xin chờ lệnh tiếp theo của đồng chí.
Chỉ huy: Tốt. Đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ, hãy về lán nghỉ.
Anh bộ đội ngỡ ngàng: Thế là sao ạ? Còn họ ? Em chưa hiểu?
Chỉ huy thân tình: Cậu đã yêu bao giờ chưa?
Anh bộ đội gãi tai: Dạ, chưa có điều kiện ạ...
Chỉ huy mỉm cười: Chẳng trách cậu được... Thôi, chiến tranh sắp kết thúc rồi, tôi chỉ khuyên cậu một điều... – im lặng.
Anh bộ đội: Thưa chỉ huy, em nghe đây ạ.
Chỉ huy: Nếu được trở về nhà, cậu hãy tìm ngay một cô gái nào đó để yêu. Sau đó, phải tìm đọc bằng được, dù chỉ một cuốn truyện dịch có đề tên tác giả Vichto Huygô! Đó cũng là một người Pháp.
Anh bộ đội lớ ngớ, bất giác gật đầu lia lịa: Tuân lệnh ! Tuân lệnh thủ trưởng ạ.
Viên chỉ huy quay mặt đi. Trên gương mặt khắc khổ của ông là đôi mắt dịu dàng ươn ướt lệ.
Một cánh rừng vắng Nước mắt Mây tuôn đầm đìa.
- Anh ơi! Em không muốn xa anh đâu !
Cornaul cũng gạt lệ sắp tuôn ra, anh lại ôm chặt lấy cô:
- Anh cũng vậy... Em phải cứng cỏi lên nào... Chúng ta sẽ xa nhau không lâu đâu.
Mây tức tưởi:
- Vì sao em phải xa anh nữa, hết đánh nhau rồi kia mà?
Cornaul vuốt mái tóc cô:
- Có giải thích, em cũng không hiểu nổi. Em chỉ cần biết rằng: Anh sẽ quay lại tìm em... Giờ đây, em là nguồn hy vọng duy nhất, là niềm hạnh phúc duy nhất của anh…
- Em thương anh...
Cornaul giở túi dết ra, đưa cho Mây, giọng nghẹn ngào
- Em hãy tìm đường trở về quê. Trong này có bật lửa và mấy viên đá lửa, con dao, bông băng, thuốc sát trùng, chúng cần thiết cho người đi rừng dài ngày. Em hãy tự bảo vệ mình...
Cornaul ôm chầm lấy Mây. Anh thì thầm:
- Hãy tin vào những điều kỳ diệu... Tạm biệt, thiên thần bé nhỏ của anh...
Mây đi lang thang trong rừng, lúc đó ban vẫn đang nở rộ. Quần áo rách toác, mặt mũi xạm đen, gai cào xước, cô kiệt sức ngồi dựa vào một gốc ban rồi nhìn những cánh ban rụng xung quanh. Mây mở túi dết, lấy ra con dao dă chiến, chặt một gốc vầu tươi múc nước suối, kê mấy hòn đá, vun những chiếc lá khô. Cô nhặt những cánh ban rụng cho vào gốc vầu rồi rút bật lửa. Một ngọn lửa nhỏ bùng lên. Nhìn ngọn lửa liếm quanh ống vầu, Mây chợt bật khóc rưng rức. Mây kêu lên khe khẽ:
- Giờ này anh đang ở đâu? anh ơi !
Trên con đường quốc lộ chiến lược số 6 đầy bụi, hai chiếc xe Cam nhông chở tù binh, hàng binh Pháp phóng nhanh về phía Hà Nội. Trên xe, Cornaul ngồi dựa vào thành xe, anh hình dung lại gương mặt người yêu dấu đang chập chờn ẩn hiện cùng những cánh ban có vệt tím bầm ở giữa, những bước chân đẫm máu tươi đêm xoè ấy... Cornaul rưng rưng khóc, bên cạnh, những người tù binh Pháp lặng lẽ, mỗi người theo đuổi một tâm trạng riêng...
Thảo ngắm nhìn Thế như cô bị thôi miên và cô thôi miên lại anh. “Chúng mình sẽ không bao giờ phải chia tay nhau buồn phát khóc như hai người đó, phải không anh?” Cô chủ động ôm và hôn anh đắm đuối hồi lâu. Bất giác cô cởi dần áo quần mình để “lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe” trước cái nhìn ngỡ ngàng làm bật lên một câu thơ của thi sĩ Hàn Mặc Tử ẩn sâu trong tâm trí anh… Theo bản năng, Thế chợt vùi đầu vào lồng ngực non tơ căng mọng thấp thoáng màu ngà trong ánh trăng cuối tháng, còn Thảo chỉ đợi có vậy, giơ hai cánh tay ôm lấy đầu anh ghì sát thêm vào ngực mình. Họ không nói gì hồi lâu, chỉ lắng nghe tiếng nhịp đập trái tim đang loạn xạ hòa với nhau. Giữa lúc Thế run cả người tựa kẻ bị bùa mê trước tấm thân ngọc ngà và tấm tình trong sạch Thảo dâng hiến cho anh lần đầu, cô lúi húi mở túi xách rồi cầm bàn tay anh đặt vào một chiếc bao cao su. Gì thế em? - Thảo phì cười nhẹ - Ôi, chàng ngốc! Anh không biết thực à? Đồ an toàn cho sinh hoạt nam nữ đó, ở các nước văn minh, bọn trẻ vào cấp ba đã phải học cách sử dụng rồi… Đây là lần thứ hai em dùng đến… Nhưng lần này mới thực sự vì yêu… vì muốn chiều người em yêu… “Cái mặt không chơi được” của Thế có bóng đêm che dấu như bỗng đỏ bừng vì một nỗi xấu hổ kỳ quặc lẫn tự ái, kèm theo một nỗi hoang mang khó tả, thất vọng ngấm ngầm… Như đoán được cảm nghĩ của anh, Thảo giơ bàn tay mát lạnh vuốt má anh như một người chị an ủi cậu em trai bé nhỏ - Anh đừng nghĩ ngợi xa xôi quá làm gì cho mệt óc… Tình yêu thật sự hiếm có lắm anh ơi, vì thế nếu may mắn có được, dù chỉ chốc lát, chúng ta hãy gắng chiếm giữ lấy nó như kỷ vật quý báu một đời… - Thế sửng sốt - Em nói cứ như sắp chia tay anh để đi lấy chồng vậy? - Anh là người thông minh, nhạy cảm. Không nói chắc anh cũng đoán được là bố mẹ em đã “dấm” cho em mấy đám to vật rồi, từ khi em học năm nhất bên kia. Nhưng đời nào em chịu chui vào rọ của ông Bô bà Bô, nhất là khi em đã gặp được người như anh… Tuy thế… Cuộc đời vô thường lắm, chẳng đằng nào mà lần… Cứ biết là lúc này chúng ta yêu nhau, cái gì đến sẽ đến… - Không ngờ em hiện sinh không kém các nhà đẻ ra chủ nghĩa Hiện sinh[34] - Thế cười buồn, và chợt đọc khẽ: Bây giờ gặp mặt đôi ta/ Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao… - Hay thế anh? Thơ ai đấy ạ? - Thơ Kiều của cụ Nguyễn Du đó - Thôi, chiêm bao thì mặc chiêm bao, hiện thực thì kệ hiện thực, chỉ biết là lúc này hai ta có nhau, sống cho nhau, hòa vào nhau, có cụ Nguyễn Du và mảnh trăng kia chứng kiến… - Thảo nói như mê sảng, rồi cô nằm ra tấm nilon, kéo anh nằm theo và ôm riết lấy anh, hai người - một lõa thể toàn phần, một còn “nguyên hộp” - cứ thế lăn lộn một hồi trên tấm nilon, có lúc trật ra bãi cỏ… Khi hai người cùng nằm ngửa song song nhìn lên trời, Thảo hỏi nhẹ: Anh có coi thường em không, anh? - Sao em hỏi vô lý vậy? - Em cứ phòng xa… Về đất nước mình còn nặng nề phong kiến cổ hủ quá, nam nữ bất bình đẳng, người nữ mà chủ động trong chuyện đó sẽ bị coi chẳng ra gì… - Thế bật cười: Vậy thì em cũng cổ hủ không kém - Em cổ hủ cái gì nào? - Vì cứ tranh chủ động, không dành cho anh chút nào…- Em giúp anh chủ động nhé? Đừng sợ, em không ăn thịt anh đâu mà sợ, Thảo nói xong liền ngồi dậy kiên quyết cởi khuy áo của Thế, anh hơi ngượng nghịu một chút rồi tiếp tục làm công việc mà người con trai cần làm, với sự trợ giúp chân thật và tận tình của người con gái thực lòng yêu anh…
Nhưng cũng chính sự thực lòng đó của Thảo đã là một rào cản, là cái “hãm phanh” hiệu nghiệm của Thế giúp anh không bước vào thế giới của bọn Đông Joăng, Sở Khanh - dù chỉ ở vòng ngoài hành động hay chi tiết hành động: Trong lần chia tay vĩnh biệt, cũng ở khu rừng thông nọ, suýt nữa Thế đã bí mật tháo bao cao su ra lúc Thảo đang mê mệt dâng hiến toàn bộ tâm hồn và thể xác cho anh. Song một tình thương bỗng cồn cào trong anh: Nếu cô có thai, cùng với áp lực và những mưu mô lúc cần có sẽ có của anh, cô gái này sẽ thuộc về anh mãi mãi… Nhưng anh có khả năng mang lại cho cô hạnh phúc không, khi anh cướp cô khỏi cái gia đình quyền quý đã đảm bảo cho cô cuộc sống đầy đủ, giữa lúc tương lai của anh mù mịt, chỉ riêng chuyện đỡ đần cho bố mẹ đã vào tuổi về hưu thời vật giá leo thang cũng đủ làm anh hết hơi? Sau nữa, va đập vào thực tế, nếu cô không thay lòng đổi dạ thì có thể sẽ phải âm thầm chịu đựng sự gian khổ mà cô không đáng phải chịu đựng, rồi đi tới “vỡ mộng” cay đắng về một kẻ chỉ giàu khát vọng mà không hề có tiền tài, thế lực, và ít nhiều sự lưu manh có thể bảo vệ, che chắn, nâng đỡ cho hắn ta… Được rồi, anh sẽ từ từ thuyết phục cô, ở cái giai đoạn mà một cô gái chưa hề nếm mùi đói khát túng thiếu nợ nần còn biết quý sách hơn xe đạp, yêu Búp bê hơn Sô cô la, sẽ khó khăn lắm đây, nhưng sau này cô sẽ biết ơn anh… Anh sẽ vỗ về an ủi cô, có thể bắt đầu bằng câu chuyện về cái chết bi thảm của đôi lứa yêu nhau tha thiết trong vở kịch Âm mưu và Tình yêu[35] của nhà soạn kịch Đức vĩ đại Friedrich Schiller: cô con gái một nhạc sĩ nghèo và chàng thiếu tá con Tể tướng phải chết bên nhau bằng thuốc độc vì họ quá ngây thơ trong sạch, giữa một môi trường độc ác, và kết luận rằng: Thời đại của những Âm mưu đẫm máu khủng khiếp kiểu đó qua lâu lắm rồi, và bây giờ, trên thế giới chắc chẳng có nơi nào còn loại người như chàng tình nhân xuất thân tầng lớp quý tộc ấy có thể nói được điều này: “Chỉ tình yêu mới đủ sức làm linh hồn ta trở nên toàn vẹn”…
Còn với mẹ, Thế sẽ giải thích cho mẹ thế nào đây, lẽ nào “con quay búng sẵn trên trời” của cụ Ôn Như Hầu lại rơi trúng vào bà giáo dạy nhạc để lặp lại vòng quay về một lời hứa dạy đàn cho hai công nương thời đại đều đã trở thành trò vui đùa khiến trưởng nam của bà phải cay đắng khóc thầm? Mẹ không thể biết được nguyên cớ của chuyện này, nhưng khi thấy con trai ngừng quan hệ với cô gái mà bà hy vọng sẽ là dâu trưởng, chắc bà sẽ lại tìm cách an ủi con như nhiều năm trước bằng bài hát dân ca Ý cùng đàn đệm của chính bà: Đến bao giờ em mới sang sông tìm anh…
Hàng ngày, Thế và Thảo vẫn trò chuyện bình thường về công việc - nhất là chuyện tập kịch, như không có chuyện gì xảy ra giữa hai người; những lời xì xào đàm tiếu về quan hệ của hai người bắt đầu chìm đi trong những buổi tập kịch sau giờ làm chung và sau ca, rồi chạy vở đến ba lần… Nhưng tới lúc đem duyệt chính thức để ra công diễn, vở kịch đã không lọt qua cửa kiểm duyệt của Đảng ủy Nhà máy, dù Minh là Đảng ủy viên! Ông Linh - Bí thư Đảng ủy, một cựu chiến binh hiền lành vốn thực lòng yêu quý Thế đã gãi đầu gãi tai bảo anh: “Nội dung vở diễn rất hay, rất có ý nghĩa em à! Trước đó, anh đã nhiều lần bênh vực em về nội dung kịch bản, dù có người ấm ức, song đa số cho qua… Nhưng tới khi lên sàn diễn thì thành to chuyện! Nhiều câu thoại lúc đọc thì bình thường, chẳng thấy gì, song diễn viên nói ra thì tác động ghê quá, mạnh mẽ quá, gây sợ hãi, lo lắng! Theo ý kiến của nhiều Đảng viên kỳ cựu, vở kịch khá nhạy cảm, đụng chạm đến chính sách quản lý của Nhà nước, vô tình bôi xấu và hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, lại có ý tôn sùng cá nhân, không có lợi trong hoàn cảnh chính trị phức tạp tại hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa hiện giờ… Em cứ bình tĩnh chờ đợi để sửa chữa, nâng cao tác phẩm, anh tin là tâm huyết của em đối với công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội sẽ có lúc đến được với đông đảo công chúng…”. Ông nói điều này như lời tiên tri về sự sụp đổ của Liên Bang Xô viết và hầu hết các nước Xã hội chủ nghĩa vào đúng hai năm sau[36]! Còn vở kịch bị nhét vào kho “Âm bản” bần tiện của Thế mà phải hơn chục năm sau mới biến thành “Dương bản” trong hình thức bộ phim truyện truyền hình hai tập TẦNG CAO NGHIỆT NGÃ - dĩ nhiên đã bị “cắt gọt” cẩn thận và sáng suốt, qua lưỡi kéo kiểm duyệt nghiệt ngã.
5.
Thế chính thức bước vào ngành nghề anh mơ ước bao năm, sau một cuộc thi tuyển khá quy mô nhân dịp kỷ niệm ngành Điện ảnh Việt Nam ra đời[37]. Cầm quyết định trúng tuyển, Thế đến văn phòng Giám đốc Minh với tâm trạng hồi hộp, băn khoăn, lo lắng. Minh cầm xem tờ quyết định, mặt ông dài ra.
- Tớ biết rồi cậu sẽ đi… Nhưng không ngờ sớm thế! Tớ đang có nhiều ý tưởng phát triển sản phẩm mới, cần đến cậu…
- Nhưng nếu em làm điện ảnh sẽ giúp anh và Nhà máy tốt hơn, nhiều hơn - Thế vội vã - Em biết ơn những ngày tháng ở đây…
Minh xua tay:
- Thôi, cậu khỏi dài dòng… Tớ biết rồi! Giữ cậu ở lại là một điều phí phạm, bởi việc thông tin tuyên truyền, chuyện văn hóa văn nghệ quần chúng không phải là của cậu, nhiều người có thể làm được… Nhưng, dù vở kịch “Tầng cao nghiệt ngã” chưa ra mắt được anh chị em công nhân, thì những điều cậu muốn nói cũng đã phần nào thấm vào tôi, và nhiều cán bộ Nhà máy… Chúng tôi phải biết ơn cậu mới đúng! Hy vọng vở kịch của cậu về nghề bê tông sẽ lên được màn ảnh lớn nhỏ! Chúc cậu chân cứng đá mềm để thành công, và tớ cùng anh chị em Nhà máy sẽ tự hào về cậu…
Buổi chia tay, Minh chiêu đãi Thế bằng bữa tiệc nhỏ có nhiều món Nga và rượu Nga. Khách mời cuộc này có Thảo và hầu hết đội văn nghệ Nhà máy cùng mấy diễn viên chính của vở kịch. Lúc đã có men Vodka ngà ngà, anh diễn viên vai Bí thư Đảng ủy đứng lên đọc câu thoại kịch “Tầng cao nghiệt ngã” mà Thế tâm đắc nhất: “Bê tông khi đã hỏng thì không thể sửa chữa được, bao nhiêu mồ hôi công sức tiền của sẽ phải ném vào cái đống phế phẩm chình ình cuối Nhà máy kia kìa, và không biết làm cách nào cho chúng biến đi để bớt những gánh nặng vô ích cho mặt đất…”.
Một tuần sau, Thế lên Tổ chức Xí nghiệp phim làm thủ tục chuyển ngành, chính thức vào biên chế cơ quan này, nhận chế độ chuyển từ 13,5 kg gạo/tháng sang 24kg gạo/tháng để bắt đầu học nghề và làm nghề. Bác bảo vệ tìm anh nhắn: Ông Hoàng Thân mời anh vào phòng Phó Giám đốc làm việc.
Sau hai năm Thế mới gặp lại “ông Từ giữ Đền Nghệ thuật Điện ảnh”, tóc ông bạc hơn qua nhiều cuộc đấu đá, chỉnh huấn mà ông bao giờ cũng là Trọng tài chính, song ông vẫn giữ được vẻ Tiên phong đạo cốt cần thiết để thực thi sứ mệnh làm “thủ lĩnh” giáo huấn của ông đối với các nghệ sĩ còn tàn dư những tư tưởng bất trị có khả năng gây hiểm nguy cho chế độ…
Ông có một trí nhớ ma quái, khi ông kể lại ấn tượng của ông về hai kịch bản của Thế đã “xi nê mồm” cho ông nghe dạo nào, và ông đã khéo léo tinh tế cho Thế hiểu: việc anh vào được ngành điện ảnh là có tiếng nói góp sức không nhỏ của ông … Thế thoáng nghĩ: may sao trong Ban Giám khảo xét vào đạo diễn không có ông (ông ở Ban Giám khảo biên kịch), và bởi Thế đã liều thi vào ngành đạo diễn, nên anh đã thoát được cặp mắt cú vọ soi mói của ông về “tư tưởng lệch lạc, trệch hướng” mà anh ẩn dấu trong các ý tưởng, các phân đoạn kịch bản văn học chưa kịp trở thành Âm bản!
Vì đã chuẩn bị sẵn tâm thế đón nhận các bài huấn thị về tư tưởng của ông Hoàng Thân nên Thế đã nuốt trôi khá dễ dàng những điều lổn nhổn sống sượng được cóp ra từ các cuốn sách, tài liệu lý luận chính trị mà Thế từng phải nhai suốt thời Đại học, song anh đã toát mồ hôi khi ông nói đến đạo đức của người văn nghệ sĩ thời đại mới. Ông nheo mắt lại vẻ tinh quái nhưng không làm mất đi cái vỏ độ lượng vị tha mà ông đã tạo dựng được:
- Chú hỏi thực nhé: làm sao mà cháu gột sạch được cái án “quan hệ trai gái bất chính” có trong Hồ sơ chuyển vùng từ Tây Bắc?…
Trước một người cầm gươm đầy bản lĩnh bảo vệ Chính thể kiêm mật thám Giave như thế, anh lộ rõ chỉ là một con cừu non. Trước một hệ thống tình báo vi diệu đến thế kiểm soát tâm hồn và hành vi của những con người trong giới nhạy cảm, anh đành cúi đầu tâm phục khẩu phục, và chỉ có mỗi con đường thoát hiểm bằng cách thật thà “xưng tội” hết cho ông:
Vào năm cuối dạy học Tây Bắc, đúng dịp giáp Tết, một cô giáo sinh Sư phạm ôm con nhỏ đến phòng giáo viên tập thể của anh, nước mắt nước mũi chan hòa nhờ anh cứu giúp… Cô lấy chồng năm thứ hai, khi có thai với một thanh niên thị trấn, nhờ Thế cùng cả tập thể giáo viên năn nỉ với Hiệu trưởng và Ban Giám hiệu nên cô mới không bị kỷ luật đuổi khỏi trường, chỉ buộc lưu ban để sinh nở rồi học lại. Trước đó, cô giáo sinh nhí nhảnh xinh xắn này là diễn viên thứ trong một vở kịch về Nguyễn Trãi anh dựng cho trường; cô thường đến phòng anh mượn sách, rủ anh xem phim bãi, mạnh dạn tỏ tình cảm với anh. Mặc dù xung quanh anh lâu nay là cả một “vườn hoa” thiếu nữ tươi tắn, anh luôn cố giữ mình cẩn thận, nhưng cô giáo sinh này nuôi tình cảm quá sâu nặng, ấp ủ hy vọng quá lớn đối với anh giáo trẻ người Thủ đô, nên một kẻ sống thiên vì tình như anh quả thực cũng có đôi lúc “rung rinh”… Song cũng chỉ dừng lại ở vài lần ôm ấp, hôn hít vụng trộm may mà thoát ánh đèn pin của đội Cờ đỏ đi kiểm tra mọi ngóc ngách quanh trường hàng đêm… Có lẽ vì thất vọng với tình cảm của Thế, cô đã quăng mình vào lời tán tỉnh và sự mua chuộc vật chất của Đông, đệ tử ruột của một tay trùm cờ bạc và buôn lậu ma túy vùng đó. Sau khi cưới một tháng, cô đã đến phòng Thế, vạch đùi và giơ hai cánh tay thâm tím tố cáo chồng đánh vì ghen lúc say rượu. “Thầy cẩn thận nhé, thằng chồng khốn nạn của em nó nghi ngờ thầy vẫn qua lại với em, bởi cả trường cả thị trấn đã đồn ầm lên là em và thầy từng có quan hệ khăng khít…” - “Đừng lo em, cây ngay không sợ chết đứng! Với lại trường ta có Bảo vệ…” - “Thầy ơi, thằng này liều lĩnh lắm… Em rất lo”… Buổi cô ôm con đến phòng Thế, nếu ai cạn nghĩ sẽ cho là cô tới ăn vạ, bắt đền, còn đối với Thế, anh chỉ thấy cảm thương và bất lực. “Nó bắt em đưa con về quê Thái Bình ăn Tết, để có thêm người làm cỗ cho nhà nó đến vài chục mâm, mà em thì bị hậu sản chưa hết di chứng, sữa cho con không đủ… Em gần như lạy van nó cho em ở lại ngôi nhà nó xây cuối thị trấn, nó nổi khùng đánh em… Thầy ơi, cứu mẹ con em đi, ít nhất là qua được cái Tết khốn khổ này”. Thế ngậm ngùi: “Đúng lệ, em là dâu, lại là dâu trưởng cần về quê chồng dịp Tết cổ truyền… Nên về đi, gia đình họ thấy cảnh mẹ con em như vậy chắc cũng không ép làm nội trợ nặng nhọc đâu” - “Thầy không rõ thôi: nó là ghen đấy, nó còn ghen với cả những cuốn sách văn học em mang về nhà, nó vứt hết vào bếp rồi… Nó tuyên bố: dù ốm liệt giường mày cũng phải về làm cỗ cho đại gia đình tao như một cách cải tạo lao động, cho chừa cho tiệt cái thói đú đởn văn chương, kịch cọt của thầy trò chúng mày… Em không thể sống được với nó nữa… Em quyết ở lại để có thêm cớ ra Tết ly dị với nó” - Cô khóc hu hu. Anh làm sao chống chọi được với nước mắt ấy. Anh bàn với ông Hiệu trưởng người Thái là nên dành cho cô lánh tạm ở phòng Trạm xá trường mươi ngày. Hiệu trưởng ái ngại nhìn Thế: “Cậu cần thận trọng, chuyện này không đùa được đâu… Cậu sống trên này vài năm đã hút vào người chất “côn Tay” (người Thái) rồi: “Yêu người nào thì muốn bồng muốn cõng người đó trên vai”… Nhưng đấy là văn hóa dân gian Thái, còn ở đời, không khéo thương người vạ đến thân đấy!” Ông vốn thân với nhà văn Lường Vương Trung, và qua “nhà văn lão bản” này - theo cách gọi của dân văn trong trường, ông càng yêu mến quý thương tay giáo viên trẻ biết trân trọng văn hóa quê ông. Ông không ngờ được rằng tay giáo viên “tâm hồn treo ngược trên cành cây” kia chỉ mấy ngày sau đó đã được thể nghiệm cái triết lý đắng ngắt mà ông cảnh báo: “thương người vạ đến thân”!… Nửa đêm hôm ấy, ngôi trường vắng lặng bởi nghỉ Tết chợt ầm ĩ tiếng gào thét, Thế tỉnh giấc thì có tiếng đập cửa phòng anh ầm ầm. Anh mở cửa thì lóa mắt bởi gần chục ánh đuốc của mấy tay thanh niên thị trấn và bản lân cận đang hầm hè, Đông, chồng cô giáo sinh một tay tóm tóc vợ dúi xuống đất sau khi kéo xềnh xệch hai trăm mét, một tay lăm lăm dao nhọn chĩa vào anh lè nhè giọng rượu men lá đến cả lít: “Tao bắt được tổ con chuồn chuồn rồi nhé! Mày tiếp tay cho con vợ hư hỏng của tao, giúp nó chỗ trốn tao ở trường, để hú hí với nhau mấy ngày Tết a? Dễ thế a?” Nói rồi Đông lẳng vợ ra, vung dao lao vào Thế xả mạnh một nhát vào má anh. Cô giáo sinh ôm mặt thét lên kêu cứu. Đông liền túm tóc kéo vợ đi cùng cả bọn bước ra khỏi cổng trường. Thế ôm mặt đầy máu tươi, rồi cố bật đèn, tìm gói thuốc lào anh đang hút dở, dốc ra hết đắp vào vết chém. Sự nhục nhã ê chề lấn át cái đau. Anh chạy đến trạm xá, nơi người con gái đáng thương vừa bị bắt đi, lục lọi bông băng, thuốc sát trùng, chỉ y tế và cắn răng tự khâu vết chém qua gương… Những ngày sau đó, nằm trong Bệnh viên Tỉnh, Thế được mấy học trò thân tới thăm cho biết: Bọn Đông đã tung tin khắp nơi là bắt quả tang tay giáo viên văn và vợ hắn “trai trên gái dưới”, nhưng nhân đạo tha chết, chỉ cảnh cáo bằng một mũi dao rạch khẽ trên má. Ra viện, Thế được mời lên Đồn Công an Tỉnh trình báo. Anh thành thật kể mọi sự tình. Tưởng mọi chuyện sẽ êm xuôi, và người bị hại là Thế không kiện cáo lôi thôi gì. Nhưng anh không hề biết là trong Hồ sơ cán bộ có niêm phong gửi chuyển vùng của anh có “ân huệ” của Đảng ủy kèm theo: đó là một bản “kết án” anh - một giáo viên giỏi về chuyên môn song suy thoái trầm trọng về đạo đức, quan hệ bất chính với phụ nữ đã có chồng… Thế chỉ biết nội dung ấy sau khi một Cán bộ tổ chức Sở Giáo dục Hà Nội gọi anh tới nhà riêng làm việc…
Cả đời Thế phải mang ơn vị Cán bộ này… Ông Nguyễn Hữu Thăng, một nhà giáo lâu năm, vì phổi yếu nên xin chuyển làm văn thư ở Phòng Tổ chức, sau được đưa lên Phó Phòng Tổ chức. Mới đầu, khi có lời nhắn tới nhà riêng Cán bộ Tổ chức, Thế nghi ngờ, rồi anh cũng quyết tâm đến, với chai mật ong rừng và hai gói chè Tô Múa. Lần đầu gặp ông Thăng, Thế đã có cảm giác ông có gì đó gần gũi với gia đình nhà giáo - nghệ sĩ của anh. Nhà giáo nghèo thời hậu bao cấp dường có mẫu số chung trong ăn mặc và ứng xử: đạm bạc, giản dị nhưng luôn chung thủy với phong cách “giấy rách giữ lấy lề”, nói ít nghe nhiều không phải theo lịch sự xã giao mà trong sự cảm thông tận đáy lòng… Ông Thăng giơ hai tay cầm hai gói chè Tô Múa - “món quà nhỏ Tây Bắc” như lời Thế, và bảo anh:
- Cháu ạ, bác xin nhận hai gói chè quý đặc sản Tây Bắc này… Còn chai mật ong, bác không nhận đâu. Qua Hồ sơ Lý lịch cháu, bác biết bố mẹ cháu cũng là nhà giáo nghèo như bác, còn giáo khổ Tây Bắc về xuôi chỉ có mật ong rừng là quý nhất, cháu nên mang biếu người thân cháu…
Thế nì nèo thế nào ông Thăng cũng nhất quyết dúi chai mật ong vào cặp anh:
- Bác hiểu tấm lòng của cháu, thế là đủ. Việc bác mời cháu đến nhà riêng thế này là hãn hữu, và bất đắc dĩ… - Ông mở túi Hồ sơ, rút ra một văn bản đánh máy trang trọng cộp dấu đỏ chót đánh giá về tư cách đạo đức của Thế, đưa cho anh xem xong rồi lấy lại - Lẽ ra bác không nên, không thể làm cái việc vô nguyên tắc này… Nhưng, là một nhà giáo, cũng có con bằng tuổi cháu, bác thấy cái công văn này nhẫn tâm quá… - Nhìn Thế ngơ ngác, ngỡ ngàng, ông mỉm cười buồn - Bác không tin là một thanh niên tốt nghiệp đại học xong tình nguyện lên Tây Bắc công tác 8 năm ròng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục miền núi lại là kẻ đốn mạt phá hoại hạnh phúc gia đình người khác - nhất là với học trò mình - Ông nhìn thẳng vào mắt Thế như để xác minh thêm cho điều mình nói và tiếp tục như tâm sự với bản thân dể trút bỏ nỗi oán hận tích tụ nhiều năm - Thậm chí, nếu có trót vướng vào lưới ái tình vượt pháp luật thì cũng chỉ là kết quả của tình yêu nông nổi tuổi trẻ, dễ được cảm thông, cớ sao lại chụp vào tương lai tuổi trẻ một bản án kinh khủng như vết đen ngòm trong lý lịch thế này khiến người ta không thể ngóc đầu nổi… - Mắt ông Thăng rơm rớm lệ - Mà cái chủ nghĩa Lý lịch kiểu này xưa nay đã hủy hoại biết bao nhân tài của đất nước, phá hỏng bao mơ ước lớn… Trước khi bác quyết định gặp cháu, bác đã gọi điện lên Tây Bắc hỏi những người có uy tín và trách nhiệm trong ngành giáo dục và cả ngành văn hóa nữa, bác được biết cháu là chàng trai có nhiều khát vọng về sân khấu điện ảnh, cháu đã viết và dựng mấy vở kịch ngắn dài cho trường Cao đẳng Sư phạm và trường Phổ thông cấp Ba bên cạnh. Cháu đã dành mấý dịp nghỉ hè để tới nhiều vùng Tây Bắc, tìm đến nhiều nhà nghiên cứu, văn nghệ sĩ địa phương học hỏi về văn hóa Thái, Mông, Dao… Người như cháu sao có thể là kẻ đồi trụy, xấu xa như họ viết trong văn bản này, và… Chắc cháu chưa biết: sau khi cháu rời Tây Bắc, họ đã cho dán mấy phông chữ to tại trụ sở Ủy Ban và Đồn Công an để cảnh báo một kẻ luyến ái bất chính, phá hoại hạnh phúc gia đình… là cháu đó!
Thế trợn tròn mắt kinh ngạc. Lần đầu tiên anh được biết về cái điều nhục nhã riêng tư của anh bị đem ra bêu rếu trước “Thanh thiên bạch nhật” công luận! Và cũng lần đầu tiên trong đời, anh được chứng kiến và được thụ hưởng sự chính trực giàu lòng nhân hậu của một cán bộ Nhà nước đang nắm quyền sinh quyền sát đối với tương lai chính trị - nghề nghiệp lẫn sinh mệnh của anh… Khi ông Thăng cầm tờ công văn ma quỷ kia lên, chậm rãi xé nhỏ nó ra, trước mắt anh, thì anh chợt òa khóc như một đứa trẻ, như kẻ được giải tỏa bao nỗi ấm ức, lo lắng, nghi ngờ, đau đớn, nhục nhằn, và sâu thẳm là một lòng biết ơn… Nhưng mọi lời cám ơn chân thành nhất lúc này là thừa. Anh chỉ có nước mắt ở tuổi 30 long đong lận đận, chân không tới đất cật không đến trời, chưa kịp làm được điều gì ra hồn, có lẽ may mắn được hưởng Phúc Đức của ông nội anh là Đốc học nghiêm minh, của bố mẹ anh là nhà giáo - nghệ sĩ lương thiện nên mới có được sự giúp đỡ che chở của ông giáo già đang hiển hiện trước mắt và trong tâm tưởng anh như một ông Bụt của tuổi thơ…
Ông Thăng im lặng trìu mến nhìn cậu trai, để yên cho cậu ta thổn thức một hồi, khi nguôi đi, ông mới bảo:
- Con trai! Bác thương quý cháu lắm… Nhưng bác làm cái việc tày đình này, trong công vụ gọi là dối trá, hủy tài liệu một cách phi pháp, chỉ vì xuất phát từ sự công chính - nói theo người Công giáo, không muốn cái ác, cái vô tâm, sự vô nhân tính sẽ lên ngôi thống trị xã hội mình… Nhưng cháu cần “sống để dạ chết mang đi”, tuyệt đối không được hé lộ với bất kỳ ai… Nguy hiểm vẫn còn rình rập cháu…
Nghe Thế kể xong đầu đuôi mọi chuyện, ông Hoàng Thân gật gù, và dường như muốn mình không thua kém ông giáo già kia về lòng nhân hậu, ông nhẹ nhàng chân tình bảo Thế:
- Rõ rồi! Vấn đề là cháu đã quá ngây thơ trong đời sống… Giờ đây, bước vào làm một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa nghệ thuật, cháu cần bồi đắp nhiều kiến thức đời sống và nhất là bản lĩnh chính trị… Cháu mà ngây thơ về đời sống thì chỉ bị khán giả quay lưng, còn ngây thơ về chính trị khi làm phim, thì sẽ ngã ngựa không ai cứu nổi, uống sâm quý cũng không lại đâu! Mà này, chú được nghe một thầy Ban Giám khảo tuyển đạo diễn vừa rồi có kể về cháu đấy… - Thế giật mình, ông cười - Ông ấy bảo: Thằng bé ấy nhiều triển vọng lắm, cậu ta đã vượt qua câu hỏi hóc của tôi trong buổi cuối cùng là thi vấn đáp. Tôi hỏi: “Anh đã lập gia đình chưa?” Cậu ta trả lời chưa, thì liền bị tôi “phang” như sau: “Thế thì anh làm đạo diễn thế nào được! Anh làm sao chỉ đạo để diễn tả được chân thực tình cảm của người chồng với vợ, người cha với con, khi chưa từng là một người chủ gia đình?”. Cậu ta suy nghĩ một lát rồi trả lời như một kẻ “thông minh đột xuất”: “Thưa Ban Giám khảo, em chưa có được gia đình riêng khi đã tới tuổi “tam thập nhi lập”, đó là một sự kém cỏi của em, khiến người thân phải thất vọng. Song em thiển nghĩ: đôi khi vốn sống gián tiếp thông qua sách vở và kinh nghiệm của người khác, lại có ý nghĩa hơn, mạnh mẽ hơn kinh nghiệm trực tiếp. Em nhớ ông Lỗ Tấn từng bảo: “Không nhất thiết phải sống trong chảo mỡ mới hiểu được tâm trạng của miếng mỡ rán”, và ông Dostoievsky cũng nói: “Để miêu tả tâm trạng của chàng sinh viên Raskonikov khi giết người thì không cần phải là một kẻ cầm búa giết người”… Thế là tôi và cả Ban Giám khảo bất ngờ vỗ tay - một trường hợp ngoại lệ khá hiếm hoi trong các cuộc thi khắt khe thế này” - Ông Hoàng Thân cười lớ phớ - Được, cháu trả lời khá lắm! Có điều, cháu nên nhớ: vốn sống gián tiếp dù phong phú đến đâu cũng không thể thay thế được cho vốn sống trực tiếp, nhất là vốn sống về cuộc sống chiến đấu và xây dựng gian nan của dân tộc ta…
Thế vội vã tiếp lời ông:
- Vâng ạ, cháu cũng nhớ nhà văn Nga Paustovsky từng nói: “Cuốn sách hay chỉ ra đời như kết quả của một cuộc đời đầy giá trị và sáng tạo”.
Nụ cười khích lệ ban ơn chợt vụt tắt trên môi ông. Thế vỡ lẽ: anh đã phạm sai lầm chết người khi dám đem một thứ lý thuyết không phải của Mác - Lê Nin ra như để thách đố với kinh nghiệm già đời của một nhà biên kịch lão luyện. Ông lấy giọng nghiêm nghị của một “thủ lĩnh” tư tưởng - đạo đức cỡ toàn ngành dạy bảo Thế những điều như tiếng kèn đồng sáng lóa:
- Cháu nên nhớ là từ giờ cháu đã bước vào hàng ngũ sáng tạo quan trọng nhất của nghề làm phim, là biên kịch - đạo diễn, từng lời nói, từng hành vi, từng trang kịch bản, từng cảnh phim đều phải trong sáng như gương không phủ chút bụi của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ; có vậy mới xứng đáng với niềm tin cậy của Nhân dân và Tổ quốc đã trao sứ mệnh cho cháu…
Thực ra, đó chỉ là cái bè trầm cho cái thông điệp mà ông cần dạy dỗ tay đạo diễn trẻ “ngựa non háu đá” này, ông hạ giọng nói kiểu người độ lượng nhưng ngầm cảnh báo:
- Cái án “bút sa gà chết” của cháu coi như đã được xóa, nhưng không có nghĩa là cháu có thể quên đi mà không coi đấy là bài học sinh tử đối với người nghệ sĩ kiểu mới đại diện cho tiếng nói của Đảng… Sai lầm của cháu không chỉ là sự ngây thơ về đời sống mà còn là tàn dư của chủ nghĩa hưởng lạc tồi tệ, sẽ là viên đạn bọc đường gặm nhấm lý tưởng Cách mạng, một khi cháu không chịu khó tu dưỡng đạo đức, không lăn lộn vào đời sống cần lao… Thôi nhé, lời ít ý nhiều, chúc cháu vững mạnh về tâm hồn và tư tưởng để cùng cả Xí nghiệp phim ta trở thành một pháo đài của thành trì Xã hội chủ nghĩa… Bây giờ, chú có hẹn với một nhà biên kịch trẻ vừa được tuyển vào cùng cháu…
Ông ngồi tại chỗ trên ghế bành vươn một tay ra bắt tay Thế. Anh ngây người như một chú lính chì dũng cảm của Andersen giơ cả hai tay ra nắm lấy bàn tay xương xẩu rắn rỏi còn giữ chất nhà nông lam lũ của ông. Phải nói là ông rất thành công khi tạo ra được hình ảnh một vị Thánh sống trong tâm trí tay đạo diễn mới toanh chỉ nhiều kiến thức sách vở mà nghèo nàn về đời sống cùng tâm lý của lớp “Thượng lưu” mới như ông; và lúc đó nếu ai nói cho Thế hay: chỉ ngót mười năm sau buổi thuyết trình đạo đức long trọng đó, ông đã rời bỏ gia đình để sống lâu dài trong biệt thự của một người phụ nữ giàu có xinh đẹp trên Quảng Ninh, thì anh chắc sẽ nổi cáu và mắng rằng: thực là sự vu khống bịa đặt xấu xa…
Sau lúc vinh dự được chỉnh huấn tư tưởng - đạo đức chính thức đó, Thế liền tới ngôi nhà tập thể thể bên Hồ Tây tìm nhà biên kịch người Thái họ Cầm, với một chai rượu Thổ Hà nút lá anh chuẩn bị trước từ nhà để nhận “họ hàng” Tây Bắc. Anh đặt chai rượu đặt trước mặt ông: "Tây Bắc là quê hương thứ hai của em. Xin ra mắt đàn anh!". Cầm Kỳ tròn xoe mắt nhìn Thế từ đầu tới chân rồi reo lên: "Hay quá, tớ đang cô độc đây!". Lúc đó, tên tuổi ông đã vang danh với các kịch bản được dựng thành phim có nhiều người xem hâm mộ, đoạt cả giải Quốc tế: Hai người mẹ, Chom và Sa[38], Lưu lạc, Trở về Sam Sao. Thế được ông coi là người bạn vong niên tri kỷ, trước hết là bởi từng có một phần tuổi trẻ gắn bó với quê hương ông và đã kịp yêu quý nó. Ông hỏi Thế rất nhiều về những ghi chép, truyện ngắn, ý tưởng kịch của anh về dân tộc Thái Tây Bắc, về Nhà tù Sơn La… Ông khoe: ông đang viết một kịch bản về cuộc vượt rừng nổi tiếng của các tù chính trị số vuông1[39] ở Ngục đá Sơn La, do một người thanh niên yêu nước người Thái dẫn đường, và hồ hởi: “Nhất định tớ sẽ đề nghị với Ban Giám đốc chỉ giao kịch bản này cho cậu làm đạo diễn! Tớ chờ bằng tốt nghiệp đạo diễn xuất sắc của cậu!”.
6.
Như tất cả sinh viên đạo diễn điện ảnh các nước, bọn Thế phải vào nghề bằng một bộ phim câm (không phải là phim câm của thời điện ảnh chưa có tiếng cần có bảng phụ đề nên có thể gọi là “phim điếc”), mà là phim không cần một câu thoại nào, chỉ qua hành động nhân vật, chi tiết đời sống kể lại một câu chuyện bằng hình ảnh.
Phim này của Thế được quay bằng 1.000 mét phim ORWO NP55 đen trắng, do Xí nghiệp phim truyện cung cấp và cho làm hậu kỳ tại cơ quan (in tráng négatif và positif, dựng phim, làm bản đầu); người quay phim là một sinh viên khoa quay phim Đại học SK-ĐA Hà Nội năm cuối, coi như làm phim tốt nghiệp luôn.
Đọc xong bản phân cảnh quay của Thế trình, thầy Đắc chủ nhiệm Khóa - Phó Giám đốc Xí nghiệp phim đã ký ngay: “Đồng ý cho vào quay!”. Câu chuyện phim như sau: Cảnh phim đầu tiên là vòi nước hỏng chảy không một lúc, sau đó thấy bàn tay của một thiếu nhi nút vòi nước lại bằng nút tự làm, nút xong cô bé đứng dậy nhìn máy nước, rồi rời xa ống kính. Máy lia toàn cô bé đi từ bên kia đường sang, ngồi xuống một gốc cây, nhìn băng đỏ trên tay mình rồi nhìn sang bên kia đường. Một người đàn bà đang rửa rau ở máy nước, rửa xong cầm nút lên nút vội rồi quay ra xe đạp. Nút tuột, nước máy chảy. Người đàn bà đã lên xe, quay lại nhìn một thoáng lưỡng lự rồi đạp đi. Cô bé nhìn bực tức, chạy sang buộc dây vào nút rồi buộc vào cổ máy nước. Lúc đó, một người đàn ông say rượu đi từ bên kia đường sang, cô bé nhìn thấy vội vàng nút lại máy nước rồi chạy khỏi máy. Người đàn ông đổ nước xối xả vào đầu một lúc rồi đi, cô bé nhìn thông cảm, lúc đó, một bà to béo ôm con tới rửa ráy cho con ở máy nước, rồi cứ thế bế con đi mặc nước chảy không. Cô bé ngạc nhiên, bực bội định chạy tới máy nước thì có một cô gái đến rửa chân kỹ lưỡng, nước xối xả, sau đó hứng đầy một xô nước rồi xác xô đi, mặc nước chảy. Cô bé chạy đuổi theo cô gái, giật xô nước lại. Cô ta đặt phịch xô nước xuống, chống nạnh nhìn, cô bé sợ hãi lùi lại. Cô bé quay về máy nước nút lại máy nước, rồi bước sang bên kia đường, ngồi đọc sách dưới một gốc cây, thỉnh thoảng nhìn sang. Một anh thanh niên đeo kính cận cắp nách một cuốn sách dày đi tới máy, đặt sách chỗ khô ráo rồi gỡ kính rửa mặt. Cô bé không nhìn anh ta nữa, cúi xuống đọc sách, một lúc nhìn sang thì thấy vòi nước chảy không, em tức tối chạy đến máy nút lại. Anh thanh niên cận đi một quãng thấy thế có vẻ ngượng, quay lại đặt tay lên vai cô bé, em gạt tay anh ra rồi rời máy nước sang bên kia đường. Anh thanh niên cận nhìn theo em. Cô bé đang nhảy lò cò trên vỉa hè, chợt thấy một đôi nam nữ thanh niên dừng xe lại, anh thanh niên cúi xuống sửa xích xe. Cô gái tay ôm một bó hoa đồng tiền, thấy em bé, mỉm cười rồi đưa cho em một bông hoa. Sau đó, đôi nam nữ rửa chân tay ở vòi nước, hắt nước vào nhau đùa nghịch. Cô bé nhìn và cười thích thú. Rồi đôi nam nữ rời đi, để vòi nước chảy không, Cô bé nhìn ngơ ngác như không tin đó là sự thực, rồi buồn bã bước sang đường tới vòi nước. Chợt một tia nước phụt vào người em. Ba đứa trẻ, đứa cởi trần đứa mặc may ô nghịch bên máy nước tiếp tục phụt nước vào người cô bé. Em cầm còi thổi. Bọn trẻ trai vẫn tiếp tục đùa nghịch, tháo nút gỗ ra tung hứng cho nhau. Cô bé lại cầm còi thổi, một tia nước phụt vào tay áo em, em nhìn xuống băng đỏ. Ba đứa trẻ chơi chán bỏ đi, giơ nắm đấm về phía cô bé. Em chạy tới máy nước, loay hoay tìm nút không thấy, lại tìm giẻ để nút máy lại, vẻ bực tức cao độ. Bông hoa đồng tiền rơi trơ trọi dưới máy nước. Giẻ bỗng tuột ra, nước chảy tung tóe làm trôi bông hoa đi ra cống. Cô bé ấm ức muốn khóc, sau đó chạy đến gốc cây bên đường, cầm sách lên rồi lại quẳng sang bên. Em giơ hai tay ra sau gáy, ngả đầu vào gốc cây. Bầu trời trong xanh qua những vòm lá phượng vĩ. Cô bé dần ngủ ngồi thiếp đi bên gốc cây. Bàn tay cô giáo cầm giẻ nút lại máy nước, ghi gì đó vào sổ tay rồi nhìn quanh như tìm ai đó. Chuyển sang lớp học, ánh mắt cô giáo nhìn nghiêm khắc. Cô bé đứng trước cô giáo vẻ muốn thanh minh nhưng chưa biết thanh minh ra sao. Cô giáo nhìn em, rồi cúi xuống bàn viết, sau đó đưa cuốn “Sổ liên lạc Gia đình - Nhà trường” cho em. Cô bé cầm sổ cúi đọc trang “Hoạt động cờ đỏ”: chữ “Loại kém” và chữ ký của cô giáo. Em từ từ ngẩng mặt lên. Nước mắt lặng lẽ chảy ra. Học sinh ùa ra khỏi lớp. Cô bé bước ra sau cùng. Sân trường vắng tanh, ngập đầy lá bàng rụng. Cô bé đi trên sân trường, cô độc, ra phía cổng trường. Tên phim xuất hiện: LOẠI KÉM. Tên sinh viên đạo diễn - Tên sinh viên quay phim - Tên diễn viên chính.
Phim vào nghề của Thế được đánh gía rất cao trong buổi chiếu phim câm báo cáo tốt nghiệp đạo diễn tại Cục Điện ảnh (Mấy năm sau Thế được bạn đồng nghiệp thân cho biết: có một đạo diễn phim trẻ chẳng biết bằng cách nào đã lấy cắp cả bản Pô đầu lẫn bản Nê dựng của phim này mang sang Cộng hòa Dân chủ Đức, thay tên đạo diễn hình như để tham gia một Festival Film sinh viên nào đó…).
Trong buổi giảng đầu tiên, thầy Đắc đã nói với các “tân đạo diễn”: “Bước vào nghề chúng ta, có một cái tên mà các em cần ghi nhớ, đó là King Vidor - đạo diễn, nhà sản xuất phim và biên kịch người Mỹ, người có sự nghiệp làm phim kéo dài gần 70 năm qua cả thời kỳ phim câm và phim có tiếng. Ông không có thời gian và điều kiện để học đại học, ở tuổi 16, vì mưu sinh ông phải bỏ học trường trung học để làm nhân viên bán vé và chiếu phim tại rạp chiếu phim giá rẻ, đó là cơ hội quý đốt lên niềm đam mê điện ảnh trong ông, và ông trở thành một nhà quay phim thời sự nghiệp dư năm 18 tuổi. Khi được các hãng sản xuất giao kinh phí lớn để làm phim, ông đã là một đạo diễn tác giả[40] và thường xuyên phá bỏ các quy ước làm phim để tìm cách thể hiện mới. Có một điều mang đậm đặc trưng của Vidor là ông thường sử dụng thiên nhiên như một biểu tượng và làm nền cho xung đột của tâm lý con người, tiêu biểu là phim Wild Oranges (Quả cam dại) quay năm 1924: một thanh niên địa phương đã ép một cô gái phải hôn anh ta bằng cách đưa cô ta đứng trên một thanh gỗ giữa đầm, xung quanh là các con cá sấu đói há miệng chờ chực con mồi rơi xuống nước; vì sợ hãi, cô gái đành đồng ý cho anh ta hôn má, dù ghê sợ anh ta như sợ cá sấu: người xem có thể cảm nhận cái thiên nhiên trong môi trường ấy mang tính cách thú dữ in dấu vào từ con người tới động vật, và điều đó góp phần lý giải các xung đột đẫm máu trong bộ phim…
Ông giở sổ tay ra: “Hồi học bên VGIK[41], qua chuyên gia, tôi đã ghi chép những lời của đạo diễn King Vidor, đây là câu các em nên ghi nhớ: “Tôi tin vào sức mạnh của điện ảnh trong việc truyền tải thông điệp đến nhân loại. Tôi tin vào bức tranh điện ảnh sẽ giúp nhân loại giải thoát khỏi xiềng xích của nỗi sợ hãi và đau khổ đã trói buộc họ bấy lâu nay”.
Những giờ giảng về đạo diễn của thầy Đắc đối với những người từng tốt nghiệp đại học từ ngành khác chuyển sang thực sự quý báu - ở đó có những lý thuyết điện ảnh của Thế giới được tổng kết vừa xúc tích vừa cặn kẽ; có những kinh nghiệm xương máu của nhiều năm làm phim; có những trường đoạn phim, chi tiết phim kinh điển được miêu tả lại thông qua lăng kính của một nghệ sĩ bậc thầy và sự phân tích của một nhà sư phạm tài hoa; có sự nghiêm khắc của một người thợ cả - và trên hết, có tấm lòng của một người thầy tận tụy, quyết chí truyền nghề cho lớp hậu sinh với tất cả niềm mê say không vẩn chút vụ lợi… Nhưng đâu phải chỉ là nghề nghiệp với những quy luật nghiệt ngã của nó! Thầy Đắc - với sự minh mẫn và từng trải, không phải chỉ một lần đã mở mắt cho những “chú ngựa non háu đá” - những đạo diễn trẻ tương lai thấy rằng: ở trong sân nghề, những ngón kỹ thuật thuần túy cùng mọi trò láu cá vụn vặt chỉ có thể nhất thời đánh lừa được đồng nghiệp rồi sau đó là khán giả, nhưng không bao giờ có thể thay thế được cho một trái tim biết rung cảm thật sự, biết và khao khát hướng tới những vấn đề đang làm đau đáu tâm trí hàng triệu người. Ông không phải là nhà duy mỹ, duy cảm, càng không phải là nhà đạo đức học. Song cái thở dài và cái lắc đầu buồn bã của ông trước mỗi điều gì liên quan đến sự tham lam, đố kỵ, hẹp hòi, thiển cận của một ai đó trong ngành (hay ngoài ngành) đã tác động mạnh đến Thế như đứng trước một tấm gương có ánh sáng phản chiếu của đèn vạn Wát trường quay! Xông xáo, năng nổ, quyết đoán và chính xác, ông đã làm cho những học trò được ông đưa theo đoàn phim với tư cách trợ lý hay phó đạo diễn phải toát mồ hôi cũng chưa thực hiện được trọn vẹn yêu cầu của đạo diễn chính! Nhưng ở cương vị nhà sư phạm và học giả, ông lại làm cho bọn Thế ngỡ ngàng, háo hức mê say, trước cánh cửa bí mật dẫn đến ngôi đền thiêng Điện ảnh hoặc trong “căn phòng bếp núc” bừa bộn của nghề nghiệp đạo diễn. Thế thường tự hỏi: Cái gì đã gắn kết một cách kỳ lạ ở trong ông những điều tưởng chừng trái ngược nhau: uyên bác về tri thức điện ảnh và lòng say đắm trong việc sáng tạo các bộ phim truyện; ôn hòa, tỉnh táo, bình tĩnh nhưng cũng biết đau buồn thậm chí phẫn nộ trước thói đời tiểu nhân bạc ác - nhất là khi nó lại ở trong một kẻ nào đó mang danh “nghệ sĩ” hoặc "quan chức nghệ sĩ"! Tỉ mỉ và khắt khe trong công việc nhưng giản dị xuề xòa trong những mối quan hệ xã giao rắc rối; con người bộc trực, cương nghị, ghét sự xu nịnh và thói khiêm tốn giả vờ ấy lại ưa thích sự tĩnh lặng, cô đơn… Con người nghệ sĩ và nhà sư phạm trong ông là một sự kết hợp hài hòa, tốt đẹp, có lẽ, bởi trước hết ông có một tấm lòng nhân hậu rộng lớn mà chắc phải nhiều năm sau Thế mới thật thấu hiểu. Nhưng anh đã chợt nhận ra điều ấy ở cặp mắt nghiêm nghị song không giấu được vẻ hiền từ độ lượng của ông trong các giờ giảng, các buổi hướng dẫn thực tập quay phim hoặc trong cái nắng gay gắt của tiến độ sản xuất phim…
Không bao giờ Thế có thể quên được cặp mắt đỏ hoe rớm lệ của ông trong buổi liên hoan kết thúc Khóa học… Trước các học trò đạo diễn của khóa Đại học tu nghiệp đầu tiên và cũng là cuối cùng của nền điện ảnh Việt, ông đã bộc lộ nhiều ý nghĩ riêng tư mà chắc chưa bao giờ ông có dịp: ông nói rằng, ông không có con, vì thế, những tác phẩm điện ảnh chính là con ông, và trong thâm tâm, ông muốn đối xử với những học trò của mình như tình cha con… Ông nói về con đường chông gai đầy thử thách khắc nghiệt mà bọn Thế đã lựa chọn, về những phẩm chất cần có của một người nghệ sĩ điện ảnh. Ông cũng đã nhìn thấy trước rằng, hư danh và lợi lộc sẽ đón đường những người đạo diễn trẻ và rất có thể một ai đó không chịu giữ mình, không chịu tu dưỡng nghề nghiệp sẽ bị chúng quật ngã rồi tóm cổ ném ra ngoài… Sự cần thiết phải khiêm tốn trọng thị học hỏi cũng là một bài học lớn ông đem đến cho Thế và các đồng môn. Ông đã cho sinh viên thực tập nghề đi theo đoàn phim với tư cách phó đạo diễn, trợ lý đạo diễn, và ông lắng nghe chăm chú những ý kiến đóng góp của mỗi học trò trước cũng như sau mỗi cảnh quay. Trong giai đoạn làm phim "Thời hiện tại", khi đã quay xong đoạn kết, ông triệu tập mấy học trò lại và bảo: "Tôi thấy chưa hài lòng lắm với đoạn kết, các cậu thử đề xuất xem nên ra sao - với cách nhìn cách cảm mới mẻ hơn của các cậu?". Riêng Thế, ngay trong đêm đó đã thao thức với cái kết phim để sáng hôm sau trình thầy. Ông trầm ngâm: "Cũng khá độc đáo đấy. Nhưng với cái kết này, tôi phải cho quay lại rất nhiều đoạn trước, thay đổi kết cấu phim, và cũng thay đổi cả chủ đề tư tưởng mà kịch bản đã được duyệt... Cậu hẵng để dành cho một phim nào đó của cậu!". Tuy ông không sử dụng bất cứ cái kết nào của học trò, nhưng tất cả đều hiểu, đó cũng là một cách ông dạy học trò về sự suy nghĩ sáng tạo độc lập trong làm phim, và hơn thế - cách biết chịu khó nghe người khác góp ý, phản biện...
Những ngày hành nghề & học nghề với chức danh phó đạo diễn cho phim của giảng viên chủ nhiệm - đạo diễn Đắc, Thế còn có một hành động bất ngờ ra khỏi nghề nghiệp khi một sự kiện kinh hoàng diễn ra tại phim trường mà lịch sử Điện ảnh thế giới có lẽ chưa từng biết đến: Tại bối cảnh ngoại cầu Mai Lĩnh, một chiếc quạt khổng lồ tạo gió làm từ động cơ máy bay đang hoạt động, thì một cậu trợ lý thuộc lớp đạo diễn khác (cũng do đạo diễn Đắc phụ trách chuyên môn) đã tự động nhảy lên bục quạt gió, hua chân múa tay chỉ đạo khối diễn viên quần chúng mấy trăm người đang vào cảnh diễn lễ Hội ngày mưa bão. Bất ngờ, tay cậu ta đã bị cánh quạt chém đứt mấy ngón và ôm tay ngã gục lăn xuống đất - may mà cánh tay cậu ta vung theo chiều quay của quạt, nếu không cả cánh tay thậm chí toàn bộ thân người sẽ bị cuốn theo! Mấy cô diễn viên bưng mặt khóc thét. Cả đoàn phim sững sờ ngây dại chưa biết làm gì. Lúc đó, không hiểu sao Thế bình tĩnh đến kỳ lạ, anh nén nỗi đau cho bạn nghề, chạy đến bãi đất đặt quạt gió và căng mắt tìm cho đủ mấy ngón tay đứt rời, nhặt một chiếc túi ni lông nhỏ lăn lóc phủi bụi cho sạch rồi cho mấy ngón tay vào đó buộc thắt nút; rồi anh chạy ra giữa cầu giơ tay chặn một chiếc xe tải, gọi mọi người dìu nạn nhân lên xe và gửi gắm tài xế cả túi ni lông tới bệnh viện gần nhất là Bệnh viện quân đội 103, không quên dúi vào tay anh tài xế mớ tiền mà anh vừa vội vét sạch trong túi. Đoàn làm phim vẫn tiếp tục tiến độ quay như không có chuyện gì xảy ra. Nhưng sự việc diễn ra nhanh như một cuốn phim câm ngắn đó không lọt bất kỳ chi tiết nào qua mắt đạo diễn - giảng sư Đắc. Mấy hôm sau, Thế đến nhà đạo diễn Đắc để nhận lệnh chuẩn bị cho các cảnh quay hôm sau, đồng thời báo cáo với ông về tình trạng nạn nhân đã ổn nhờ kịp thời xử lý tai nạn, ông mỉm cười vỗ vai Thế một cách thân thiết: “Cám ơn em đã nhanh chóng cứu bạn và cũng cứu cho cả đoàn phim ta… Lại cứu cho danh dự của tôi khỏi bị bôi nhọ từ một số người ác ý nhỏ nhen, kiểu: ông đạo diễn Phó giám đốc nghệ thuật Hãng đem học trò ra làm vật thí nghiệm… Còn em, sự bình tĩnh và kinh nghiệm ứng phó nhanh như vậy sẽ rất cần thiết trong đời làm phim đầy gian nan, bất trắc, cả nguy hiểm nữa chờ đợi…”.
Trong thời kỳ làm phim này, hết giờ quay Thế lại mò vào chơi với lớp Cao học ở Khu nhà 7 trong Đại học Sư phạm Hà Nội đến khuya, có hôm ngủ lại rồi sớm hôm sau tới thẳng trường quay. Dân Cao học vốn được công chúng “ăn sư ở phạm” mệnh danh bằng câu đố vui: Xào xào nấu nấu/ Mặt xấu như ma/ Là cái con gì?/ Là dân cao học… Lớp Cao học này không có bạn học cũ cùng lớp văn khoa của Thế, mà toàn là ở lớp trên và lớp sau, nhưng đều ôm mộng văn chương kịch cọt - trong đó mấy người thân thiết, đặc biệt là Bình và Phúc. Hồi ở Tây Bắc, hai tên “giáo khổ” dạy văn Phúc - Thế có dịp hè đã rủ nhau lang thang tới tận thượng nguồn sông Mã, nơi hoang vu xa xôi nhất của tỉnh Sơn La, nơi dấu chân hổ chân voi còn mới, và dấu vết voi từ Lào sang liếm chất muối làm vẹt núi; hai kẻ lãng tử theo chân một nhà thơ dân gian người Thái thăm quê hương Mường Và - Sốp Cộp của ông và ngắm hoa Ban nguyên sơ chưa bị đốn chặt phải chạy trốn lên núi cao…
Nhiều đêm trên một chiếc giường tầng của phòng dành cho dân Cao học, Thế sau khi nghe thơ các bạn đã “xi nê mồm” về bộ phim anh đang tham gia, và một số ý tưởng điện ảnh mới nảy sinh - trong đó có ý tưởng về vụ án Lệ Chi Viên từ vở kịch Sao Khuê sáng mãi, vở kịch do Phúc cùng Thế viết rồi dựng cho thầy trò trường Sư phạm và dân Thị trấn xem gần hai giờ không một ai bỏ về… Có một đại cảnh quay ở Bắc Ninh tái hiện lễ hội Bà Chúa Mía, Thế đã nhờ dân Cao học liên hệ với mấy lớp sinh viên ở cùng Khu nhà 7 làm diễn viên quần chúng, và thi sĩ Cao học Thế Hoàng đã tình nguyện vào vai phụ có thoại là ông thầy bói, mà sau này anh sẽ ghi trong lý lịch là “Làm diễn viên điện ảnh”! Lúc đó Thế Hoàng có cuốn tiểu thuyết đầu tay viết về giới sống “ngoài vòng pháp luật” ở vùng hồ Yên Bình - Thác Bà, Thế đã chuyển thể thành kịch bản điện ảnh NỖI BUỒN CỦA QUỶ NƯỚC. Song không được các Hãng phim mặn mà, anh bèn chuyển thể thành phim truyện truyền hình hai tập, giao cho anh bạn đạo diễn của Đài PTTH Hà Nội thực hiện, còn NỖI BUỒN CỦA QUỶ NƯỚC vẫn còn là Âm bản chưa biết đến khi nào…
Sau đợt quay đại cảnh phim đó, Thế Hoàng trở về quê hương của anh mà anh gọi là “Xứ Mưa”, bỏ dạy học làm báo và viết tới chục cuốn tiểu thuyết dày cộp; Bình lên Khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Xuân Hòa làm giảng viên môn văn học Việt Nam hiện đại, một năm sau sẽ là “ông mối” của Thế; còn Phúc thi đỗ lớp tuyển sang học tại Học viện Gorki - Liên Xô, và từ đó rời xa đất nước ba chục năm trời, mang theo cả ý tưởng của hai kẻ ôm mộng kịch sĩ về “tấn thảm kịch của một vĩ nhân sống trong một xã hội quá ư bé nhỏ” (Yveline Féray) là Nguyễn Trãi sang đến tận một phần tư thế kỷ sau mà vẫn chưa thể tìm cách biến thành Dương bản điện ảnh…
7.
Người thầy đầu tiên[42] của Thế khi anh chính thức làm nghề tại Xí nghiêp phim truyện (sau chuyển thành Hãng) có thể nói là đạo diễn Thái, anh được giao làm phó đạo diễn cho ông trong phim Sau cánh cửa.
Thông thường, kẻ chân ướt chân ráo bước vào một nghề nghiệp xa lạ và khó khăn như làm phim truyện nhựa thì rất hay mặc cảm, lại hàng ngày ngồi hàng nước cơ quan đợi việc nghe kể về những ông đạo diễn chính oai phong quyền thế khét lẹt trong một đoàn làm phim, thì Thế e dè nơm nớp. Nhưng buổi tiếp xúc đầu tiên với đạo diễn Thái để ông giao việc, anh thấy ngay cái ấn tượng trên là phí lý, ngớ ngẩn, nhất là đối với một ông đạo diễn còn mang nhiều bóng dáng của các vai diễn điện ảnh - đặc biệt là vai anh Dậu trong phim "Chị Dậu"… Ông xử sự rất bình dân, mày tao chi tớ thân mật và bỗ bã với kẻ đang đi theo phục dịch ông với tư cách phó đạo diễn - tức là “đầu chày đít thớt” trong một đoàn làm phim. Khi Thế báo cáo với ông về kế hoạch công việc, sau khi nghiên cứu kịch bản phân cảnh đã cộp dấu vào sản xuất: “Thưa thầy…”, ông phẩy tay: “Thầy bà quái gì, chú mày! Tao cũng là kẻ phải đi học nghề chán chê nữa đây! Còn mày là dân văn vào, tao cũng phải học mày đấy, vốn văn chương tao ít lắm, nghe chửa?”
Thế yêu quý, kính trọng ông ngay từ buổi ấy. Và những đòi hỏi khắt khe về kỷ luật & tiến độ sản xuất phim trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều đối với một kẻ vốn mơ mộng, quen vùi đầu trong sách vở; và có lần đến chậm hơn đạo diễn chính tại hiện trường quay, không theo như quy định là phải đến trước nửa giờ, anh đã cảm thấy rất xấu hổ. Nhưng khi lắp bắp xin lỗi ông, thì ông cười xòa: “Thôi mà, vào nghề tao cũng đã bị mắng mỏ nhiều lắm rồi…” Anh đã được học nghề của “thầy cả” Thái - điều quan trọng nhất chưa phải là mi-zăng-sen, cách làm việc với máy quay, với diễn viên, mà là ứng xử đầy tình người của ông đối với anh em trong đoàn làm phim - từ thành phần sáng tạo tới nhân viên lao công…
Làm phó, Thế phải đi tìm diễn viên, và khi anh đưa anh bạn là Hà Sơn - một diễn viên sân khấu tới Xí nghiệp để chụp ảnh thử vai, thì vẻ trong sáng hào hoa của một chàng thanh niên điển trai Hà thành gốc đã chinh phục được ngay đạo diễn Thái và các thành phần đoàn làm phim! Trong giai đoạn quay, vì tôn trọng sự khiêm nhường, “biết người biết của” mà đạo diễn chính bộc lộ một cách chân thành, nên Thế đã cố gắng giữ thể diện cho ông mỗi khi cần góp ý về cảnh quay - nhất là thoại của nhân vật: anh nhỏ tai nhà quay phim Đan, để ông Đan nói lại với ông Thái mà cả đoàn phim không biết sự tham góp chuẩn ấy chính là của tay phó…
Vài chục năm sau Thế sẽ gặp lại ông trong đoàn Thiếu sinh quân tới thăm Thầy cũ - nhạc sĩ Phạm Tuyên, anh thấy lòng nhân hậu ở ông vẫn nguyên vẹn như xưa và tới lúc đó như được tỏa rạng thêm trên mái đầu bạc trắng giống vị Tiên ông…
Song ở mảnh đất điện ảnh đầu tiên đó của Thế, người có ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với anh và để lại ấn tượng khó quên tới nhiều năm sau lại là đạo diễn Đỗ. Ông tỏ ra đặc biệt quý Thế - thằng em “lính mới tò te” vào nghề đạo diễn còn nặng “đuôi” văn chương, ham tìm học hỏi các đàn anh trong nghề. Ông vóc người tầm thước, đôi mắt mơ màng có chút riễu cợt sau cặp kính trắng, mái tóc bồng bềnh đầy chất lãng tử với chòm râu như nhân vật hoàng thân Mưskin trong phim Thằng ngốc[43] quay theo tiểu thuyết cùng tên của ông già Đốt người Nga (F. Dostoievsky)… Ông đã mời Thế về nhà ông, căn nhà đối diện vườn hoa Hàng Đậu, được trò chuyện với người vợ tần tảo của ông - một nghệ sĩ chơi Flute, và cô con gái nhỏ yêu văn của ông. Có thể thấy rõ, ông là một người sống chết vì nghệ thuật điện ảnh, lúc nào cũng bứt rứt, khát vọng làm được những bộ phim đúng theo ý mình; đi đâu, gặp ai, ông cũng đều say sưa kể về những ý tưởng các bộ phim mình sẽ làm… Có lần, Thế đã “chịu trận” ngồi nghe ông “xi-nê mồm” ý tưởng phim về Thánh Thơ Cao Bá Quát từ chập tối tới khuya, để cùng ông thấm thía cay đắng rằng: ý tưởng này cùng nhiều ý tưởng nào khác có liên quan tới sự “thao thức”, “quẫy đạp”, “phá vỡ”, “tìm tòi” đều là sự “cấm kỵ” tuyệt đối trong lòng nền nghệ thuật Hiện thực xã hội chủ nghĩa!
Chàng trai Hà Nội, anh bộ đội cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp sau khi tốt nghiệp khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tìm đến nghệ thuật thứ bảy, rồi chàng cựu chiến binh được gửi sang Bungari học nghề đạo diễn điện ảnh. Khi Thế bắt đầu hành nghề trên cương vị phó đạo diễn vào cuối những năm 80, ông đã nổi danh là đạo diễn sung sức với vài bộ phim do ông đạo diễn và viết kịch bản, song như ông nói với Thế: Đó chỉ là những bản nháp của ông, những Dương bản hời hợt chưa thể hiện được một phần mười những điều ông ấp ủ… Song, viết và làm phim đối với Đỗ đã là cách duy nhất, tốt nhất để ông và gia đình nhỏ của ông vượt qua những đoạn trường khổ ải của cả đất nước một thời ngăn sông cấm chợ, Giá - Lương - Tiền chao đảo, khi mà dường như có rất ít cách lương thiện để mưu sinh…
Ở cơ quan mới, bài học nghề “vỡ lòng” thật sự đối với Thế là một lần đạo diễn Đỗ gặp anh từ cổng Xưởng phim ra, ông lặng lẽ dắt tay Thế quay trở lại đến trước một căn phòng: “Em cần biết về cái Phòng này, nó ít người, song có vai trò chức năng cực kỳ quan trọng, và có quyền sinh quyền sát với mọi sinh mệnh điện ảnh tương lai…”.
Sau đó, trong quán nước, và ở nhà riêng, ông cho Thế biết về cái phòng được gọi là Phòng Biên tập: “Đó là nơi không ít những sáng tác mới chưa kịp thành âm bản đã chết yểu, nơi bóp chết không ít tài năng vừa nhú mầm, nơi ban phát bổng lộc và trừng phạt theo kiểu đền ơn trả nghĩa và ném đá giấu tay, nơi một kẻ làm Trưởng phòng đi học Nga bốn năm về không phát âm nổi đúng từ pagialuixta (không có chi, xin mời) lại có quyền hành ngang Thượng đế trước những tác giả hiền lành chỉ biết có chữ nghĩa và biến họ thành những kẻ nô lệ ngoan ngoãn…”. Thế băn khoăn: “Em không tin nổi… Hóa ra, sáng tác kịch bản được đánh gía và chọn lựa không phải do giá trị của bản thân nó mà là do sở thích, ý đồ riêng của người có năng lực hạn chế nhưng lại được trao quyền phán xét?” - Ông Đỗ cười ầm lên - “Ôi chú em ngây thơ quá! Vừa thấy em buổi đầu, anh đã thấy em nhất định sẽ là nạn nhân tương lai của cái lò bát quái sẵn sàng nghiền nát, chia cắt, thủ tiêu chất xám kia - nhất là những gì có liên quan tới Tự Do - Dân Chủ - Nhân Quyền! Ôm ấp bao ý tưởng hay ho như em mà lạc vào lãnh địa xôi thịt khoác vỏ nghệ thuật cách mạng cao quý này thì thực là phí phạm, nhầm địa chỉ rồi…!”. Bị dội gáo nước lạnh tàn nhẫn, Thế chỉ biết ú ớ và nhìn ông Đỗ như một nhân vật kỳ dị của đạo diễn người Mỹ Hitcok. Ông thôi cười và trầm giọng nói như mếu: “Họ đã “xử tử” một kịch bản tâm huyết nhất của anh trong cái Phòng ấy em ạ, ở một buổi gọi là “trao đổi ý kiến”. Kịch bản của anh lấy từ nguyên mẫu nhan nhản ngoài đời: thứ nhất, nhân vật Giám đốc kiêm Bí thư một Công ty sản xuất, có nhiều nét tương tự như ông Giám đốc tiền nhiệm của Xưởng phim ta - có học, năng nổ xông xáo công việc, mềm mỏng trong ứng xử, rất biết mua chuộc cấp dưới và làm vừa lòng cấp trên, xử dụng quyền lực tài ba tựa cây gậy thần, nếu lên phim với tài năng của diễn viên người xem sẽ hình dung đó là một con rắn xanh cực độc giấu mình rất kỹ; nhân vật thứ hai là Phó Giám đốc, khôn như cáo và nịnh bợ bậc thầy, phong cách gợi tới một con sâu đo, một con biến hình, luôn tỏ ra hạ mình khiêm nhường xuống sát đất giữa lúc thủ sẵn dao nhọn đâm trộm đối thủ khi gặp dịp - như kiểu một nhân vật của Dickens ấy… - Thế chêm vào: Vâng, Uria Hip, trong Đêvit Corpơphin - Đỗ nhìn chàng trai trẻ đồng nghiệp vẻ hài lòng vì sự đồng cảm, ông gật đầu - Nhân vật thứ ba là một kế toán trình độ trung cấp, cánh tay phải của Giám đốc trong mọi chuyên kinh doanh của cơ sở sản xuất lẫn tư gia mà ông ta mặc nhiên là “đặc mệnh toàn quyền” cho khối tài sản của Giám đốc ngày một phình to thêm, và trở thành “chuyên gia” của Công ty, của Giám đốc trong việc biến báo khái niệm “Tham ô” của một cá nhân nào đó thành khái niệm “tham ô tập thể” khi chẳng may sự nghiệp “vét cho đầy túi tham” bị đổ bể…” - “Còn các nhân vật tích cực ạ?” - Thế sốt ruột, Đỗ rít xì gà một hơi dài rồi nói - Có hơn chục nhân vật tạm gọi như thế, trong đó có cả hình bóng của anh đây, thực ra, nói là nhân vật tích cực thì oan uổng cho tác giả và cho các nhân vật đó, bởi họ đã lờ nhờ như cái bóng vật vờ mưu sinh nhọc nhằn khi phải lựa chiều “mưa nắng” của Ban giám đốc; họ được tiếng là “ông chủ bà chủ” nhưng hàng ngày phải hạ mình trông chờ cầu xin ơn huệ nhỏ nhoi của những người tự xưng “đầy tớ” mà sống xa hoa như ông hoàng bà chúa… Rồi họ trở nên bạc nhược, hèn hạ, có người buộc phải bán rẻ nhân phẩm và thân xác để đổi lấy bữa ăn cho mình và gia đình đang suy sụp… - “Phải chăng đấy cũng là cuộc ăn thịt chính mình, tự xé nát lương tâm, sự thê thảm có khác gì người thợ xây châu Âu thời xưa buộc phải ném người thân đầu tiên vào lò lửa để cứu nghề theo lời nguyền ác độc đè lên số phận họ, như mình đã kể trong vở kịch dựng cho Nhà máy Bê tông đúc sẵn?” - Thế thầm nghĩ, còn Đỗ hăng lên, mắt long sòng sọc - Đó là sự báo hiệu cho sự sụp đổ của cả một xã hội… Em đã đọc Sa đọa (La Chute) của Albert Camus chưa, ông ấy đã hé lộ một bí mật khủng khiếp với nhân vật của ông ấy rằng: “Ngài chớ có đón chờ ngày Phán xử cuối cùng[44]; nó đang xảy ra mỗi ngày”…
Đỗ dừng rất lâu, ngả người trên chiếc ghế mây cũ kỹ, lim dim mắt hút thuốc, như quên phứt thằng trai đồng nghiệp vừa hâm mộ vừa kinh hoảng mình đang ở bên cạnh để ông trút bầu tâm sự u uất. Nhưng ông không quên điều gì hết. Ông từ từ ngồi dậy - Em cần ghi nhớ điều này, em đã không may rơi vào chốn làm thứ nghệ thuật bằng ngôn ngữ quốc tế nhưng lại bị trông coi canh chừng bởi những người quản lý nghệ thuật kém cỏi về văn hóa và không biết gì về điện ảnh, đúng hơn là họ núp vào điện ảnh để trục lợi, vinh thân phì gia, họ quan tâm tới sự an toàn và sự tiến thân của họ hơn là cái được gọi là nghệ thuật em ạ. An toàn và tiến thân bằng mọi giá là kế sách lớn nhất của họ, họ đâu cần phim có tư tưởng mới lạ, cách thể hiện tân kỳ độc đáo, họ tự hào là người canh giữ trung thành tận tụy cho cửa ải lập trường quan điểm chính thống, còn bọn nghệ sĩ kia múa may quay cuồng gì cũng chẳng khác dựng một tiểu phẩm sân khấu cho văn nghệ quần chúng, cứ đánh giặc thắng lợi lớn, tăng gia sản xuất hăng hái, tổ chức thi đua rầm rộ là ổn thỏa - nhưng liệu hồn, đừng có chơi kiểu symbol équivoque (biểu tượng hai mặt) tinh vi theo đuôi bọn Nhân văn ngông cuồng đòi đổi mới vừa bị dẹp tơi tả chưa lâu…
Không biết là đã có ai tơi tả và tơi tả ra sao, Thế chỉ nhận ra là tâm hồn anh đã tơi tả, đã hoang mang cùng cực trước những bài học đầu nghề của vị đạo diễn đàn anh. Thế rụt rè:
- Thưa đại ca…
Đỗ chợt hào hứng:
- Được, em gọi anh là đại ca, theo cách của giới giang hồ cũng có nghĩa em chấp nhận những suy nghĩ của anh, bước vào hàng ngũ những kẻ bị truy đuổi, vùi dập… Tốt, anh không hề bị cô đơn…
- Em thiển nghĩ: số người như anh nói trong Xưởng phim chỉ là thiểu số thôi, họ làm sao áp đảo được phần đông các nghệ sĩ điện ảnh giàu lương tâm ạ?
Đỗ không vội trả lời tay đạo diễn trẻ đầy ấu trĩ và ngây ngô như một chú cừu non đang chuẩn bị bước ra đấu trường toàn sói dữ. Ông nhìn Thế thương hại:
- Anh quý em nên cảnh báo vậy, em tin hay không tin thì tùy… Có điều, em cần biết giữ mình nơi “hang hùm nọc rắn này”, cần biết giả vờ, đóng kịch trước những kẻ yêu tiền tài địa vị của họ hơn nghệ thuật và nghệ sĩ dưới quyền họ… Giả vờ, đóng kịch mà vẫn không bị đánh mất bản ngã mình, ngậm đắng tìm tác phẩm đích thực, đó là nghệ thuật sống não lòng của người nghệ sĩ Việt thời nay em ạ… Trải nghiệm của riêng anh đấy! Cái kịch bản anh vừa kể em đó, đâu phải cái đầu tiên bị họ “cạo lông” một cách tàn bạo! Em xem, sau cuộc góp ý kịch bản thực chất là đấu tố tập thể về kịch bản này, như người khác thì phải vào nhà thương điên rồi!… - Nhìn Thế chăm chú chờ đợi, ông thở dài - Buổi đó Trưởng phòng mời cả Giám đốc, Phó Giám đốc dự, có gần đủ các nhà biên kịch kỳ cựu, một vài đạo diễn tên tuổi (Đỗ nhắc đến tên ông Hoàng Thân, nhân vật duy nhất mà Thế có dịp được quen biết). Hầu hết các ý kiến đã xoay quanh cái trục chính mà một ông học biên kịch ở Nga về phán mở đầu: “Hàng trăm kịch bản đã qua phòng Biên tập, nhưng chúng ta chưa từng gặp một thứ kịch bản nào có tư tưởng đen tối, mang sắc thái thù hận và cách thể hiện mù mịt nhố nhăng như cái kịch bản này!”. Em nên biết là ông ta nói rất chân thành, chân thực, xuất phát từ cách nghĩ cách cảm của một người ít dành thời gian đọc sách nghề nghiệp xem phim kinh điển mà dành nhiều thời gian buôn bán hàng hóa ở nước ngoài và quan hệ bốn phương rộng hơn các nhà ngoại giao… Và chính sự chân thành đó mà mà ông ta được không ít người coi là thần tượng về trí tuệ và đạo đức, lời ông ta là tiêu chuẩn chân lý khó bác bỏ. Thế rồi, phần lớn hội “góp ý” hôm đó đã xúm vào đánh “hội đồng” kịch bản đáng thương của anh như tát nước theo mưa, nào là: kịch bản này cố tình bôi đen đất nước - con người và chế độ tốt đẹp của chúng ta; nào là: cái nhìn tác giả thực quái đản và ác nghiệt, chỗ nào và ở đâu cũng chỉ thấy tiêu cực đen ngòm, méo mó, vẻ đẹp lương thiện chạy trốn, dễ khiến người ta có cảm giác rằng: tác giả có động cơ phá hoại, đầu độc xã hội, làm tâm lý chiến cho địch… nào là: tác giả có đầu óc bệnh hoạn, chữ nghĩa chứa đầy nọc độc, ngòi bút khá tinh xảo nên càng nguy hại; nào là: nhân vật chính diện giống các hình nhân vật vờ tựa bóng ma còn nhân vật phản diện thì sống động như các quái vật Dracula, Frankenstein của Điện ảnh thế giới tư bản giãy chết; nào là: ai cũng thấy rõ là tác giả trút mối thâm thù vào các nhà lãnh đạo Xí nghiệp và anh em nghệ sĩ qua những nhân vật bịa đặt… Một số người tử tế thường ủng hộ anh đưa ra vài ý kiến yếu ớt phản biện lại bị đám đông đè bẹp ngay, đành bó tay bất lực…”.
Sống trong Xí nghiệp phim như một kẻ cô đơn, và hình như cũng có tên trong sổ đen nhóm “xét lại chống Đảng” từ nhiều năm trước, nên khi lãnh đạo Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội gợi ý mời ông sang trường thì ông rất phấn khởi, vì ông sẽ thực hiện được ý định mang những kiến thức và kinh nghiệm làm phim truyền lại cho các thế hệ sinh viên… Nhưng ông đã mang cái án “nguy hiểm với chế độ” chuyển từ Xí nghiệp phim sang Trường; lại vốn là con người khí khái, trung thực, yêu lẽ phải, dị ứng với tất cả những gì khuất tất không lương thiện, nên đã vô tình bị rơi vào một “cái bẫy” đối với một tâm hồn chính trực như ông! Kết cục, giữa thời cả nước đói, túi ông thì rỗng, ông đã bị trường cắt lương, chỉ được hưởng “trợ cấp xã hội” như một kẻ ăn mày mà với một người có lòng tự trọng cao mang bao khát vọng sáng tạo sôi sục như ông, khác gì một đòn giáng chí tử buộc ông phải tự vẫn! Khi nghe được tin dữ, Thế vội tới nhà ông, vợ ông kể trong nước mắt: “Anh ấy tập tễnh (sau lần bị tai nạn ô tô gẫy chân) bước về nhà, ôm mặt khóc nức và kêu lên với con gái: “Chúng nó cắt nốt cái dạ dày của bố rồi!”…
“Một đêm mùa hè năm 1989, ông đã quyết định từ giã cuộc đời theo đúng phong cách của những võ sỹ đạo”. Bạn anh, một nhà biên kịch kiêm phê bình điện ảnh đã thận trọng và kìm nén đau xót viết như thế; và anh có lẽ cũng sẽ viết như vậy, trong những ngày ấy cho báo chí, để đỡ “chướng tai gai mắt” đối với lãnh đạo văn nghệ, và cũng để làm giảm bớt nỗi bi thương trong cái chết của ông, giảm đi nỗi đau lòng của người thân ông trước một sự kiện khủng khiếp: Trong gian bếp lạnh ngắt, ông đã dùng con dao trầu cau rạch bụng, tự kéo ruột mình ra và cắt chúng thành mấy đoạn để khỏi bị cứu sống… Cái chết tiêu cực này, để lại sự bàng hoàng xót thương nhiều năm trong lòng đồng nghiệp, dù sao cũng là một sự phản kháng có ý nghĩa đối với sự đểu cáng, sự “tử tế” giả vờ, thói đạo đức giả che đậy lòng tham lam ích kỷ đã bắt đầu tràn ngập, thống trị xã hội…
Một đạo diễn đàn anh khác mà Thế chủ động làm thân và cũng được yêu quý không kém, là đạo diễn Huy - hậu duệ đời thứ tư của “Thần Siêu”, danh nhân văn hóa đất Kẻ Chợ Thăng Long - Hà Nội. Tính cách đạo diễn Huy hầu như trái ngược với đạo diễn Đỗ, không bộc trực nóng nảy thẳng ruột ngựa mà ôn tồn, thâm trầm, tinh tế. Một buổi ở Làng Kim Lũ Đại Kim - ngôi làng cổ nổi danh truyền thống khoa bảng vào hạng nhất nhì của kinh thành Thăng Long xưa, trong ngôi từ đường họ Nguyễn do cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu xây dựng, sau khi thắp hương trên Ban thờ tổ, đạo diễn Huy đọc cho Thế nghe một bài thơ của ông, làm theo ý thơ của “Thần Siêu”[45]:
Việc đời nát ruột bầm gan
Chí chưa nỡ bỏ mấy trang sách nhàu
Trời xanh đội đến bạc đầu
Chân lùa cát bụi chẳng màu bùn nhơ
Gọi quan, gọi lão cũng ờ
Đường dài còn tấm thân giờ ta đi…
Rồi ông bảo Thế:
- Em à, những tâm sự của cụ gửi gắm ở Tháp Bút, Đình Trấn Ba, Cầu Thê Húc, Đài Nghiên, cũng là lời nhắn gửi với con cháu, nhất là những người làm văn học nghệ thuật chúng ta đó! Cả đời cụ đã cố giữ lòng trong sạch, từ bi và nhân ái - đó cũng là cái gốc của đạo Phật… Còn Hãng phim của ta, theo dòng đời giờ đây đã thực sự lấm cát bụi bùn nhơ rồi, cát bụi bùn nhơ của sự đố kỵ, hẹp hòi, gian tham, cả độc ác nữa… Em đã trót bước chân vào chốn cát bụi bùn nhơ này tức là “chí chưa nỡ bỏ mấy trang sách nhàu” thì nên học cụ chữ Nhẫn, lánh xa các cuộc ganh đua danh lợi sẵn sàng dìm chết đồng nghiệp vì quyền lợi ích kỷ của vài ông khoác áo nghệ sĩ, lại còn có quyền sinh quyền sát với văn nghệ sĩ nữa… Họ trái tim nguội lạnh, tâm hồn trống rỗng, chưa thành nghệ sĩ thực sự đã là kẻ lưu manh, là đao phủ…
Sau đó ông từ tốn kể cho anh nghe về thân phận đạo diễn Vân, từ những điều được chứng kiến và qua lời kể của một số người khi ông là diễn viên mới toanh của Kịch đoàn Xí nghiệp phim:
Ông Vân vốn là một ngòi bút đã có tiếng tăm trong cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp. Ông là dịch giả tiếng Việt sớm nhất và đầu tiên cuốn tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy của nhà văn Xô Viết N. Ostrovsky. Rồi ông trở thành một cộng sự đắc lực cho R. Karmen, tác giả bộ phim tài liệu nổi tiếng Việt Nam trong suốt 7 tháng làm phim ở núi rừng Việt Bắc và trung du, Đồng bằng Bắc bộ với 40.000 mét phim đã được quay. Ông là một người mà R. Karmen liên tục nhắc đến trong hai cuốn hồi ký Ánh sáng trong rừng thẳm và Việt Nam chiến đấu: R. Karmen rất thích nghe ông Vân kể chuyện, bởi ông kể thực hay về đất nước mình, dân tộc mình với bao nhiêu truyền thuyết, phong tục, tập quán; ông còn biết nhiều câu tục ngữ Nga… Giữa họ có nhiều sự đồng cảm đến nỗi Karmen phải thốt lên: “Vắng anh ấy một ngày là tôi cảm thấy buồn”.
Cuộc hôn nhân đầu tiên của nữ nghệ sỹ T. Minh là với đạo diễn điện ảnh Vân. Sau 1954, khi nước ta chuẩn bị bắt tay làm phim truyện điện ảnh, bà T. Minh theo học lớp diễn viên, còn ông Vân theo học lớp đạo diễn do các giảng viên Liên Xô hướng dẫn. Tốt nghiệp khóa học, ông Vân tự viết kịch bản, thực hiện một bộ phim truyện nhựa hơn 100 phút Một ngày đầu thu, kể về lớp thanh niên Việt Nam theo cách mạng và bước vào kháng chiến. Diễn viên T. Minh đóng vai chính. Một số đạo diễn, như Nông Đạt khen Vân rất nhiều, khen nhất là Vân rất chịu khó tìm tòi trong công tác đạo diễn và rất yêu nghề. Đạo diễn Thành minh họa lòng yêu nghề đó như sau: “Vân là đạo diễn, vợ đóng vai chính, đến cảnh vợ với bạn diễn nam là người tình của nhau trong phim ôm nhau thắm thiết, Vân hét rất lớn: ôm chặt vào…”.
Nhưng Một ngày đẩu thu vừa được khen trên báo chí, bỗng có lệnh “cấm chiếu”, nghe đâu là “Ăn phải ‘bả’ diễn biến hòa bình của bọn xét lại Liên Xô”! Cho tới hôm nay, không một văn bản, không một lời lẽ nào giải thích cụ thể. Ngay bản gốc Négatif phim đó cũng đã bị hủy hoại bởi ẩm mốc trong kho tư liệu phim. Còn “vụ án” về đạo diễn Vân và cái chết đầy bi thảm của ông, cho đến tận hôm nay cũng không một cơ quan công quyền nào làm sáng tỏ đúng, sai.
Đạo diễn Vân đi tù không án gần sáu năm, có lẽ bởi ông đã đôi lần gặp gỡ trao đổi chính kiến với những người có tên trong “sổ đen có vấn đề” về Nghị quyết 9 và hiện tình đất nước. Hồi học Nghị quyết, thấy cấp trên nói cho bảo lưu ý kiến, nên ông phát biểu thẳng thừng: Nghị quyết Trung ương Đại hội 3 đã ghi rõ: xây dựng miền Bắc vững mạnh, tiến tới hòa bình thống nhất đất nước, Nghị quyết 3 chưa ráo mực thì Nghị quyết 9 đã chống lại! Ông ngây thơ không biết là những lần ông gặp gỡ các bạn cùng quan điểm như HMC, LĐ, TĐ, v.v. ở công viên Thống Nhất đều bị công an theo dõi… Rồi ông bị tống vào Hỏa Lò, sau đó cũng như các bạn “xét lại”, ông bị đày đi các trại trên núi rừng Việt Bắc.
Đạo diễn Vân được ra tù, về Ninh Bình làm ở một hợp tác xã gì đó, ít lâu sau thì về Hà Nội với vợ con. Nhưng ông bị vợ đuổi ra khỏi nhà, đêm đêm ra ngủ ở vườn hoa Hàng Đậu, nhớ con thì tìm đến nhà nhìn qua khe cửa, ngắm con ngủ một lúc thì bỏ đi… Có lần ông Vân ăn cắp xe đạp, cố tình cho người mất xe bắt tại trận để được đưa ra tòa, có dịp kêu oan cho bà con thiên hạ biết về việc mình bị đi tù không án là trái pháp luật, để được đưa công khai ra xử toàn thể anh em dính vào vụ án xét lại.
Đạo diễn Vân về Hà Nội không ở một chỗ nào nhất định, nay ngủ nhà này mai ngủ nhà khác, gần chục nhà của bạn bè ở suốt từ Bạch Mai cho đến Bưởi, còn tiện đâu ăn đấy, lúc nhà bạn lúc cơm đầu ghế, có khi ngủ ngoài ga Hàng Cỏ hoặc ghế đá vườn hoa… Khi cán bộ chấp pháp hỏi lệnh tha tù, ông nói như khóc: Bắt tôi không có lệnh, thả khỏi tù thì có lệnh tạm tha nhưng lệnh này khi nhập hộ khẩu ở Ninh Bình, công an giữ lại làm hồ sơ…
Rồi ông phiêu bạt vào Sài Gòn tìm việc làm. Có bạn thân gợi ý ông thử đến Xưởng phim TP. Hồ Chí Minh xin làm đạo diễn, hợp đồng từng phim một, hoặc viết kịch bản phim truyện, phim tài liệu, nơi nhà văn nhà biên kịch Vũ Thư cũng rời biên chế Xí nghiệp phim truyện Việt Nam vào viết kịch bản cho họ. Sau đó ít lâu có tin đạo diễn Vân đã cùng một người con gái lên Sơn La, định vượt biên sang Trung Quốc và bị bắn chết… [46]
Tại ngôi từ đường này, đạo diễn Huy đã tiếp đón nhiều nhân sĩ trí thức ôm ấp nhiều khát vọng lớn về văn hóa, giáo dục, nghệ thuật – như Nguyễn Xuân Khánh, Lê Đạt, Đặng Đình Lưu, Phạm Toàn (Châu Diên), Dương Tường, v.v. Thế may mắn được tiếp xúc thường xuyên với các ông, với tư cách là kẻ “theo voi ăn bã mía”, “theo đóm ăn tàn”, và được ảnh hưởng khá nhiều cách nghĩ, cách cảm của các ông. Có điều, anh ngây thơ không biết rằng: trong lãnh đạo Hãng phim từ lâu nay đã hình thành ấn tượng về “một nhóm Nhân văn” mới tại làng Lủ, trong đó có một số nghệ sĩ của Hãng tham gia rất cần được quan tâm theo dõi và uốn nắn giáo dục kịp thời…
8.
Năm đó Thế được Ban Giám đốc Hãng giao phim, kịch bản của nhà biên kịch người Thái Cầm Kỳ. Lúc ông viết kịch bản "Vượt rừng" kể lại chuyện người thanh niên yêu nước người Thái dẫn bốn tù chính trị vượt ngục Sơn La rồi khi trở về bị giặc giết hại, ông chịu khó trao đổi với Thế thường xuyên, vì đã đọc những truyện ký của anh viết từ thời dạy học về nhà ngục khét tiếng này. Chính ông đã đề nghị với Ban giám đốc & Hội đồng nghệ thuật Hãng phim giao kịch bản trên cho một đạo diễn mới tốt nghiệp nhưng có hiểu biết về Tây Tắc, và được chấp thuận ngay. Nhưng sau đó, một đạo diễn lâu niên kiêm Xưởng trưởng đã nì nèo lãnh đạo xin được làm phim này - phim có dính dáng đến lịch sử sắp vào guồng sản xuất, coi như cuộc "cúng giỗ" cuối cùng của ông trong loại phim "cúng cụ". Thế buộc phải cắn răng đồng ý. Mới đầu, Thế được đề nghị làm phó đạo diễn cho ông. Ông tỏ ra rất vui, và bảo thẳng anh: “Bác rất thích được làm việc với một đồng nghiệp hay đọc sách, lại có bằng văn chương, vì như vậy phim sẽ có gốc chắc chắn của văn học!” Ôi, đáng quý và đáng yêu quá, lời động viên rất chính xác và cũng rất có nghề! – Thế chua chát nghĩ… Sau đó, suốt gần hai tháng trời, “thằng bé” đã làm thay công việc khó khăn nhất của một đạo diễn chính, cũng là công việc then chốt, quan trọng nhất của quy trình sản xuất phim: viết Kịch bản phân cảnh (scénario technique, dành cho các bộ phận sáng tạo và kỹ thuật trong một đoàn làm phim, tựa như bản thiết kế chi tiết trong việc xây dựng công trình). Như thế lại được tiếng là “học nghề” của một đạo diễn kỳ cựu, khi mỗi lần ông ấy đọc duyệt từng phân đoạn thì gật gù: “Đó, phải viết như thế, đúng, đúng là những điều bác đã ấp ủ lâu nay! Cám ơn đồng nghiệp trẻ đã thể hiện được tư tưởng của bác! Và cháu rất có tiến bộ trong ngôn ngữ điện ảnh… Tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý tới những tình tiết, chi tiết liên quan đến chủ đề tư tưởng phim, bởi phim của chúng ta là phim của nền điện ảnh XHCN ưu việt có âm hưởng chủ đạo là ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, hay lãng mạn cách mạng, không thể len vào dù chỉ một chút dư âm của sự hoài nghi, u ám, chủ nghĩa cá nhân ích kỷ…”.
Và như để kẻ học nghề phải trả công xứng đáng cho những bài giảng làm ù tai của ông, khi kịch bản phân cảnh được cộp dấu vào sản xuất, thì tác giả thực sự của nó bị gạt bắn ra khỏi cương vị phó đạo diễn - thay vào đó là một phó đạo diễn khác giỏi giang hơn Thế nhiều lần trong các quan hệ xã hội và có khả năng kiếm thêm kinh phí tài trợ cho đoàn phim về ăn, ở, đi lại, quảng cáo, cùng các chi phí khác phi sản xuất…
Còn Thế, sau khi bị cướp quyền “cầm cờ” đạo diễn chính, rồi cả công sức lao động một cách lịch sự, đến tên cũng không có trên générique - màn chữ phim một cách đáng đời như thế, giúp ông ta “hạ cách an toàn xuống miền lãng quên”, anh đành tự an ủi: “Âu cũng là một bài học đầu tiên cho kẻ làm nghề, nhất là với những kẻ chỉ có chữ mà không có thứ gì khác bảo kê cho nó… Coi như một lần “cày thuê cuốc mướn” chữ nghĩa thành công, mặc dù chẳng được xu rỉ nào! Đến như các nhà văn tài ba có mấy ai đã sống được bằng nhuận bút, còn mình chỉ là thằng thợ viết thôi, lại là thợ viết hạng bét, có gì mà buồn!”.
Ông Lê Vui cùng xưởng, một đạo diễn cũng khá kỳ cựu, tên tuổi nổi danh cả nước (cũng sắp đến lúc “hạ cánh an toàn xuống miền lãng quên”) một buổi trịnh trọng mời Thế đi ăn trưa, rồi khi trở về Xưởng lúc không có ai đã hạ giọng sòng phẳng với anh: “Chú mày chưa làm phim nên kinh nghiệm chưa có nhiều, rồi sẽ được giao phim xứng đáng thôi! Nhưng mấy cậu đạo diễn gốc dân văn mới vào ngành thì anh tin lắm, yêu lắm… Anh chuẩn bị vào phim, lo nhiều thứ, không có thời gian tâm trí đâu viết phân cảnh… Anh tin là chú làm giúp anh được… - Ông nhìn xoáy vào Thế, thấy đúng là thằng ngớ ngẩn, chứ không phải là kẻ lọc lõi biết cò kè mặc cả, nên tỏ niềm thương cảm thật sự - Yên tâm, anh trả chú mày bằng một nửa nhuận bút kịch bản của anh, được chưa? Bọn cầm bút chúng mày đói bỏ mẹ, đừng làm cao nữa!” Cái bỗ bã thân thiết và chân tình đó của ông đã thuyết phục được Thế, và anh đã nhận lời mà vẫn tìm cách giữ được thể diện cho một đạo diễn nhớn là ông. Sau đó, qua bè bạn học cùng khóa, Thế được biết mình không phải là người duy nhất được ông ấy (và mấy đạo diễn kỳ cựu khác) thuê viết kịch bản phân cảnh! Lần đó, Thế đủ tiền mua được một chiếc xe máy Win cũ, để tập “bay như gió” vào công việc, dù không phải bao giờ cũng xuôi chèo mát mái, nhưng bớt ngớ ngẩn đi và đồng thời có dịp hiểu thêm ý nghĩa của cái gốc văn chương trong nghệ thuật điện ảnh…
9.
Vào thời điện ảnh Việt tan tác, các rạp chiếu phim cả nước biến thành quán bia, vũ trường, văn phòng, dịch vụ đủ loại do “công lao - sáng kiến” của Liên hiệp Điện ảnh, ở Cơ quan bị cắt lương vì không có phim làm, Thế và không ít đạo diễn đồng nghiệp phải vào phía Nam tìm đường làm phim. Gặp đúng thời phim “mỳ ăn liền” đua nở rầm rĩ giữa đất Sài Thành hoa lệ. Việc làm phim lúc đó thật tưng bừng nhộn nhạo, "nhà nhà sản xuất phim, người người làm đạo diễn", phim ảnh trở thành những vụ "áp-phe" béo bở chưa từng thấy; thậm chí một ông buôn bán đồ phòng cháy chữa cháy ở chợ giời may mắn chộp được ít tiền là cũng nhảy xô vào sản xuất phim - kể cả viết kịch bản, làm đạo diễn, để mua danh và hốt bạc một cách dễ dàng dựa trên sự dễ tính và cũng dễ bị lừa của đông đảo khán giả. Thất vọng cùng cực, anh đành ngao ngán nhận làm thuê cho một Công ty dịch vụ văn hóa “tả pí lù”: viết báo, biên tập sách, tổ chức sự kiện, làm quảng cáo, phim ca nhạc, phim chân dung…
Ông Trần Bảo, Giám đốc Công ty này là một lãnh đạo chính quyền Thành phố mới về hưu, có quan hệ rộng khắp từ các tỉnh thành xa xôi tới Trung ương, lại có chút máu mê thơ ca, tuy chỉ là thứ thơ Câu lạc bộ phường song cũng đủ để thuyết phục được Thế đầu quân về với ông. Đặc biệt là cái dự án sách và phim tài liệu về lịch sử Thanh niên xung phong Thành phố sau năm 75 khiến anh rất hào hứng, bởi liền nghĩ ngay tới một bộ phim truyện sử thi hoành tráng nhiều ý nghĩa…
Trong cuộc gặp mặt đầu với kẻ làm thuê tương lai, ông Bảo lim dim mắt đọc bài thơ có tên “Yêu nhau ta gọi thầm Duyên hải”[47] cảm động đến độ dù Thế biết rõ đấy là bài thơ của một anh phụ trách Thanh niên xung phong Thành phố mà anh mới quen, song lại có cảm tưởng như chính ông là tác giả…
Trong thời làm cho C.ty văn hóa này, Thế được giao nhiệm vụ viết kịch bản, đạo diễn kiêm quay phim về TP. HCM dịp kỷ niệm 15 năm, mang tên: “Thành phố không mệt mỏi”. Sau khi đã quay tư liệu một vài cơ sở sản xuất kinh doanh tiêu biểu, lúc được giới thiệu đến C.ty của doanh nhân nổi như cồn Tăng Minh Phụng, Thế được biết nhà văn Vũ Thư (tên tuổi quen thuộc với anh suốt thời thơ ấu với những truyện dịch trong “Bông hồng vàng”, “Bình minh mưa” của nhà văn Nga K. Paustovsky) lúc đó đang làm cố vấn cho ông Tăng Minh Phụng trong việc giao dịch hàng hóa với nước Nga (lúc Liên Xô sắp sụp đổ). Thế là anh đã gặp ông hai lần tại C.ty thương mại đang ăn nên làm ra nọ, với tư cách chỉ là hai người làm thuê cho ông chủ nhiều tiền và biết trọng trí thức. Nhà văn không thể biết rằng: có một kẻ vô danh tiểu tốt mới vào nghề điện ảnh đã kín đáo quan sát ông, tự hỏi ông đang làm gì cho ông chủ ấy trong lĩnh vực hoàn toàn xa lạ với ông là kinh doanh…
Thế hồi hộp lắm, vì đã được biết sơ qua về quãng đời tù đày của một nhà văn đang có tên trong cơ quan anh với chức danh “nhà biên kịch” từng tốt nghiệp trường VGIK danh tiếng (Đại học điện ảnh quốc gia toàn Liên bang Xô viết), và chắc chắn phải có không ít kịch bản phim trong ngăn kéo bản thảo. Bạn Thế, một nhà biên kịch - nhà phê bình điện ảnh cũng từng xuất thân từ VGIK năm trước đã cho anh biết: “Chuyên gia điện ảnh nổi tiếng của Liên Xô là Vaisfield đã kể lại một kịch bản của nhà văn Vũ Thư mà ông rất thích, nằm trong kho lưu trữ của trường có tên là Đêm cuối cùng, ngày đầu tiên. Đó là một đêm hè. Một anh du kích ở đồng bằng sông Hồng nhận nhiệm vụ đặt mìn trên đường tàu hoả. Vì ngày mai, có đoàn tàu chở lính Pháp từ Hải Phòng về Hà Nội. Anh dẫn theo một cậu bé. Đặt mìn xong, anh và cậu bé nằm trong lán chờ. Anh mở đài nghe tin tức. Bỗng anh nghe tin, đêm đó, hiệp định Geneve được ký. Ngày mai sẽ không còn chiến tranh. Anh phân vân. Trái bộc phá kia xử lý thế nào? Anh quyết định tháo trái bộc phá. Rồi báo cáo cấp trên. Nhưng cấp trên phê bình anh. Vì chưa được lệnh. Trái bộc phá vẫn đặt lại chỗ cũ. Sáng hôm sau, đoàn tàu chở lính Pháp lao về Hà Nội. Cậu bé biết chuyện. Cậu lao ra. Giang tay hô to: “Có mìn!’’ Lính Pháp trên tàu giương súng bắn chết cậu bé… Kể xong, ông GS. Nga trầm ngâm: “Chỉ những người từng khổ đau trong chiến tranh, như người Việt Nam, mới có quyền kể những câu chuyện về khát khao hoà bình…”. Sau này, Thế được biết: chính nhà văn Vũ Thư cũng kể lại nội dung kịch bản trên chưa kịp thành âm bản phim trong Hồi ký Đêm giữa ban ngày của ông.
Nếu được gặp ông, anh sẽ nói gì đây? Bảo rằng: “Thưa bác, (cháu) em vinh dự là người cùng cơ quan với bác”, hay là: “Các rạp chiếu phim đã biến mất trở thành quán bia, vũ trường bởi Liên hiệp Điện ảnh đã phá tan nát nền Điện ảnh, đầu phim thì dành cho các nghệ sĩ lớn có công với Cách mạng hoặc nghệ sĩ Nhân dân, nghệ sĩ Ưu tú thực hiện rồi, nên thằng đàn em đành thất nghiệp chạy vào đây, may quá được gặp bác…”?
Nhưng để làm gì? Để tìm sự cảm thông, lời an ủi của bậc đàn anh trong nghề cũng đang bỏ nghề ư?… Thật ra, Thế chợt nảy lòng thương ông, và thương mình. Thế quyết định không kể cho ai là anh có biết ông, thậm chí biết rõ về lai lịch của ông. Không phải vì sợ có người bĩu môi: “Úi giời, thấy người sang bắt quàng làm họ”, mà bản năng mách anh: biết đâu đó cũng là cách anh bảo vệ ông, khi ông đương tìm cách náu mình an toàn để mưu sinh, và để viết những gì cần phải viết cho đời… Nhà văn từ năm 1976, sau khi ra tù, không được cầm bút viết văn viết báo viết kịch bản dịch sách nữa, mà phải làm nhiều nghề khác nhau để kiếm sống - mà một trong những nghề đó là “Chữa tủ lạnh” – cái nghề khiến ông bùi ngùi kể lại: có lần tới một nhà cán bộ nữ chữa tủ lạnh, sau khi biết mấy đứa con chị ta chỉ được ăn mảnh vụn của “đá tủ lạnh”, còn những khay đá thì để đem bán lấy thu nhập của gia đình, thì ông không nỡ cầm tiền chữa tủ lạnh chị ta đưa nữa, với lý do là cái rơ le bị kiến chết cháy làm tắc thôi, không phải sửa gì; và ông đành cắn răng bỏ cái nghề vốn đã bất đắc dĩ ấy để chuyển sang những nghề bất đắc dĩ khác…
Mấy năm sau, qua Hồi ký của ông, Thế được biết đó cũng là thời gian ông âm thầm viết Đêm giữa ban ngày giữa nguy hiểm vẫn còn rình rập. Và cuốn sách đó cũng góp phần trả lời giúp anh cái câu hỏi vấn vương trong nhiều năm - đặc biệt qua những dòng anh sẽ đọc để hiểu thêm về những điều mình sẽ phải viết, đồng thời cảm thấy nụ cười chua chát của nhà văn: “…sau khi ra tù, không đi làm cho nhà nước nữa, đời sống gia đình tôi khấm khá hẳn lên, tinh thần cũng thoải mái, kể cả khi tôi làm thuê cho những người theo lý thuyết của các nhà mác-xít là những tên bóc lột. Những ông chủ cá thể xử sự có văn hóa hơn hẳn ông chủ lớn mà tôi phục vụ suốt đời” (ĐGBN).
Nhưng chỉ sau bộ phim tài liệu về Thành phố 15 năm đó, Thế đã bắt đầu vỡ mộng giữa hàng đống công việc tủn mủn chạy theo đơn đặt hàng của các cá nhân có tiền muốn tô vẽ cho lai lịch gia tộc, hay các đơn vị sản xuất tư nhân & Nhà nước đang mong xây dựng thương hiệu mạnh trong cuộc cạnh tranh bằng mọi chiêu trò quảng bá chấp nhận cả chuyện thổi phồng vô tư, bịa đặt trắng trợn mà không bị đánh thuế…
Một chủ nhật, ông Giám đốc Bảo mời Thế - đúng hơn là gọi -, đi cả ngày giúp cho gia đình ông.
Hôm đó, ông tổ chức cho đại gia đình đi chơi công viên ngoại thành Sài Gòn, để cô con dâu đầu tương lai của ông đang thực tập quản lý kinh doanh biết thêm được “không khí văn hóa cao cấp” nhà ông. Anh có trách nhiệm ghi lại thực sinh động buổi sinh hoạt quý hiếm này bằng phim và ảnh - để “tích góp đủ tư liệu, sẽ thực hiện một phim tài liệu lịch sử thật xứng đáng về Đại gia đình cách mạng của chú” - như ông chân thành tâm sự với anh.
Cả ngày hôm sau, lủng lẳng dây máy ảnh máy quay ở hai vai, Thế tất tả một cách đầy “lương tâm nghề nghiệp” để thực hiện những yêu cầu của chủ thuê mình trong các góc máy, các cảnh huống sinh hoạt… Và tất cả bọn họ yên tâm rằng: đã thuê được một kẻ làm dịch vụ biết rõ sức mạnh sai bảo của đồng tiền, y hệt một tên nô lệ thời trung cổ phương Tây họ từng biết qua phim ảnh. Và họ ăn uống ê hề mà không cần, không có trách nhiệm nghĩ đến một kẻ phục vụ có tầm quan trọng nhất của cuộc này đang khát khô cổ, mồ hôi ướt đẫm… Chẳng lẽ, lúc đó anh lại phải hạ mình tới xin họ một cốc nước, một ly bia? Thêm nỗi nhục cho kẻ mang danh đạo diễn điện ảnh quốc gia phải đi làm công việc dịch vụ của một anh thợ ảnh dạo! Dĩ nhiên, làm dịch vụ thì chẳng hề gì, chẳng có gì xấu, chỉ sợ học trò cũ hoặc bạn đồng nghiệp bắt gặp mình trong cảnh ngộ này thì chẳng biết chúi mặt vào đâu?… Có điều, anh đã có một cuộc tự an ủi rất giàu ý nghiã, tuy chẳng khác AQ bao nhiêu: Chứ sao, mấy ai trong nghề điện ảnh như mình đã được biết rõ tâm trạng của một kẻ làm thuê bán sức lao động cho kẻ nhiều tiền mà cậy của, vô tâm – “cái biết” đó chính là tâm trạng của một miếng mỡ nằm trong chảo mỡ, như văn hào Lỗ Tấn từng nói đến…
Và điều an ủi có ý nghĩa hơn cả đối với Thế, cũng là thứ giữ cho anh không đánh mất lòng tự trọng khi ngửa tay xin một cốc nước, chính là ánh mắt cảm thương kín đáo của cô con dâu tương lai nhà quý tộc nọ thỉnh thoảng hướng về anh… Chính cô đã chủ động đem tới cho anh một chai nước khoáng. Cô làm như hòa nhập hết sức thoải mái vào cuộc vui, nhưng chỉ Thế mới hiểu: cô là người duy nhất trong đám người vui vẻ kia nhận ra sự bất công, mặc dù hợp lý - ở cái không khí văn hóa mà họ bày ra dành cho cô là chủ yếu… Thế biết: một tình thương đối với anh chợt chớm nở trong lòng cô…
Nhưng dù phong phú trí tưởng tượng đến đâu, Thế cũng không thể nghĩ ra nổi một tình tiết có thực khá thú vị với người đời nhưng lại rất buồn với anh sẽ diễn ra, ngoài “kịch bản phân cảnh” dự kiến phim của anh và chắc chắn không thể có vị trí nào trong bộ phim “lịch sử đại gia đình” họ: cô dâu tương lai đó sau hôm ấy lại đâm ra mê cái kẻ làm dịch vụ, chắc hẳn là bắt đầu từ cái buổi quay thuê viết mướn của anh mà cô được chứng kiến từ đầu tới cuối. Ba hôm sau, trong một tối làm thêm, lúc các nhân viên về hết, anh gặp cô ở chân cầu thang vắng vẻ, cô nói với anh như sắp đứt hơi. Cô thầm thì em tình nguyện theo anh cùng trời cuối đất… Em sẵn sàng bỏ phứt không thương tiếc thân phận “chuột sa chĩnh gạo” bày sẵn cho em… Em ghê sợ cái tương lai trong ngôi nhà này… Ông ấy có gương mặt đức Phật nhưng lại mang bản tính của một con quỷ tham lam. Và dâm dục nữa…
Nhưng điều đó lại đặt Thế vào tình huống khó xử, và nguy hiểm. Thực bế tắc! Cuối cùng, anh phải tìm cách “gạt lệ” chia tay em, bán sới khỏi cái Công ty văn hóa đương ăn nên làm ra kia, nhằm giữ mình, giữ nghề, và giữ cho cả tương lai của em dù em muốn tìm cách chối bỏ, bởi em chưa hiểu cuộc sống đang chờ đợi em là gì...
Đây là những lời cuối cùng hắn nói với em một tuần sau đó, gần Công ty, ở một góc phố tối om bởi bóng đèn bị cháy chưa kịp thay:
- Huyền à, anh rất hiểu tình cảm của em dành cho anh… Anh rất xúc động và biết ơn… Nếu anh trong hoàn cảnh khác, không phải là kẻ đi làm thuê, sự nghiệp ổn định, anh sẽ là người thật hạnh phúc khi có em…
Thế cảm thấy giọt nước mắt long lanh của em qua tiếng thở dài nhè nhẹ.
- Còn anh thấy gia đình họ là cán bộ cơ bản, ông ấy ở R ra, có nhiều quan hệ tốt… - Anh nghẹn lời một lúc bởi chợt cảm thấy sự dối trá vụng về của mình - Con cái họ đều được ăn học tử tế, và cậu Tiến là một thanh niên ngoan ngoãn, không đua đòi ăn diện, anh ta cũng yêu em thật lòng đấy chứ…
Huyền bật khóc rưng rức không cần kìm nén:
- Trời ơi, anh đừng nói những lời không phải của anh như thế nữa đi! Em tuy chỉ hết Phổ thông trung học, nhưng qua cách ông bà ấy đối xử với các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ mà em chứng kiến mấy tháng qua, em hiểu họ chỉ tìm cách bóc lột chất xám người khác càng nhiều càng tốt… Và họ chỉ coi trọng những người có địa vị cao, những ai thành đạt nhiều tiền của thôi! Đằng sau cái vỏ quý tộc họ đang dày công xây dựng là toan tính lạnh lùng và tàn nhẫn, anh ơi! Họ làm kinh doanh về văn hóa mà không hề quan tâm một người có nhiều mơ ước như anh đang cần gì, nghĩ gì, trăn trở gì… Họ chỉ tìm cách làm sao khai thác anh được nhiều nhất cho công việc kinh doanh của họ, mà trả anh bèo bọt nhất… Nhưng lại muốn anh phải mang ơn họ, bởi họ biết rõ lai lịch anh, một người không giỏi quan hệ, không biết hạ mình quỵ lụy nên bị gạt ra ngoài guồng chính thống nhiều năm nay, bị cắt lương, phải bỏ cơ quan vào trong này tìm đường làm phim… Còn anh đang phục vụ một kẻ thế nào, anh biết không: ông ấy cặp bồ với đứa bạn thân của em, mua nhà bạc tỷ cho nó, và nhét tiền lớn vào tay em để bịt miệng khi em biết chuyện… Không bao giờ em dám nhìn thẳng vào cái gương mặt từ bi đạo đức giả mỗi khi ông ta rao giảng đạo đức cho con cháu và nhân viên Công ty…
Bất giác Thế ôm chầm lấy cô gái chợt trở nên thân thiết vô hạn với anh, bởi em đã nói ra những tử huyệt đời em và đời anh bằng nỗi đau lòng của một tâm hồn trẻ trung nhạy cảm, giàu nỗi xót thương. Thế lau nước mắt cho em, và nhẹ hôn lên đôi môi đẫm lệ… Đèn đường góc phố chợt bật sáng, Thế và em vội vã rời khỏi nhau, phòng gia đình quý tộc nọ phát hiện. Thế và em chào nhau lần cuối rồi lén lút chia tay như hai kẻ ăn trộm bị bắt quả tang.
Ngày hôm sau, Thế báo cáo Ban Giám đốc tạm dừng các công việc, lấy cớ ra Bắc có việc gấp gia đình, rồi bỏ Công ty ấy đi biệt tăm, không đợi thanh toán nốt các khoản công xá, thù lao họ còn nợ khá nhiều sau mấy công trình viết thuê, làm phim thuê. Bởi mấy món nợ đó chẳng là gì so với “món nợ định mệnh” nặng trĩu của Thế với em, sau cuộc chia tay như chạy trốn. Và không trả nổi “món nợ định mệnh” ấy là một trong những thất bại đau đớn nhất của đời anh, nặng nề hơn so với cuộc chia tay với Thảo - cô kỹ sư bê tông mấy năm trước….
Và thất bại này của Thế không ngờ lại được ông Giám đốc Công ty dịch vụ của anh gánh cho một phần, bằng một tai nạn xảy ra mấy tháng sau đó mà dân làm dịch vụ văn hóa kiếm tiền bố thí của ông đến tận ba thập kỷ sau còn phải trợn mắt lè lưỡi kinh hoàng: Xe du lịch đời mới ông ta chở bồ nhí đi nghỉ mát ở Đà Lạt bị rơi xuống vực, chẳng hiểu sao thân hai người nguyên vẹn nhưng riêng đầu ông ta thì bị vỡ tan nát, óc bắn tung tóe đầy xe… Vợ ông, khi biết hết mọi chuyện cũng đành cắn răng bỏ ra mấy cây vàng thuê sư một chùa lớn tổ chức Cầu siêu cho ông, để ông thoát kiếp nạn “chết không toàn thây, “ma không đầu” dưới Thập điện Âm phủ…
10.
Vào đầu những năm 90, cả nền điện ảnh Việt Nam tan tác như ong vỡ tổ, nhiều người làm phim đã phải tìm vào Sài Gòn – nơi đang sôi động với phim “mỳ ăn liền” để giữ nghề, và để kiếm sống, cùng với Thế có nhà biên kịch Nhuận. Trong khi Thế “chào thua” để làm dịch vụ văn hóa thì Nhuận lại lao vào viết kịch bản, làm cả đạo diễn loại phim như thế, có tên: Người nghèo cũng cười (theo motif phim “truyền hình xà-phòng” nước ngoài Người giàu cũng khóc xáo động màn ảnh nhỏ một thời!). Bế tắc vẫn hoàn bế tắc, bởi khó có thể “Khóc – Cười” lâu với với loại phim thị trường hạ cấp này, Nhuận cùng một số anh chị em điện ảnh tạm gọi là “trẻ” đứng ra thành lập “Trung tâm Điện ảnh Trẻ” mong cứu vớt điện ảnh nước nhà; cuộc họp ra mắt đông đảo tại Hội Điện ảnh Việt Nam, và đã bầu ra năm “thủ lĩnh đáng ghét” (dĩ nhiên là đáng ghét đối với những người lãnh đạo Văn hóa – Điện ảnh lúc đó) - gồm Trọng Lưu, Tiến Phi, Hoàng Nhuận, Nguyễn Quang, và Thế (được sự ủng hộ ngầm của một số đạo diễn đàn anh, trong đó có các đạo diễn Huy, Đặng Nhật).
Một ngày cuối đông vào năm Liên Xô sụp đổ, một sự kiện mà Lịch sử Điện ảnh Việt Nam chắc chắn sẽ phải trân trọng ghi lại, khi sự hẹp hòi vĩnh viễn trở thành quá khứ: Tổ chức của những người sáng tác & hoạt động trẻ trong ngành Điện ảnh ra đời mang tên TRUNG TÂM ĐIỆN ẢNH TRẺ. Thế đã thay mặt cả Trung tâm viết và đọc bài ra mắt của Trung tâm tại phòng chiếu phim của Hội Điện ảnh:
Nhu cầu trẻ hóa, năng động hóa luôn luôn nằm trong bản chất của một nghệ thuật nhạy cảm và giàu tính quần chúng - đó là nghệ thuật Điện ảnh. Những “làn sóng mới” của Điện ảnh nhiều quốc gia có thể nói là những cuộc “giải phóng năng lượng sức trẻ” ở ngay trong những “con tàu Điện ảnh” nặng nề tìm cách xuyên qua các châu lục và các thế kỷ… Không thể chậm chễ hơn được nữa, Điện ảnh Việt Nam cần phải chuyển mình sau những giấc ngủ dài mê mệt với những cơn mơ hãi hùng… Thế hệ Điện ảnh trẻ Việt Nam - thế hệ kế cận đã có lúc hoang mang, chán nản, bế tắc. Nhiều mảnh đất bỏ hoàng trong Điện ảnh mà trên đó đua nhau mọc đầu cỏ dai, cỏ độc… Mang dòng máu của cha ông đất Việt, kế thừa truyền thống của nền Điện ảnh Cách mạng gần 40 năm, thế hệ Điện ảnh trẻ Việt Nam hôm nay không thể khoanh tay phó mặc, họ thấy rằng cần phải tập hợp nhau lại trong một tổ chức tự nguyện để góp phần tháo gỡ khó khăn chung cho cả ngành… Trung tâm Điện ảnh Trẻ ra đời, cần hoạt động ra sao để duy trì sự tồn tại và uy tín cần thiết của mình? Làm gì có lối vạch sẵn! Lỗ Tấn từng nói: “Thế gian làm gì có đường đi, cứ đi mãi sẽ thành đường”. Cuộc tụ họp hôm nay cũng có thể là một lời kêu gọi các thế hệ điện ảnh đi trước cảm thông và trợ lực cho bước đường gian khó của những thế hệ Điện ảnh tiếp nối…
Sau khi Đại hội bầu ra được một Ban điều hành Trung tâm (gồm 5 người), Ban điều hành đã gấp rút tiến hành một loạt công việc: Hình thành các Tiểu ban hoạt động; làm thẻ cho các thành viên Trung tâm (hơn trăm người, có cả sinh viên, học sinh nhiều tỉnh thành); khắc con dấu riêng; xin giấy phép hành nghề của Bộ Văn hóa-TT-TT-DL; thành lập hoặc đỡ đầu một vài lớp học về năng khiếu Điện ảnh; không ít kịch bản vứt lay lắt phủ bụi trong ngăn kéo Biên tập các Hãng phim được Trung tâm đọc thẩm định; lo tìm nguồn đầu tư sản xuất và phát hành; liên kết với một số đơn vị nghệ thuật phía Nam; và sau đó một vài đầu phim của Trung tâm đã vào giai đoạn bấm máy…
Song không ít ý tưởng kịch bản của nhóm Điện ảnh Trẻ này, theo thói quen “cầm đèn chạy trước ô tô”, tự kiểm duyệt trước, ai cũng thấy ngay một điều là: nếu có được đầu tư cho quay thành phim thì sẽ không thể lọt qua Hội đồng duyệt phim Quốc gia, bởi chúng xoáy sâu vào số phận và những dằn vặt của kiếp người, là sự thao thức trăn trở kiểu B. Pasternak, M. Bulgakov, A. Solzhenitsyn, A. Kron, v.v, mà nhiều năm sau vẫn bị coi là vùng “cấm kỵ”! Thế rồi, như “đá ném ao bèo”, cuộc “khởi nghĩa” rầm rộ của dân làm phim Trẻ mà thực ra chẳng còn trẻ gì nữa đã mau chóng bị lãng quên, và chắc chắn đã bị ghi vào “Sổ Lưu ý để quan tâm giáo dục” của Lãnh đạo Văn hóa & Điện ảnh các cấp…
11.
Cũng vào thời gian này, Thế trở ra Hà Nội thì nhà không còn vì bố mẹ đã bán để chuẩn bị chuyển hết vào Sài Gòn, hiện ở tạm nhà cô em gái anh… Bố anh được một Công ty Du lịch có “máu mặt” hứa hẹn tổ chức triển lãm cá nhân để ông bán tranh…
Trong lúc lang thang vạ vật, anh được ông Văn, nhà biên kịch lâu năm đã về hưu của Hãng mời đến nhà ở, vì ông quý Thế và muốn anh gần gũi giúp đỡ cậu con trai đang làm thư ký trường quay. “Nó có nhiều năng khiếu, song ít chịu học hành, lại quen sống tự do trong môi trường làm phim mà ai cũng coi mình là ‘nghệ sĩ nhớn’… Chú muốn cháu kèm cặp, phụ đạo cho nó nên người và thành nghề hẳn hoi. Đến đây đi, chú dành cho một phòng riêng, hai anh em tha hồ đọc sách, xem phim, trao đổi nghề nghiệp phim ảnh. Chú thấy nó cũng rất quý cháu…”. Cảm động trước tấm chân tình đầy trọng thị đó, Thế đã ba lô khăn gói đến nhà ông ở hai năm ròng… Hai ông bà có nghề phụ đóng gói nhân trần, mở quán nước, thi thoảng Thế cũng sà vào đóng gói nhân trần giúp ông bà. Và một bài báo liền ra đời trên một tạp chí thời thượng với tiêu đề: “Chàng đạo diễn điện ảnh thất nghiệp chuyển sang nghề sản xuất nhân trần”!
Giai đoạn sống ở nhà ông Văn để nhiều dấu ấn đặc biệt cho Thế…
Ông Văn xuất thân là một anh bộ đội thời kháng chiến chống Pháp, từng tham gia đánh giặc tại Lào với chức vụ Chính trị viên Đại đội. Ông là con người cương nghị, chính trực và cũng giàu tình cảm. Tại nhà ông, Thế đã được nghe ông kể về những cuộc đấu đá, thanh trừng ghê rợn giữa lòng Xưởng phim nhiều năm trước, mà ông là một trong những đối tượng bị coi là “chống Đảng” suýt bị kỷ luật khai trừ khỏi đảng - bởi lãnh đạo không ưa tính ngay thẳng, bất cần của ông, nhất là khi ông thẳng thừng phê phán sự bao che tội lỗi một cách ngang ngược và bỉ ổi cho kẻ cùng vây cánh lãnh đạo! Ông đã bị vu là người đứng ra tập họp những kẻ thoái hóa để chống lại đảng bộ Xưởng phim, có ý đồ chống lại đường lối văn nghệ lấy Công Nông Binh làm đối tượng phản ánh và phục vụ, đã cố ý thổi phồng sự bất mãn cá nhân của vài người với mục đích ‘quấy rối phá nát nội bộ’… “Hồi ấy, có vài nghệ sĩ bị cơ quan an ninh đến Xưởng xích tay đưa đi… Chú có tên trong danh sách “chống đảng”, nhưng họ không dám quá tay với chú, không phải vì họ thương hại nể nang phục tài chú đâu, mà vì nếu họ quyết khai trừ chú ra khỏi Tổ chức, với lý do đảng bộ kết tội thì đâu phải chỉ mất thẻ đảng và bị xã hội coi khinh, mà còn dẫn tới bắt bớ, giam cầm, truy bức, bị tước đoạt tư cách công dân, nhưng họ cũng hiểu: nếu tới mức đó chú đâu có chịu - cấp trên đâu phải ai cũng quáng gà và nhẫn tâm như họ…”.
Những ngày tháng ăn nhờ ở chực đó liên quan tới một mối tình vô vọng của Thế: Thỉnh thoảng anh phóng xe máy Win (mà anh có được sau cuộc “cày thuê cuốc mướn” chữ nghĩa cho một ông đạo diễn nhớn cùng Xưởng), lên thăm chàng giáo khổ dạy văn học Việt Nam là nhà thơ-nhà báo Bình ở Đại học Sư phạm Hà Nội II trên Xuân Hòa, những hôm Bình có giờ dạy ở trường…
Lần ấy, khi tối mịt, sau khi ăn uống quấy quá cho xong tại quán cơm bình dân ở Thị trấn Xuân Hòa, hai tên đang định quay lên căn phòng tập thể của Bình, thì Bình bảo: "Tôi với ông dạo quanh thị trấn đi?" Thế đồng ý. Hồi ấy, chỉ cần ra khỏi khu vực của trường ĐHSP là khung cảnh vắng ngắt, ao chuôm đầm lầy ngổn ngang. Họ lang thang trong đêm vắng. Chỉ có tiếng côn trùng, ếch nhái hân hoan chào đón những bước chân lãng du...
Quang cảnh tịch mịch của thị trấn nghèo không xa lạ với hai tay nhà giáo ôm mộng thi sĩ, kịch sĩ, nhưng lần nào họ cũng đều tìm thấy thêm một điều gì đó thi vị, thân thương đối với hai kẻ cô đơn, tình yêu dở dang, hạnh phúc gia đình trắc trở... Đi mãi lên gần phía hồ Đại Lải, một cơn mưa giông bất chợt ào xuống, hai người chạy vội trú chân trong một quán lá sơ sài ven đường. Hai người rét run, im lặng nhìn mưa đêm, âm thầm theo đuổi những nỗi niềm run rẩy mơ hồ của cõi đời phù du...
Hơn tiếng sau, mưa ngớt, hai tên lóp ngóp trở về phòng tập thể của Bình... Quá nửa đêm, khi Thế đang gật gà ngủ ngồi bên một cuốn sách, thì Bình lay anh dậy. Bình đã đặt sẵn chai rượu trắng nút lá trên sàn đá hoa. "Ngủ làm gì ông, phí của giời!" Bình với tay lên bàn cầm một tờ giấy có những dòng viết vội. "Làm tí rượu nhạt cho tỉnh, rồi tôi đọc ông nghe. Tôi vừa viết xong đây." Bình đã đọc cho anh nghe bài thơ MAI EM VỀ NHÀ CHỒNG đề “Tặng Nguyễn Yên Thế” bằng cái giọng sang sảng của một giảng viên văn khoa và đượm nghẹn ngào của của một thi sĩ đa cảm mà sự mộng mị đắm đuối đầy những linh cảm bất trắc được khung cảnh vắng lặng nhoè mưa của thị trấn buồn phụ hoạ thêm:
…Chỉ còn đêm mưa này
Ngày mai em về nhà chồng
Mưa giăng trắng cánh đồng
Phố xá sau lưng, bạn bè trăm ngả
Anh nhìn em qua mưa hun hút đường dài...
Anh thức qua đêm nhìn mưa
Anh thức qua năm tháng nhìn em
Anh thức qua cuộc đời nhìn tình yêu…
Thế định hỏi ngay: "Vì sao ông lại đề tặng tôi, chẳng phải là ông viết cho Em nào sẽ về nhà chồng?" Nhưng anh đã không hỏi, và không bao giờ hỏi nữa. Bởi ngay sau đó, anh chợt đặt mình trong tâm trạng của Bình. Nếu Thế có làm được một dòng thơ nào trong đêm ấy, dù là có nghĩ về ai hay làm cho một đối tượng nào đó, anh cũng sẽ chỉ đề tặng Bình mà thôi. Độc thoại trong đêm mưa và đối thoại trong im lặng đã là nguyên cớ để bài thơ ra đời. Cô em nào đấy ngày mai, hoặc ngày kia đi lấy chồng, đâu có quan trọng! Điều chính yếu là từ rất lâu rồi, Bình đã để tuột cơ hội tìm một tình yêu và hạnh phúc đích thực... Thế nói với Bình:
- Ông ơi! Nỗi cô đơn và cảm giác bất lực xót xa trước những gì tốt đẹp ta hằng khao khát cứ rời xa ta từng ngày từng giờ đã là nguồn cảm hứng thơ ca của nhiều thời đại; và thật không may, hay là may mắn, ông đã bị chúng bất chợt "tóm" mất hồn vía trong một đêm mưa thật buồn!
- Ông hiểu tôi như lòng bàn tay ông đấy! Thôi uống tiếp nào!
Thế miên man trong cảm nghĩ về bạn… Đêm mưa Xuân Hòa ấy thức dậy trong Bình bao đêm mưa và chiều mưa của một tuổi trẻ từ "xứ đồi" ra thành phố, nghèo túng, long đong, phải chật vật tìm hướng đi cho khát vọng đời mình, tìm cách giải tỏa bao cơn "tức nghẹn" của sự nghiệp văn chương, khi Phố xá sau lưng, bạn bè trăm ngả và hạnh phúc tưởng đã nắm gọn trong tay mà hóa ra mịt mù sương khói... Giả sử Bình có một cô người yêu nào sắp lấy chồng ngày đó thì chắc cũng không da diết, buồn thương khắc khoải đến thế! Mà thực ra, không ít cô gái - trong đó có học trò thầm đeo đuổi anh chàng tài hoa đeo kính cận dày cộp có khả năng làm tan hoang rơi rụng trái tim người bởi giọng nói tự tin thủ thỉ, và có thể cũng được anh đền đáp ít nhiều về tình cảm, rồi họ chẳng liên tiếp báo tin là sẽ đi lấy chồng đấy thôi! Nói cho công bằng, "cô em mai đi lấy chồng" trong bài thơ là hình bóng của tất cả những cô gái yêu Bình, được anh trân trọng tình yêu đó - nhưng họ lại không có điều kiện để đến được với nhau lâu dài... Bình ít có khả năng dung hòa được giữa thực tế trần trụi và ước vọng cao vời, Bình tìm an ủi trong học trò, bè bạn. Không có bất kỳ khả năng "đập phá" nào, Bình tìm sự giải tỏa trong thơ, nhạc, tranh vẽ... Và Bình đã chọn một đêm mưa Xuân Hòa, đúng hơn là đêm mưa đó đã chọn anh - khi đồng cảm cùng thằng bạn cũng "ngơ ngẩn" về đời sống như mình, để lưu lại trong vườn Thơ một đóa hoa không màu mà chứa đủ các màu sắc như giọt mưa giữa bầu trời của tâm hồn thi sĩ…
Như hiểu được tâm trạng của Thế, Bình bảo:
- Trong nhóm sinh viên thân thiết của tôi có em Phạm Yến, người Điện Biên, tôi có ý định giới thiệu với ông từ lâu, cô bé có tâm hồn nhạy cảm nhưng không có tham vọng làm văn sĩ thi sĩ, diễn viên, nên có thể làm vợ ông tốt đấy, và ông chắc sẽ không phải rơi vào cảnh ngộ chia tay để “mai em đi lấy chồng” như tôi đâu…
“Ông mối” Bình quả mát tay: Chỉ sau một lần giới thiệu, Thế và cô sinh viên văn năm thứ ba đã quấn quýt nhau như hình với bóng, nhiều lần Thế lên Xuân Hòa chẳng có thời gian vào thăm “ông bạn vàng”. Thế và Yến trong cảnh “mèo ôm chuột” đã qua nhiều quán cơm bụi, nhà trọ bình dân ở Xuân Hòa, Hà Nội, Sơn La, Điện Biên… Khi Yến tốt nghiệp, Thế đưa cô tới ra mắt ông Văn. Ông cảm động lắm, bởi Thế đã coi ông như bậc làm cha khi bố mẹ anh không ở Hà Nội. Ông bảo riêng Thế: “Đó, cô chú đã từng mong có một cô con dâu như Yến, nhưng thằng Tùng con chú giờ đã thành đệ tử của ma men, cờ bạc rồi, chú chẳng hy vọng gì nữa… Nó mà lấy vợ sẽ làm khổ vợ con cả đời… Yến nó hiền lành, chẳng có tham vọng gì khác ngoài trở thành một cô giáo dạy văn, làm “nội tướng” cho cháu rất tốt, đồng thời cũng là bạn tâm tình về văn chương được. Cô chú sẽ cho hai cháu cái căn buồng cháu đang ở đấy, làm căn buồng hạnh phúc…” Thế đã mừng chảy nước mắt.
Nhưng đời ai tính được chữ “ngờ”!
Sau vài lần Thế đưa Yến tới nhà ông Văn, “nghệ sĩ nhớn” Tùng, thư ký trường quay dự bị của anh đã ra mặt tán tỉnh Yến, cậu ta còn bóng gió cho người yêu của anh hiểu: Căn buồng mà ông Văn hứa hẹn đó là của cậu ta, Thế chỉ là kẻ ăn nhờ ở đậu bữa đực bữa cái, cậu ta có thể bắt cuốn gói đi lúc nào cũng được… Chỉ với một điều kiện: Yến phải trở thành người của đạo diễn tương lai Tùng chứ không phải của tay đạo diễn nghèo bị cả Hãng phim hắt hủi kia, thì cả nhà sẽ cho hắn ta tiếp tục ở nhờ vô thời hạn… Yến đã ôm lấy Thế mà khóc: Em không ngờ anh lại phải sống với cái thằng thô lỗ miệng sặc mùi rượu đó gần hai năm trời… Sao anh khổ thế, anh! - Thế an ủi: Chỉ vì anh quý trọng chú Văn, một con người đáng quý, một cây bút có giá của văn học và điện ảnh nước nhà… Và anh thương chú ấy… Có mỗi cậu con trai độc đinh, đặt bao hy vọng vào nó, vậy mà… - Anh làm sao cải tạo được một kẻ như thế, hở anh? Chẳng phải anh từng bảo em: ông Lỗ Tấn nói từ huyết quẩn ra là máu, còn từ vòi nước thì chỉ có thể là nước lã… - Ừ, ngay từ ngày đầu, anh cũng đã cảm thấy như vậy, nhưng mong muốn của chú Văn thiết tha quá nên anh thành kẻ ảo tưởng mất rồi… Nhưng sự xuất hiện của em chẳng phải là giúp anh “Vỡ mộng” một cách đích đáng hay sao! Tuy vậy cái vỡ mộng của anh không đau đớn như của Luyxiêng với đời và của người thân với chàng ta trong tác phẩm của Banzắc[48]! - Anh đúng là kẻ mơ mộng, thầy Bình nói không sai, lại mơ mộng hơn cả thầy ấy… Em trông mong gì được ở anh, hở nhà mơ mộng vĩ đại đáng thương của em?
Nói vậy nhưng Yến vẫn hết sức trông mong tin cậy vào tài xoay sở của Thế trong việc chạy xin việc cho cô, và gây dựng tổ ấm cho hai người, cho đến lúc cô hoàn toàn vỡ mộng. Lại cảnh “mèo ôm chuột” nhiều nơi trước hết để tìm chốn dung thân, sau đó tìm mọi ngóc ngách kẽ hở để chạy việc “làm cô giáo” cho Yến, thậm chí là dạy cấp một cấp hai hoặc làm nhân viên trường học cũng xong - giữa cái thời Kim tiền sấp ngửa kinh khủng gấp bội so với thời Thế yêu Thảo Bê tông! Thế có lần nhờ ông Văn giới thiệu đến một cơ sở làm bánh quẩy để Yến học nghề này, trong khi chờ cơ hội vào nghề dạy học, song chỉ được ba hôm, Yến nước mắt lưng tròng bảo người yêu: “Em chịu thôi, vất vả lắm, mà chẳng ăn thua gì đâu, chính cơ sở ấy cũng sắp đổ bể rồi… Hay anh tìm cách đưa em vào làm thư ký trường quay, làm trợ lý đạo diễn cho anh?” - “Đến kẻ có hai bằng đại học loại ưu như anh, chỉ vì rỗng túi thì cũng chẳng là cái thớ gì, và chuẩn bị phải bán xới khỏi nơi đó rồi! Mà em biết không, cậu phụ động thân với anh năm trước vì không có tiền chạy vào biên chế nên đành nuốt nước mắt nhường suất trợ lý đạo diễn thơm tho ấy cho con cháu lãnh đạo, phải bỏ đi xuất khẩu lao động, em đừng ngồi mơ Cung Trăng nữa…”.
Lần Thế phải vào Sài Gòn ba tuần giúp bố anh tổ chức triển lãm tranh cá nhân, anh nhận được hai thư của Yến.
“Hà Nội ngày…
Anh thân yêu và nhớ nhiều của em
Vậy là em xuống Hà Nội hôm nay là ngày thứ ba, nhớ và mong anh vô hạn… Sáng nay em tới nhà thầy Bình hỏi thăm anh đã ra chưa, thầy bảo: Nếu ra anh đã vào ngay chỗ thầy. Em có dặn thầy nếu anh ra, anh tìm em ở nhà bác Văn, bởi ở Hà Nội em chỉ có mỗi chỗ này… Em hiện đang ở nhà hai bác, buồn chán và cô đơn giữa chốn Đô thành xa lạ. Anh Tùng thấy em một mình thì lại tìm cách tán tỉnh gạ gẫm em, những lúc đó em liền dắt xe đạp ra khỏi nhà, một mình lang thang trên các phố ngắm nhìn cảnh vật mà không biết mình đi đâu… Nhớ anh kinh khủng, khi nào thì anh ra với em? 14 này em phải xuống trường để thi lại môn Giáo học pháp rồi, không chờ anh ở đây được nữa… Hôm ở Điện Biên, em đi nhờ được một xe con về Hà Nội, lúc 5 giờ chiều đi, 9 giờ tới Tuần Giáo, cả đoàn nghỉ lại Khách sạn Tuần Giáo, gần cả đêm em không sao ngủ nổi vì xa nhà và nhớ anh… Gần sáng vừa chợp mắt chút xíu thì các cô gọi dậy ra xe, em ngủ gà ngủ gật trên xe cho tới lúc không khí lạnh trên đèo Pa Đin tạt vào xe… Tỉnh dậy, em ngỡ ngàng trước cảnh rạng đông trên núi mà tới hôm đó em mới được chứng kiến… Lúc đó em ao ước giá như có anh bên cạnh thể nào anh cũng có một bài thơ hoặc một bức ảnh tuyệt đẹp về quang cảnh này… Xe đi trên đỉnh đèo, một bên là núi đá một bên là vực thẳm xung quanh mây mù bao phủ, ánh đèn pha ô tô rọi trên mặt đường tao nên một vệt sáng kỳ ảo. Phía dưới thung lũng là một biển mây bồng bềnh, có chỗ bằng phẳng như một tấm thảm, như một mặt biển đóng băng, thỉnh thoảng có những ngọn núi mây phủ kín chỉ hở ít chăn như những hòn đảo nhỏ giữa biển khơi; còn trước mặt là nền trời mầu hồng có những tia nắng đầu tiên xuyên dần qua lớp mây đen như thể khó khăn lắm, nhưng lại càng làm cho nền trời góc đó càng trở nên sáng hồng hơn, và bắt đầu hòa thêm sắc vàng, sắc tím, sắc xanh lam đẹp tuyệt vời… Em thêm hiểu vì sao anh gắn bó với Tây Bắc đến thế, vì sao anh đã yêu thương em, và vì sao em chấp nhận ngay tình yêu của anh như một định mệnh… Qua khỏi đèo Pha Đin sang tới địa phận Sơn la - “quê hương thứ hai của anh” như anh tự nhận, em lại được chứng kiến cảnh tàn phá của trận lụt vừa rồi ở Mai Sơn, bao nhiêu công trình, nhà cửa, ruộng vườn bị san phẳng, nước và bùn còn ngập đường giao thông, vất vả lắm xe em mới qua được. Tới Hòa Bình, lại vẫn cảnh lụt lội vừa diễn ra, nhiều ngôi nhà bị ngập tới mái… 6 giờ tối em mới đến Hà Nội, và chỉ biết đến nhà bác Văn thôi. Em rất muốn ghi thư cho anh qua địa chỉ nhà bác, song ngại vô cùng, vì biết đâu anh Tùng sẽ bóc trộm thư anh… Thôi em chịu khó chờ anh tới ngày 14 không thấy anh ra, em sẽ lên trường và anh ghi thư cho em theo địa chỉ trường anh nhé? Mong anh quá… Thôi em dừng bút đây. Anh cứ yên tâm là “Mèo con” gầy gò của anh bây giờ béo khỏe hơn, và luôn nhớ đến anh… Em chờ anh.
Em của anh.”
“Hà Nội ngày…
Anh nhớ nhiều!
Hôm nay nhớ anh, em đọc lại mấy bài thơ của anh do thầy Bình chép cho, mà anh chưa đọc em nghe bao giờ, chắc bởi đó là anh viết cho cô học trò nào nảo trên Tây Bắc… Em không ghen đâu mà sợ! Anh biết vì sao không? Bởi em cảm thấy như đó là những dòng anh viết dành cho riêng em:
Em có biết suối này chảy về đâu
Anh mong em. Suối vô tình thân thuộc
Anh nhớ em. Sương rừng giăng giá buốt
Mảnh trăng nghiêng thêm lạnh một căn phòng…
Anh lên miền Tây trời chẳng còn trong
Mưa bất thần. Lũ về đột ngột
Như nỗi nhớ chẳng hề báo trước
Anh lại thèm đi. Khát gió trăm miền...
Gặp lại, em phải phạt anh thật nặng vì cái tội anh luôn giấu em thơ của anh…”
“Đòn quyết định”[49] cho thiên tình sử của đôi tình nhân mơ mộng bắt đầu khi Yến đưa người yêu lên Điện Biên để ra mắt chính thức bố mẹ anh chị em cô chú bác vốn xuất thân từ một làng khai hoang người Thái Bình lên miền Tây xây dựng kinh tế mới từ những năm 50. Bố Yến là một thầy giáo cấp Một, quý Thế ngay khi biết anh cũng từng là “giáo khổ” Tây Bắc. Nhưng mẹ và mấy bà cô ruột, nhất là hai người chị của Yến được coi là “chuyên gia về Tình yêu và Hôn nhân” thì ỉ eo (qua Yến tới Thế): “Ôi chao, tin thế nào được bọn thanh niên công tử Hà thành, nhất là một tay đạo diễn điện ảnh lúc nào cũng có hàng đống bóng hồng vây quanh xin xỏ cầu cạnh để vào vai diễn… Nó lấy cái Yến xứ Mèo xứ Thái về đâu phải làm diễn viên, mà để làm ô sin cho nhà nó thôi…”. Mặc dù Thế rất nhẫn nại, cố gắng cư xử theo phong cách “giáo khổ Tây Bắc” - nghĩa là chân tình, mộc mạc, không kiểu cách xã giao, nhưng chỉ hơi “lung lay” được bà mẹ, còn hai cô chị và mấy bà bác thì Thế đành bó tay chịu trận - định kiến về cái nghề anh đang theo đuổi sao lại nặng nề đến thế, tới tận ranh giới cuối cùng của miền Tây Bắc rộng lớn?
Lúc Thế đưa Yến ra bến xe để cùng trở về Hà Nội, thì tình cờ có tiếng gọi giật:
- Thầy Thế phải không?
Hóa ra đó là Long, một anh lái xe tải cũ của trường Sư phạm, một học viên bổ túc cấp Ba của anh, một khán giả nhiệt thành của các chương trình văn nghệ của trường Sư phạm, và có lần đã vào một vai phụ trong một vở kịch của anh và Phúc. Long vồn vã tay bắt mặt mừng Thế như người thân lâu ngày mới gặp lại .
- Thầy và em về Hà Nội à? Tôi cũng có chuyến về đây, mời hai vị đồng hành cho vui. Tôi sẽ mời hai vị tới thăm một chỗ cực hay…
Vì nể nang, Thế đồng ý, nhưng chỉ Yến ngồi trong ca bin, còn Thế thì ngồi trên thùng xe chở tre nứa… Trên con đường số 6 năm xưa, hiện đại hơn, rộng rãi hơn nhưng không hết những ổ trâu được phóng đại thêm bởi cái sóc của xe tải, có lúc Thế chợt nghĩ đến tâm trạng của nhân vật từng sống trên mảnh đất này mà anh tạo ra - chàng thiếu úy Pháp, nhà dân tộc Pháp Cornaul sau khi từ giã người yêu thuộc Ban xòe của vua Thái Đèo Văn Long:
Trên con đường quốc lộ chiến lược số 6 đầy bụi, hai chiếc xe Cam nhông chở tù binh, hàng binh Pháp phóng nhanh về phía Hà Nội.
Trên xe, Cornaul ngồi dựa vào thành xe, anh hình dung lại gương mặt người yêu dấu đang chập chờn ẩn hiện cùng những cánh ban có vệt tím bầm ở giữa, những bước chân đẫm máu tươi đêm xoè ấy... Cornaul rưng rưng khóc, bên cạnh, những người tù binh Pháp lặng lẽ, mỗi người theo đuổi một tâm trạng riêng...
Chập tối, xe tải dừng lại bên một vùng hoang sơ còn nhiều cánh rừng nguyên sinh cuối thảo nguyên Mộc Châu. Long bảo Yến:
- Em này, anh là bạn của thầy Thế đây từ hồi ở trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc, lâu lắm mới gặp lại, tưởng lên đạo diễn thì quên bè bạn cũ, nhưng anh đã lầm to. Để sửa sai, giờ xin đưa hai vị tình nhân tới thăm thú hang có tên Tình yêu nhé? - Nói với Thế - Trên xe, tôi thấy cô nàng đây buồn khó tả, tôi không dám hỏi… Ở Hát Lót, tôi đã chuẩn bị lương thực cho hội thám hiểm thiên nhiên của chúng ta đêm nay đây rồi, ông nghệ sĩ sẽ có dịp an ủi người đẹp…
Nói xong, anh lên xe lôi ra mấy bọc, can nhựa, trong đó có hai tấm vải bạt lớn, gọi Thế khuân giúp. Thế cười: “Vậy là cậu có cảm tình với vùng đất được mệnh danh là “Nàng tiên ngủ trong rừng” này hơn bọn tôi đó!”.
- Chứ gì, cái đó đâu phải độc quyền của dân văn nghệ các ông! - Anh tài xế nói và nháy mắt về phía Yến.
Bên cửa hang đá, một đống lửa đã được nhen lên nhờ sự tháo vát của anh tài xế đã nhặt cây khô và can xăng đem theo, và mỗi lúc một bốc cao. Trước đó, ba người đã thăm hang đá, với cây bùi nhùi của anh tài xế. Trong ánh lửa, trần hang và thành hang lấp lóa nổi lên muôn hình thù kỳ lạ và bí ẩn. “Ban ngày, hang Tình yêu có vẻ đẹp riêng, còn ban đêm, nó còn đẹp hơn thế nữa, đôi chim cu của tôi ạ - Anh tài xế có tâm hồn lãng tử hăng hái giải thích cho đôi nam nữ đang ngây người ra trước cảnh tượng lần đầu tiên mới thấy trong ánh lửa của thời nguyên thủy.
- Bối cảnh này sẽ có lúc tôi dùng đến đó, ông bạn thân mến! - Thế sung sướng reo lên, và anh đâu ngờ sẽ là lời tiên báo cho chính anh vài năm sau đó thực hiện bộ phim nhựa đầu tay về người Mông: tại một hang đá ở vùng cao Tây Bắc anh đã yêu cầu tổ quay phim dùng tới cả nghìn mét phim màu négatif 400 ISO đã chuẩn bị trước lúc khởi hành!
Bên đống lửa, Long bày ra một bữa tiệc đơn sơ: mấy miếng thịt trâu sấy khô kèm gói muối rang giã nhỏ trộn mắc khén[50] của người Thái, chục chiếc măng lay đã luộc, hai chiếc bánh dày người Mông, và ba cốc nhựa vàng đầy rượu trắng men lá rót từ chiếc can nhỏ màu trắng.
- Nào, can pây! (Tiếng Thái: cạn chén) - Anh tài xế nâng cốc lên.
Yến lắc đầu - Em không biết uống rượu - Thế thì em cứ nâng lên chúc cho tay lái vàng của bạn anh, và chúc cho tương lai của chúng mình! - Thế động viên.
Yến xấu hổ cầm chiếc cốc lên bằng hai tay, vừa ngấp một ngum nhỏ cô đã rời cốc ho sặc sụa.
- Thế mà đòi học làm nghề thư ký trường quay, nghề trợ lý đạo diễn! - Thế nhăn mặt đùa.
Nhưng trước câu đùa đó Yến lại trở nên ủ rũ, vì động tới tương lai nghề nghiệp mù mịt của mình. Và cô chợt thấy thương anh, chàng nghệ sĩ ôm bao khát vọng đẹp nhưng “chỉ giàu có nỗi buồn và trăn trở” như anh từng nói. Nhưng tình thương của cô chỉ có thể tô điểm cho cuộc sống của anh - tựa những tàn lửa đang bay lên không trung làm sinh động thêm cảnh quan thiên nhiên hoang sơ kia! Thương và có chút ái ngại, tội nghiệp cho anh, giữa lúc anh chật vật để có phim đầu tay và lo tìm việc cho cô, chỉ là kẻ “tay không bắt giặc” mà thôi, anh vẫn say mê chỉ tay vào không gian trước mặt nói về ý tưởng hình thành một phim trường thiên nhiên hoang dã theo tiêu chuẩn studio film thế giới… Nhưng chỉ tới đêm nay Yến mới hiểu Tây Bắc là phần quan trọng thế nào trong cuộc sống người yêu: Anh kể cho hai người nghe, hồi dạy học trên này, có năm anh đã không về nghỉ phép để lang thang nhiều ngày trên thảo nguyên đục sương mù, sống bên những bếp lửa nông trường mùa thu hoạch, trò chuyện với những người người lính cũ làm nông nghiệp còn mặc áo trấn thủ bạc màu và những cô công nhân quá lứa quá thì để lấy chất liệu viết kịch. Trong tâm hồn cô sinh viên văn như hiển hiện ký ức về Thảo nguyên qua tâm tình của những công nhân trồng cỏ, trồng ngô, trồng bông với chàng “giáo khổ” có máu lang bạt kỳ hồ: những dải đồi hanh khô, cỏ tranh cằn vàng úa, gió lào hoang dại, bóng mây nhức mắt, nơi vầng trăng lạnh thêm trong tiếng sói hú hổ gầm, người công nhân sống qua những ngày sương muối lạnh tê người, lạnh tới độ nai rừng phải chui vào lán nông trường ngủ ké… Nơi ấy còn in bao dấu chân của những công voa[51] tù chính trị thời tiền Khởi nghĩa bị lưu đày lên chốn ma thiêng nước độc không hy vọng có ngày về… Vậy là anh ấy từng sống nhiều ngày hè với những người công nhân đầu hai thứ tóc, nghe họ kể và ghi chép tỷ mỉ từ buổi đầu phạt cỏ tranh, đánh gốc, san nền cho đến ngày trèo lên cao tìm hướng đi của đất, ngày được bấm ngọn, cày vun, tuốt lá đánh cành, phun thuốc bảy lần cho ruộng bông cao sản… Anh ấy đâu chỉ mơ mộng trăng sao mây gió mà còn lăn vào quả bông lầm bụi đất để cùng đoán lượng mưa lượng nắng, để thu lượm được biết bao lời ăn tiếng nói, cảm nghĩ dân dã… Anh ấy vốn là kẻ như “tự họa”: Những trưa chói chang, những lúc sương chiều/ Hay những sớm khi chim rừng mở hội/ Trên những nẻo đường quanh co ven sông ven suối/ Có một người trai đang đi… Chao ôi, làm cái nghề viết kịch viết văn cực quá, mình thì chịu! - Yến thầm nghĩ.
Long hỏi, như hỏi thay cho Yến:
- Hồi thâm nhập thực tế ở nông trường, thầy có yêu cô công nhân nào không đấy? Có để lại “hạt giống” nào ở Thảo nguyên?
Thế không trả lời ngay. Anh nhìn đăm đăm vào ngọn lửa vừa bốc tàn lên sau khi Long chất thêm củi khô.
- Nói là không thì chẳng hẳn vậy… Mà nói là có thì không chính xác
- Anh ỡm ờ nước đôi đấy à? - Yến kêu lên.
- Thực ra… Chuyện này em đừng để bụng nhé? Có một cô công nhân trạc ba mươi tuổi, cũng khá xinh xắn, nửa đêm tìm đến phòng trọ của anh, phòng do nông trường thu xếp… Mặc dù anh ít hơn bốn tuổi, cô ấy luôn xưng “anh em” với anh như cả tuần trước đó, và hay tìm cớ đến chỗ anh trò chuyện, đòi anh đọc thơ cho nghe… Đêm ấy, cô chân thật bày tỏ muốn có một đứa con với anh…
- Thật thế à? Anh trả lời sao? - Yến nóng ruột
- Cô ấy tâm sự: không chỉ mình cô, mà nhiều cô gái trên nông trường đã quá lứa quá thì nhưng không về quê lấy chồng được, còn trên này thì đàn ông ai cũng có gia đình cả… Mơ ước có một tổ ấm đã tàn lụi, giờ đây cô chỉ muốn có một đứa con để thực hiện thiên chức làm mẹ… Có con làm bầu bạn sớm hôm… Cô ấy bảo, cũng có mấy người đàn ông đã có vợ tìm cô, muốn giúp cô điều đó, nhưng cô đều đắn đo rồi làm kế hoãn binh… bởi cô muốn tìm người đàn ông nào cô thực lòng yêu…
- Vậy là cô ấy thực lòng yêu anh! Thế còn anh? - Yến sồn sồn.
- Em đừng vội thế, em định làm bà La sát đấy à! Anh thấy thương cô ấy quá, nhưng chỉ cầm hai tay cô ấy bảo: Tôi cũng thương quý chị lắm, nhưng… Tôi đã có người yêu…
- Anh đã yêu cô nào thế?
- Em ngớ ngẩn thế? Cô người yêu đó chính là một học trò cũ của anh, nhưng thực ra cũng chỉ là “mưa bóng mây” thôi, đúng hơn là “người tình” trong tưởng tượng”… Anh phải bày đặt ra thế để từ chối nhẹ nhàng đề nghị của cô ấy, mặc dù chính đáng, rất con người, song anh cảm thấy… Mình không thể làm như thế với một người con gái trinh trắng còn có cơ hội lấy chồng…
- Em hiểu rồi… Làm chuyện đó phải có tình yêu cơ… Anh và thầy Bình cùng một duộc cả mà… - Yến nói vui vẻ như một sự khám phá có chứng nghiệm của cô.
- Các nghệ sĩ rắc rối tơ vò quá đi! Nếu phải là tôi xem! - Long chêm vào hóm hỉnh
- Anh và em nghe mấy câu này, xem tôi có yêu ai không nhé:
Anh yêu thảo nguyên mỗi lúc lặng thầm
Yêu cả lúc chói chang nắng gắt
Bởi em đến làm bóng cây râm mát
Làm vệt nắng chiều mang hơi ấm qua đêm…
Anh ngồi trong chiều đợi em lúc mai lên
Làm sương sớm đọng trên đầu ngọn cỏ…
Yến thốt lên:
- Em hiểu rồi! Đó là anh yêu một cô gái tưởng tượng khi anh sống trên Thảo nguyên…
- Em đúng là một cô sinh viên giỏi của giảng viên - thi sĩ Bình. Thay mặt anh ấy, anh cho em điểm 10! Đó là một cô gái anh mơ tưởng…
Long mỉm cười:
- Cái cô gái anh mơ tưởng hồi đó bây giờ đã hiển hiện bên thầy đây, phải không?
Cả ba chợt cùng cười phá lên. Yến chưa hết cười quay sang nói với Long:
- Anh Long ạ, hai năm yêu nhau, có bao giờ anh ấy hé ra câu thơ tình nào của anh ấy cho em đâu, giấu như mèo giấu của quý ấy…
- Thì cũng phải có cơ hội chứ! Đọc thơ cho em, thì em và lũ bạn em sẽ riễu là “thơ tán gái”… Với lại xưa nay anh quan niệm làm thơ là chỉ để cho mình thôi, còn buộc phải đọc cho ai nghe thì anh gọi đó là “cảm ngôn”, tránh mang tiếng là kẻ ôm mộng thi sĩ dở hơi… - Anh chống chế.
- Anh không đọc cho em thì em cũng biết thừa, thầy Bình đã cho em đọc mấy bài gọi là “thơ tán gái” của anh đó! Nhưng em lại có cảm tình với anh từ những bài anh bảo là “cảm ngôn” đấy! Anh phải cám ơn thầy Bình đi!
Thế làm động tác chắp tay giơ lên trời diễn trò: “Cám ơn… Cám ơn…”
- Đúng là thầy Bình có làm thơ tặng cô học trò nào thì cô ấy đều tạm biệt để đi lấy chồng cả! Vì thế anh muốn tránh vết xe đổ của ông bạn quý chứ gì? Em không thế đâu nhé! Mà mấy câu về Thảo nguyên vừa rồi của anh, em nghe có âm hưởng gì đó của thơ Apôline, thơ Rinke mà thầy Bình từng đọc cho bọn em nghe…
- Vậy à? Nhưng so sánh liên tưởng kiểu đó thì khập khễnh lắm! Thế thầy Bình có đọc các em nghe bài “Giã từ” của Apôline không?
- Bọn em đứa nào cũng chép sổ tay và thuộc lòng bài ấy - Yến đọc luôn:
Chùm thạch thảo này anh đã ngắt
Mùa thu chết rồi xin em nhớ cho
Mình sẽ chẳng gặp nhau trên cõi thế
Hương thời gian đây chùm thạch thảo
Xin nhớ rằng anh vẫn đợi chờ.[52]
“Trong sổ tay chép thơ của cô Liên tài vụ không hề có những bài thơ kiểu này” - Thế chợt nhớ lại - Còn bài thơ của Rinke “Em biết chăng: những vì sao rụng xuống”, thầy Bình có đọc các em nghe không? - Yến lắc đầu - Thế đọc:
…trước vũ hội ngây ngất của màn đêm,
trái tim ta bỗng trở nên bình thản
bởi ta biết sau những gì cháy sáng
ta vẫn còn sống sót giữa trần gian![53]
Yến xuýt xoa:
- Bởi ta biết sau những gì cháy sáng - ta vẫn còn sống sót giữa trần gian… Hay thế anh! Anh chép lại cho em nhá?
- Được thôi, chuẩn bị trả nhuận chép cho anh - Thế quay sang nói với Long - Anh Long à, những năm dạy học trên này tôi đã phải giấu kỹ loại thơ văn “không có chút lửa lý tưởng cách mạng nào” - theo quan điểm của những người trả lương cho tôi, để khỏi mang cái tiếng là “tàn dư tiểu tư sản” và thêm cái cớ bị trù úm, và hiện giờ lại càng phải thế, trong môi trường mới…
- Hóa ra, bọn lao động chân tay chúng tôi sướng hơn, tự do hơn các anh nhiều đấy nhỉ? - Long cám cảnh.
Thế tiếp lời anh tài xế, tâm trạng không vui cũng chẳng buồn:
- Hơn nữa, những thằng làm văn nghệ mà không được cầm súng ra mặt trận như bọn tôi thường bị coi ở một “đẳng cấp” thấp hơn hẳn so với lớp người đã hy sinh tuổi xuân, xương máu bảo vệ Tổ quốc…
- Thì cả tuổi trẻ của các thầy đã cống hiến cho văn hóa - giáo dục Tây Bắc đó, gian khổ chồng chất, lẽ nào không có giá bằng họ ư?
Thế im lặng nhìn đống lửa. Còn Yến nhìn anh vẻ cảm thương.
Long đứng dậy dựng lán, Thế cũng đứng lên định làm cùng thì Long gạt đi - Không có gì đâu, thầy để mình tôi làm!
Khi dựng xong hai cái lán bạt cách nhau mươi mét, Long bảo hai người:
- Tôi phải nghỉ đây, mai mới đủ tỉnh táo cầm vô lăng đưa các vị về Thủ đô an toàn. Còn hai vị cứ tự nhiên thưởng thức hương vị hoang dã thảo nguyên nhé!
Nói rồi, Long chui vào lán thứ nhất. Thế nhìn người yêu, cô có vẻ mệt mỏi, cái mệt mỏi sau chặng đường dài hiểm trở miền núi mà những món đặc sản dân tộc cùng các kỷ niệm cũ của hai người đàn ông về các đêm văn nghệ không làm giảm bớt, lại còn thêm vào cho cô những trăn trở buồn phiền khi nghĩ về tương lai. Thế cầm tay cô - Em vào lán nghỉ trước đi - Yến ngoan ngoãn gật đầu - Anh cũng vào nghỉ luôn đi… Khuya lắm rồi - Được, anh ngồi đây một lúc đã…
Thấy cô chần chừ, Thế dắt tay Yến đứng lên bước vào lán. Long thực là anh chàng quen sống “du mục” chốn đường trường Tây Bắc: trong lán Long đã trải chiếu đơn, giăng màn cá nhân và chiếc chăn bông mỏng màu lục có từ thời các nông trường quân đội trên Tây Bắc làm lễ hạ sao, và một chiếc gối thổ cẩm Thái - Thế là, anh ấy nhường hết cho anh em mình nhỉ? - Yến băn khoăn - Không sao, anh ấy cũng như anh, là dân “thổ phỉ” Tây Bắc mà, để cho anh ấy được vui vì đã làm kẻ “nghĩa hiệp” đối với bạn cũ cùng “quân khu” - Thế cười giải tỏa cho cô - Em ngủ đây, em díu mắt từ lúc nãy rồi - Yến vạch màn chui vào nằm lăn ngay ra. Thế thận trọng giở tấm chăn, đắp cho cô, rồi âu yếm nhìn người yêu. Trong vệt sáng của đống lửa sắp tàn hắt vào, gương mặt cô trở lại vẻ trẻ thơ hồn hậu, mọi sự mệt nhọc lo âu biến mất hết, và cô ngủ ngon lành như có vị thần bảo hộ tin cậy nhất luôn ở bên - người con trai yêu thương cô, che chở cho cô không chỉ giờ phút này mà suốt đời… Anh nhìn em ngủ hồn hiu nhẹ/ Như bóng vườn trưa xanh tiếng ve[54] - câu thơ yêu thích từ thời sinh viên bất ngờ hiện về sau bao năm tháng long đong lận đận, lại trong cái cảnh ngộ chênh vênh của đôi tình nhân đều trót dính vào “bả” văn chương!… Tuổi trẻ nghèo nàn và cay cực ơi/ sao cứ đuổi theo ta như thú dữ cắn càn. Đó mới là thân phận thực, tâm trạng thực của anh chứ không có chút gì thi vị của chùm thạch thảo đã bị ngắt nọ… Cay cực của riêng anh chẳng là gì, nhưng anh lại trót đèo bòng mối tình mà anh đặt hy vọng trở thành hôn nhân này mới là điều cay cực trớ trêu! Có nên kể cho Yến mối tình đầu đời của anh với cô học trò 19 tuổi, mối tình thoáng qua và cảm xúc của anh về đứa con gái tưởng tượng để anh có cảm ngôn: Viết dành cho con gái năm con 19 tuổi? Có nên kể về mối tình với cô Liên tài vụ gần như là một “mối tình nực cười”[55] mà ông nhà văn nước ngoài nọ dường như viết cho riêng anh? Có nên kể về mối tình với cô Thảo kỹ sư Bê tông, mà nỗi đau - buồn - hận ngang nhau còn rỉ máu tim anh? Cả mối tình đơn phương của cô gái Sài Gòn hy vọng được anh giải thoát khỏi tổ quỷ văn hóa năm trước? Nhất định anh sẽ kể hết cho cô nghe, khi đã thành gia thất hẳn hoi. Nhưng cuộc hôn nhân này liệu có thành không? Dự cảm xấu ám ảnh anh ngay từ cái nhìn sắc lẹm soi mói đầy nghi ngờ của hai cô chị Yến đối với anh trong buổi ra mắt, cho đến tận lúc này. Và anh sẽ lo cho cuộc sống - nghề nghiệp của cô ra sao đây, khi nhà không còn, tiền chẳng có, nghề nghiệp chưa đâu vào đâu, quan hệ xã hội chỉ toàn với dân nhà giáo, nhà báo nghèo ôm mộng thi sĩ kịch sĩ dở hơi như anh?…
Thế định vạch màn nằm ghé xuống cạnh cô, ngả lưng chút, song anh sợ cô bị thức giấc nên nhẹ gài lại màn rồi bước ra đống lửa đã tàn, ngả lưng trên một tảng đá chong mắt nhìn trời sao… Anh lục lọi trí nhớ tìm những mối quan hệ của bố mẹ anh trong giới nhà giáo, nghệ thuật, rồi họ hàng bên nội - ngoại, mong tìm lối thoát nào cho tương lai của Yến - cũng là hạnh phúc của anh… Tất cả những “manh mối” anh có thể tin cậy được đều đang sống qua cơn bão kinh hoàng mang tên “Bao cấp” rồi “Hậu Bao cấp”, nhà nào cũng thiếu đói, chạy ăn từng bữa toát mồ hôi hột, nhà nào may mắn có con cháu du học nước ngoài hoặc xuất khẩu lao động thì chiếc quạt tai voi, tủ lạnh Xaratốp, xe đạp Sputnik đã là tài sản vật chất có ý nghĩa Sinh Tử! Chế độ gạo của anh may là được gấp đôi bình thường (bởi nghề “đào giếng” - theo tiếng địa phương của bác Tổ chức cơ quan), nhưng để hình thành một gia đình nho nhỏ thì đồng lương còm với các chế độ gạo và tem phiếu các loại của mình anh sẽ chỉ lọt thỏm “không một tiếng vang”[56] trong tiếng khóc trẻ con - mà nhất định phải có con, người phụ nữ nào lấy chồng chẳng mong như vậy đầu tiên… Có con rồi, nuôi con thế nào đây trong thời buổi “thóc cao gạo kém” này… Tháng trước, nhà biên kịch Nhuận tìm đến anh ở nhà ông Văn, khẩn khoản vay kẻ dưới đáy là anh mấy chục ngàn để mua sữa cho con, viết báo viết kịch bản như điên như dại mà không đủ nhuân bút lo cho vợ con… Thế nhớ lần trong Sài Gòn lo triển lãm tranh cho bố anh, anh đọc được bài báo đâu đó kể rằng: Có ông giáo sư mơ ước nhặt được một khoản tiền đánh rơi - dĩ nhiên là của dân nhà giàu, để có tiền đưa vợ đi chữa bệnh… Thế chợt nghĩ đến ông Bụt của anh, cán bộ Tổ chức Sở Giáo dục Hà Nội… Ừ nhỉ, sao mình không nghĩ ngay tới bác Thăng… Nhưng mình đã mang ơn bác Thăng chưa hề trả được ơn nghĩa, và không biết lúc nào mới trả được, lại ngoéo vào chuyện xin việc giống như lên trời này, lương tâm mình để đâu?… Vả lại, bác ấy chắc đã về hưu, lại là người liêm khiết, làm sao có nổi những quan hệ nhiều sức nặng để giúp được ta đây… Nghĩ cách nào cũng bế tắc đen ngòm… Miên man trong bao suy tính, Thế thiếp đi trên tảng đá… Chợt có bàn tay lay người anh, giọng hoảng hốt: “Anh… Anh sao thế hở anh?” Thế dụi mắt, Yến liền ôm choàng lấy anh. “Anh làm em lo quá! Sao không vào nằm với em mà định phơi sương núi cả đêm thế này?”
Anh hôn cô. Cái hôn thấm sương đêm, thấm nỗi lo âu trước “đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”… Anh vuốt nhẹ tấm lưng thanh tú của cô gái vừa trải qua đời sinh viên mà sự đói ăn và thiếu thốn đủ điều dường đã phải nhường bước cho sức trẻ, tình yêu và khát vọng sống… Một tình thương xa xót chợt trào lên khiến cả người anh rung lên. Yến như trực cảm được điều đó, cô dứng thẳng người lên, kéo tay anh đi về phía hang đá. Qua cửa hang vài bước chân, Yến dừng lại, lúc đó vòm hang để lộ ngôi sao mai đương lấp lánh cô đơn. Ép chặt thân mình nóng hổi vào người Thế, cô thì thầm: “Anh yêu em đi… Yêu như một người vợ… Anh vẫn mong em thành vợ yêu của anh mà… Không gì chia cắt được đôi ta…”. Anh làm sao có đủ dũng khí để từ chối lời khẩn cầu gần như ra lệnh đó của người yêu. Cửa hang đá vùng thảo nguyên còn hoang sơ đêm ấy là cửa Địa ngục với ai, chứ đối với anh và cô lại là cánh cửa dẫn tới Thiên đàng…
Cũng ngay trong hôm đó, hai cô chị của Yến đã vội vàng liên hệ với người quen làm ở Sở Giáo dục Điện Biên, xin một xuất biên chế cho em gái; nơi đó đang thiếu giáo viên cấp Ba, nhất là giáo viên văn, thế là công văn xin người, đích danh Yến, được đánh và gửi ngay về Đại học Xuân Hòa. Khi Thế được tin, phóng lên thị trấn Xuân Hòa, gặp Yến ở phòng thầy Bình sau giờ lên lớp. Mắt cô sưng vù đỏ mọng vì khóc nhiều. Thấy Thế vào, Bình nói vài câu rồi tìm cách ra ngoài cho hai người tự nhiên trò chuyện. Thế nắm tay Bình kéo lại bởi chỉ có bạn lúc này mới giúp anh có đủ lòng dũng cảm để nói với em những điều đứt ruột song cần thiết đối với cả hai:
- Ba mặt một lời đây! Ông và tôi cần giúp em bớt dày vò đau khổ bằng cách cho em hiểu rõ tình thế của tôi… Tôi đã hoàn toàn bất lực trong chuyện lo tìm việc cho em, cũng không có bất cứ khả năng nào lo toan hạnh phúc lâu dài của em được nữa… Tôi đã bỏ cơ quan một lần vào Sài Gòn tìm đường làm phim nhưng thất bại, và giờ đây có thể lại phải bỏ đi lần nữa, dù chưa biết đi đâu… Vì thương em, nên tôi quyết định để em trở về quê có việc ngay, gia đình em vui vẻ… Không dễ dàng đâu ông, tôi đau lòng lắm, mấy ngày qua cứ lồng lộn còn nước còn tát tìm việc cho em để rồi tự đấm vào mặt tự chửi mình là kẻ vô vị kém cỏi, gần chục đêm qua tôi không ngủ nổi…
Yến chợt ôm mặt khóc òa sau mấy ngày cô khóc dường chẳng còn nước mắt nữa.
Cả ngày hôm đó Thế ở Xuân Hòa, cùng Bình giúp Yến giải quyết mọi thủ tục, nợ nần, thu xếp đồ đạc sách vở. Cô gửi lại phòng thầy Bình một hòm sách vở tài liệu, và chỉ đem theo một ba lô to. Thế đèo cô về Hà Nội. Sau khi mua vé ô tô đi Điện Biên cho cô trước một ngày, anh đèo cô tới chào vợ chồng ông Văn. Đêm cuối, anh đưa cô đến ngôi nhà cấp Bốn của người bạn bỏ không, đã cho anh mượn tạm để chứa toàn bộ sách vở của anh khi bố mẹ anh bán nhà. Thấy các chồng sách tú hụ của anh trong hai góc nhà và chất trên mấy cái bàn, Yến lè lưỡi:
- Em chịu anh với thầy Bình! Và cũng chắp tay kính nể những cô gái có thể yêu các anh…
- Thế thì em phải là người được kính nể đầu tiên, em định nói vậy chứ gì?
- Chứ sao! - Cô chợt buồn thiu - Nếu anh không phải là kẻ mộng mơ đắm chìm trong sách vở và khát vọng điện ảnh, thì chắc sẽ có nhiều khả năng tìm việc cho em ở Thủ đô, và chúng mình không phải xa nhau cách sông cách núi vời vợi thế này…
- Nhưng nếu anh là kẻ thực tế, khôn ngoan, sành sỏi các mánh khóe của đời như em muốn, chắc gì em đã yêu anh, thậm chí chẳng coi anh ra gì…
- Ừ nhỉ - Yến gật đầu thật thà thừa nhận - Đúng là em đã yêu anh, rồi ngày một thêm yêu, cũng chỉ tại những truyện phim nước ngoài anh kể, rồi biết bao ý tưởng điện ảnh của anh; em cứ như bị anh thôi miên ý…
- Chỉ thế thôi ư? - Thế nheo mắt vẻ riễu cợt
- Không phải, em chưa hết ý em, em muốn nói là… là…
Thế giơ tay bịt miệng người yêu, rồi anh hôn cô. Chỉ giây lát sau, đôi môi cô ướt đẫm nước mắt mà cô không ghìm nổi, cô gạt nhẹ anh ra rồi ôm mặt ngồi sụp xuống chiếu rải dưới đất khóc nức nở hồi lâu. Thế bùi ngùi ngồi xuống bên cạnh, vuốt ve an ủi… Lát sau cô bình tĩnh dần trở lại, lau nước mắt, bước đến các chồng sách ngổn ngang.
- Anh chọn cho em mấy cuốn tiểu thuyết hay nhé, những cuốn trên thư viện trường em không có ý.
- Những cuốn gì nào? Anh đâu phải thủ thư trường em mà biết sách nào có sách nào không…
- Anh ác vừa chứ, xiên xẹo ý em, em muốn nói là em có ý tìm những cuốn thầy Bình giới thiệu nhưng trường không có, hay là đã bị lấy mất…
- Đấy nhé, bài học về diễn đạt của cô giáo văn!
Hai người dường đang cố giảm thiểu sự bi thiết của cuộc chia ly bằng những câu chuyện chẳng đâu vào đâu như thế, để rồi thấy ngay là bất lực thê thảm trong ý đồ này. Thế lục lọi tìm ra hơn chục cuốn tiểu thuyết dịch của Nga, Pháp, Anh, Đức mà theo anh sinh viên văn trên Xuân Hòa khó có thể tìm được. Yến tới sau lưng Thế, gục đầu trên vai anh khóc lặng lẽ. Anh đứng lặng người tê dại, không dám quay lại ôm hôn cô, bởi sợ xáo động thêm nỗi đau lòng của cô… Không gian đặc quánh cảm xúc biệt ly vĩnh viễn, tỏa ra từ những trang sách phủ bụi thoảng mùi hoa thạch thảo hòa trộn với nỗi tuyệt vọng tràn ngập hai trái tim trẻ đương chơi vơi tìm chỗ đứng trên cõi đời mà họ bắt đầu thấm hiểu họ chỉ như “bóng chớp có rồi không” (Thân như điện ảnh hữu hoàn vô - Vạn Hạnh)…
Cả đêm hôm ấy, trong căn nhà cấp Bốn xộc xệch chứa đầy sách vở và bụi bậm, đôi tình nhân ôm nhau lặng lẽ trên chiếc chiếu rách trải trên nền xi măng nứt nẻ, vĩnh biệt nhau bằng cõi lòng tan nát được tô điểm bằng sự im lặng kèm tiếng nấc của cô gái vừa rời khỏi đời sinh viên đã phải rơi vào hố thẳm tuyệt vọng của mối tình đầu…
Lúc 4 giờ sáng, Thế đèo cô ra bến xe đi Điện Biên, ngoài chiếc ba lô của cô còn thêm một túi nặng đựng sách... Lúc đó, các ngọn đèn cao áp vẫn còn loang loáng mặt đường, Thế bỗng dưng nhớ lại sớm năm xưa, cũng vào quãng này, mẹ anh đã đưa tiễn thằng trai trưởng ra bến xe lên Tây Bắc theo tiếng “rú gọi của gió ngàn”[57]. Hai người không nói với nhau câu nào và cũng không thể nói gì cho tới khi xe chuyển bánh, bởi chỉ cần cô hoặc anh mở miệng là cô sẽ òa khóc… Khi xe rời khỏi bến, Thế đứng yên như bức tượng đá trong sáng tối nhập nhoạng, anh không giơ tay vẫy chào cô theo lẽ thông thường trong các cảnh phim chia ly. Anh cũng ngạc nhiên là mình không thể có giọt nước mắt nào khi anh muốn khóc cho thỏa lòng. Anh thoáng xấu hổ bởi cái thói quen nghề nghiệp khốn khổ dẫn anh liên tưởng đêm ly biệt vừa qua của hai người tới cái chết của đôi tình nhân bởi thuốc độc trong vở kịch Âm mưu và Ái tình của Sinle[58] (đạo diễn Đình Nghi tặng sách này năm anh lên Hải Phòng với tư cách phóng viên hợp đồng của Tạp chí Sân Khấu viết bài về vở diễn Hình và bóng do ông dàn dựng). Sau khi xấu hổ với bản thân và cảm thấy có gì thiếu lương thiện trong tập quán nhồi nhét cho cái “kho ý tưởng bần tiện” của mình, anh bỗng thấm tận xương tủy một nỗi tê tái xót thương. Không phải xót thương cho anh, mà cho cô gái anh yêu mà không có khả năng giữ được cô, không thể đem lại hạnh phúc cho cô… Thôi em, đừng buồn thương lâu nữa, mai là em đã về với môi trường quen thuộc của em, với những người thân yêu, em sẽ được làm cô giáo dạy văn đúng nghề em học và mơ ước, là “cô giáo Tây Bắc” chứ không phải “giáo khổ miền núi” như bọn anh, những kẻ Tuổi đôi mươi ẩm mốc một góc rừng[59]… Em đã trót dính vào Một người trai ra đi trong nắng bụi mưa rào/ Những quán trọ âm thầm, những nông trường tất bật/ Những thung lũng vàng cỏ tranh cháy khét/ Những phố hè ngập hàng hoá phương Nam… Còn lời hò hẹn giữa đôi ta, dù thiêng liêng, quý giá đến đâu, nhưng không có cơ sở thực tế bảo đảm thì cũng chỉ là lời hẹn hò với sương giăng mây phủ chốn núi rừng mà thôi…
Mấy ngày sau đó, Thế như người mất hồn, anh chìm đắm trong nỗi nhớ thương em nhập nhòa cùng lời hò hẹn với núi và chợt hiểu bản ngã sâu xa của anh, lẽ tồn tại của anh, số phận của anh - kẻ thuộc loài “nhân giả lạc sơn”[60], và anh thốt lên giữa cõi lòng tan hoang những lời cho riêng anh, không bao giờ gửi cho cô bởi không muốn cuộc sống yên ổn của cô bị xáo trộn thêm lần nữa bởi một kẻ vô vị bất tài là anh:
LỜI HẸN HÒ VỚI NÚI
Cặp mắt em nhìn tựa sương giăng đỉnh đèo
Mùa mưa chưa qua
Mai em về nơi ấy
Đường núi quanh co một thời trẻ dại
Cho đến tận giờ
Anh vẫn còn đi...
Thôi em
Khóc làm chi
Cho anh quặn nhớ cơn mưa rừng xối xả
Khúc suối lồng đau
Bến xe lam lũ
Khói nương thẫn thờ
Cành ban trắng cheo leo...
Tuổi trẻ anh đi qua những bản nghèo
Những thảo nguyên, những phố huyện buồn ngủ quên trong mây núi
Nơi có cuộc chia li vồi vội
Giọt lệ nào hoá đá giữa hang sâu…
Mai em về trường xưa mái lá bạc màu
Thăm căn phòng của người trai thao thức
Có thể
Em sẽ tìm lại được
Tiếng chim rừng
Ngơ ngác
Cả đời anh
Hạnh phúc chúng mình
Sương khói mong manh
Chỉ có thực
Lời hẹn hò với núi
Cành ban tím giữa phố phường lủi thủi
Mai em đi
Anh lại nhớ rừng xa...
12.
Trước khi Dưỡng “thư ký trường quay hụt” ngậm ngùi rời Hãng phim đi xuất khẩu lao động, vào hôm chia tay, cậu ta ghé tai Thế: “Có bí mật này, anh phải chịu khó giữ kín, đừng loang rộng ra Hãng kẻo anh sẽ gặp nguy hiểm… Năm ngoái, xưởng Thiết kế mỹ thuật có nhận một người vào thử việc tên là Vũ Nguyễn do Ban Giám đốc gửi gắm… Thằng bạn em cũng đang chân thử việc tại đó kể, ông Xưởng trưởng dặn dò kỹ là phải đối xử tốt với anh ấy, song không nên gần gũi thân mật, không thể suồng sã… Bởi đó là con cháu của một cán bộ cấp rất cao, nhưng ông ấy vì quyền lợi chung nên suốt hàng chục năm nay đã không dám/ không thể nhận anh ta có máu mủ ruột rà với mình… Tỉ tê hỏi han thì dần được biết: anh ta từ lúc sinh ra đã phải đi làm con nuôi mấy lần, 6 tuổi vào Trung tâm trẻ mồ côi, rồi được gửi học trường Thiếu sinh quân, và từ trường này nhập ngũ đi chiến trường Quảng Trị, khi giải ngũ thì mới tiếp tục học hết bổ túc phổ thông trung học, và sau đó được gửi vào Hãng phim này… Vốn là người thuần hậu chất phác, ít được học hành hệ thống, nghe thiên hạ bóng gió gần xa anh mỗi lúc một hoang mang không biết mình gốc gác thực là đâu, con cái nhà ai. Anh ấy chỉ biết rõ một điều: ở đâu anh cũng được chiều chuộng, được kính nể một cách kín đáo - theo lối “kính nhi viễn chi” (kính nhưng mà xa), ngay ở giữa chiến trường khốc liệt cũng được một thế lực vô hình bảo vệ - nghĩa là chỉ phải làm công việc văn thư, liên lạc, được ưu tiên làm nhiệm vụ hậu cần cho chỉ huy, mà không phải cầm súng trực tiếp đối diện khói lửa bắn giết lần nào, tay chưa hề dính máu ai… Anh ấy bảo: “Dường như mình có Sao May Mắn chiếu mệnh, song mình luôn cảm thấy cô độc, lạc lõng, bị mọi người xa lánh, dù mình cố gắng hòa đồng, học hỏi hết sức chân thành… Mình là ai? Sao lúc nào cũng như có một huyền thoại bí hiểm và thiêng liêng ghê lắm bao bọc lấy mình, theo dõi mình, trấn an và trấn áp mình trong cả tâm sự riêng, trong từng giấc ngủ?… Những bậc cha mẹ nuôi khi gặp lại, họ rất vui thấy mình khỏe mạnh, song hễ mình hé ra thắc mắc về lai lịch mình thì họ lạnh tanh, coi ý định đó của mình là vớ vẩn, vô nghĩa, thậm chí là có hại!”…
Mấy năm sau đó, mỗi khi đến cơ quan, Thế đều tìm cách hỏi han và tìm cách tiếp xúc với nhân vật được bao bọc bởi “bí mật” và “huyền thoại” này. Hóa ra, lời dặn của Dưỡng về “điều bí mật, tối bí mật” nọ thì hình như khá nhiều người biết, song cái “biết” đó trở thành điều “cấm kỵ”, thành lời thề nguyền chớ được “phạm húy”. Có lần anh hỏi nhà biên kịch Cầm Kỳ về chuyện này thì ông giơ tay lên miệng “xuỵt”, mắt lấm lét nhìn tứ phía, kéo tay anh vào xưởng đang vắng người và khẽ bảo: “Cậu đừng có dại dột tò mò cái chuyện này làm gì, cẩn thận kẻo bị treo bút bịt miệng đấy! Đó là bí mật Cung đình liên quan tới những chuyện vĩ mô, thứ nghệ sĩ hạng bét chuyên mua vui cho Triều đình như chúng ta không nên mất thì giờ tâm sức vào làm gì, lại rất nguy hiểm…” Thế bật lại như một kẻ “ngựa non háu đá”: “Theo em, chỉ loại nghệ sĩ hạng bét chúng ta mới có thể tìm ra những sự thật cần thiết cho điện ảnh thôi… Kệ anh, còn em sẽ tìm hiểu chuyện này cho Âm bản của em…”.
Mạnh mồm thế thôi, chứ vào cuộc thì anh cảm thấy “rét” thực sự. Anh chắc chắn đã có tên trong “Sổ Thiên Tào” của các Thủ lĩnh cơ quan là kẻ thuộc nhóm “Nhân văn mới Làng Lủ” do đạo diễn Huy cầm đầu, mặc dù chỉ là tên “điếu đóm” thôi nhưng “ông Từ giữ Đền” tư tưởng Hoàng Thân quên thế nào được cái ương ngạnh của thằng trẻ ranh cậy có chút chữ nghĩa kia trong mấy buổi ông huấn thị nó! Việc anh bị “cướp cờ” đạo diễn khi đã được giao phim để nhường phim cho đạo diễn lão thành cần “hạ cánh xuống miền lãng quên”, việc các kịch bản tâm huyết của anh gửi lên Phòng Biên tập đều bị vứt vào sọt rác, chắc hẳn là có sự chỉ đạo tầm xa của ông. Vậy nên, để có thể tồn tại chốn này, anh không thể có một hành động bất cẩn nào nữa! Việc tìm hiểu lai lịch nhân vật hấp dẫn, lý thú kia cho “Kho lưu trữ bần tiện” các ý tưởng kịch bản biết đâu sẽ làm nguy hại tới tương lai nghề nghiệp của anh! Nhớ lại những lần gặp ông Hoàng Thân, giờ đây anh hình dung ra rõ rệt rằng: ông sẽ chỉ thẳng tay quyết liệt như ra lệnh tấn công và khắc các chân lý mà ông đại diện vào cái không gian nghệ thuật “thấp thoáng mộng bình yên”[61] đang diễn biến tệ hại thành “thấp thoáng mộng tự do” như sau: Tại Tiền đồn văn nghệ hàng đầu này, trong giai đoạn Cách mạng mới này không có chỗ cho những khái niệm TỰ DO - DÂN CHỦ - NHÂN QUYỀN - KHÁT VỌNG KHÁM PHÁ SỰ THẬT…
Anh đã kín đáo cẩn trọng hơn trong cuộc tìm hiểu này - cũng như các cuộc tìm hiểu khác về những “Vụ án chính trị”, “Cuộc thanh trừng tư tưởng” từng xảy ra trong cơ quan suốt mấy chục năm qua. Và khi gặp được anh Vũ Nguyễn, Thế đã quan sát anh từ xa, và nếu tới gần cũng là với lý do tìm hiểu công việc của những người làm thiết kế mỹ thuật, mà anh ấy đang là người học việc, làm phụ động để được xét Biên chế chính thức. Vì đã được đọc không ít tài liệu sách báo “ngoài luồng” - nhất là tài liệu của một nhà Biên kịch nổi tiếng đã rời bỏ Hãng để bán chất xám cho lĩnh vực kinh doanh phía Nam, cộng với những “huyền thoại” bao phủ quanh anh Vũ Nguyễn, Thế đã dần hình thành được đường dây truyện phim của một Âm bản về cuộc đời, số phận anh. Nhìn anh Vũ Nguyễn lúc làm việc, hay lúc ngồi giải lao cùng quân phụ động ngoài quán nước, lần nào Thế cũng thấy rõ là một con người hiền lành, không ưa tranh cãi tranh chấp dù nhỏ nhất, dường như anh muốn thu mình lại, nhẫn nhịn - không phải cái nhẫn nhịn chờ thời mà là cái nhẫn nhịn chấp nhận số phận trước bao sự khuyên răn, đe nẹt, cảnh báo từ lúc mới sinh ra. Anh có nét mặt của Thái tử Tất Đạt Đa lúc chuẩn bị rời bỏ Cung điện, vợ con và cuộc sống giàu sang để ném mình vào cõi bất định đầy cát bụi và đói khát. Nhưng cũng có lúc Thế hình dung ra anh có vẻ mặt của người Phật tử Việt đầu tiên họ Chử khi nhìn thấy hy vọng giải thoát cho ông và dân tộc đau khổ của ông từ nhà sư mang tên But-đa-bra-ba (Buddabrabha tức “Ánh sáng của Bụt”) - ông nhà sư vì thất vọng với Phật pháp suy đồi trên xứ sở mình nên lang thang truyền giáo và lạc tới vùng Quỳnh Viên - Nam Giới…
Song sự xét đoán vẻ bề ngoài đó chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng vô bổ, chúng bị phá sản ngay khi Thế nhớ lại điều Dưỡng kể hôm chia tay nhau lần cuối… Anh Vũ Nguyễn đã chỉ tâm sự những điều cháy bỏng tâm can anh cho những người mà anh cảm thấy an toàn, vô hại, “cùng đẳng cấp” thấp cổ bé họng và hàng ngày bị quản lý từng ý nghĩ từng miếng ăn: “Mình là ai? Sao lúc nào cũng như có một huyền thoại bí hiểm và thiêng liêng ghê lắm bao bọc lấy mình, theo dõi mình, trấn an và trấn áp mình trong cả tâm sự riêng, trong từng giấc ngủ?” Rõ ràng là anh đã hỏi để tự trả lời. Rõ ràng là anh đã biết rõ lai lịch, thân phận mình từ rất lâu, điều anh trăn trở là: vì sao lại như thế? Đằng sau tất cả những sự che dấu giống như một sự dối trá tầm cỡ lịch sử như vậy là gì? Tạo sao chúng đã diễn ra như một thứ định mệnh buồn thảm đến thế cho anh và gia đình nhỏ của anh - những thần dân khao khát Tự do Hạnh phúc bình dị như tất cả mọi công dân?…
13.
Sau gần một năm nhà biên kịch Cầm Kỳ mất, Thế lên Sơn La để làm một phim chân dung về ông.
Anh trở lại Sơn La khi những cánh hoa đào phơn phớt mát dịu đương hối hả tranh giành lần cuối với màu xám bạc của lau và đá. Và khi bắt đầu qua Thung Khe để vào xứ sở sương mù, quê hương của suối sâu thác dữ, núi rừng trùng điệp, anh lặng đi nhớ tới người đồng nghiệp gần gũi và thân thiết nhất đối với anh. Ông mất giữa cái tuổi mà sự tích lũy sáng tạo đang căng đầy thôi thúc trong một trái tim nóng bỏng...
Xe Thế lúc này đang vượt đèo Chiềng Đông hiểm trở. Anh ngậm ngùi nhìn cái nơi mà Cầm Kỳ gặp tai nạn... Những điều ông dự báo và khẩn thiết kêu gọi trong kịch bản phim truyện Vùng rừng nóng bỏng chưa kịp lên màn ảnh đã rơi ập vào chính số phận của ông: chiếc xe chở Cầm Kỳ đã bị đổ do hậu quả của những cơn lũ rừng, sau nhiều năm tháng dài đốt phá rừng triền miên vô tội vạ! Cứ mỗi năm, những con suối Tây Bắc ngày một trở nên ngầu đục hung dữ hơn! Cả những cánh rừng hoa ban kỳ diệu mà chỉ riêng vùng rừng Tây Bắc mới có cũng đang bị chặt, bị đốt phá một cách không thương tiếc! Cầm Kỳ thường xót xa tâm sự cùng Thế sau nhiều lần từ Sơn La hoặc Lai Châu quay về Hà Nội. Ánh mắt ông ứ lệ, ngầu đỏ...
Tại thị xã Sơn La ngày đó, những dấu vết kinh hoàng của trận lũ tháng 7 năm trước vẫn đang còn in đậm trên làng bản, phố xá và trong tâm trí của mọi người. Đằng sau và bên cạnh ngôi mộ của Cầm Kỳ - ngôi mộ đầu tiên trên ngọn đồi sau trở thành Nghĩa trang Nhân dân Thành phố - khi ấy đã xuất hiện thêm hàng chục ngôi mộ của nạn nhân cơn lũ quét đè bẹp thị xã Sơn La vào năm 91 ảm đạm! Vợ con ông đang chăm sóc phần mộ ông. Đôi mắt cháu nhỏ mất cha nhìn ngơ ngác... Giữa núi rừng lặng lẽ, bên hương khói mộ ông, Thế cầu mong ông thanh thản mà lại như nghe thấy ông đang khóc hô hô cho một vùng rừng đang bị phá hoại tàn khốc, cho môi trường sinh thái đang bị thiêu hủy từng giờ, cho cái thiên nhiên đang cất lên lời kêu cứu tuyệt vọng cuối cùng... Những đàn kiến rừng khổng lồ đang ùn ùn bỏ tổ ra đi mà anh quay chộp được trên đường đi bộ từ Hua La về Mường Chanh phải chăng báo hiệu cho những cơn lũ rừng khủng khiếp sắp tới - những cơn lũ mang tên lũ ống, lũ tràn, lũ quét, lũ đầu mùa, lũ muộn...?
Năm Cầm Kỳ qua đời, cháu lớn của ông học chưa xong phổ thông, cháu nhỏ nói chưa sõi, vợ con ông sống nheo nhóc trong một ngôi nhà tranh sập xệ trên đường vào xã Hua La. Còn ông, sống giữa Thủ đô không ít năm nhưng lại giống người đồng rừng mới về thành thị, ngơ ngác trước mọi thứ mánh mung, chỉ biết mệt mài với những trang bản thảo, lại không ưa, không biết quỵ lụy trong những mối quan hệ rắc rối... Cầm Kỳ sống cảnh gà trống nuôi con nhiều năm ròng sau khi người vợ đầu là một ca sĩ bỏ đi xuất khẩu lao động... Nói đến ông, mọi người thường lắc đầu thương hại. Lúc nào ông cũng là người túng thiếu nghèo khổ nhất trong giới nghệ sĩ điện ảnh... Ông đã buộc phải trở về quê hương thường xuyên hơn để tìm đường kiếm sống - làm phim truyền thống cho các xã các huyện, viết các vở kịch ngắn cho ngành truyền thông địa phương, lên núi phá hoang trồng ngô khoai sắn, nuôi gia cầm cùng vợ con (người vợ thứ hai của ông là một cán bộ Đoàn tại Sơn La)... Và dĩ nhiên, những ý đồ sáng tác vẫn cồn cào thường trực trong ông. Ông vẫn viết với một tình yêu theo cách đồng bào ông bộc lộ: "Yêu người nào thì muốn bồng, muốn cõng người ấy lên" - như câu tục ngữ Thái anh yêu thích... Song ngôi nhà tranh vách nát ở Thị xã đâu có che nổi cho những trang viết, những chồng bản thảo khỏi bị mưa dột? Tệ hơn, những kịch bản tâm huyết của ông dần trở nên lạc lõng thảm hại giữa "chợ trời" phim ảnh… Nhưng chuyện cơm áo dày vò đâu có thể làm nguôi ngoai nổi những điều nung nấu tâm can người nghệ sĩ chót mang hồn vía của núi cao rừng thẳm và những bản tình ca dân gian say đắm như Tiễn dặn người yêu, Chàng Lù nàng Ủa, Nàng Tóc thơm, Ý Nọi Nàng Xưa...! Bữa no bữa đói, ông vẫn cắm cúi miệt mài viết, vẫn lắng nghe không bỏ sót một tiếng kêu cứu nào từ núi rừng quê hương! Vùng rừng nóng bỏng của ông dù phải vùi sâu trong chồng bản thảo hay phủ dày bụi trên bàn biên tập vẫn cựa quậy thôi thúc đòi được lên màn ảnh để đến với hàng chục triệu khán giả - bởi điều đó trước mắt có liên quan mật thiết đến sinh mệnh của các con ông, của những thế hệ em nhỏ Tây Bắc!...
Đằng sau vóc dáng đồ sộ nặng nề như gấu của ông là một tâm hồn nhạy cảm dễ ứa lệ và một khát vọng sáng tạo tựa ngọn lửa đêm lễ hội cao nguyên. Ông có lần bảo Thế: "Tớ phải viết, phải lao động nghệ thuật như một con trâu điên, cả cậu cũng vậy, đừng có dúm dó như thế, để mai sau mọi người sẽ hiểu: trong các đống bản thảo này là những trái tim khổng lồ rớm máu đã đập như thế nào..."
Khi Cầm Kỳ mất, Phó GS,TS. hóa học Cầm Cường, một người nghiên cứu rất sâu về văn học dân tộc Thái, nguyên là Chủ nhiệm chương trình Thái học Việt Nam tìm tới Hãng, Hãng đùn cho Thế tiếp; ông Cường đã ngậm ngùi kể cho Thế về người em trai của mình: "Cầm Kỳ say sưa nghề nghiệp đến mức có lúc dường như lãng quên cả hạnh phúc gia đình, bỏ quên cả vợ con, họ hàng. Nhưng thực ra, Cầm Kỳ là người rất giàu tình thương và trách nhiệm... Hai anh em tôi rất tâm đắc về việc khai thác phát huy vốn văn hóa dân tộc, đã bàn bạc nhiều về chuyện chuyển thể lên màn ảnh hai truyện thơ Xống chụ xon sao, Khun Lù náng Ủa và một số truyện cổ dân gian Thái, Mông, Kh' mú... Gia đình chúng tôi bị hẫng hụt lớn khi Cầm Kỷ mất sớm, và hy vọng các bạn đồng nghiệp của Cầm Kỳ sẽ tiếp tục hoàn thành nốt những công trình dang dở nhiều ý nghĩa đó..."
Thế đã tìm về Mường Chanh - huyện Mai Sơn, quê hương Cầm Kỳ.
Đó là một vùng căn cứ địa Cách mạng cũ, một địa phương nổi tiếng với cây lúa nếp Tan và nghề gốm đất nung cổ truyền. Thoạt tiên Thế ngẩn ngơ trước một thung lũng tuyệt đẹp, có những mảnh ruộng xinh xắn, có dòng suối trong vắt mềm mại tựa dải lụa từng tắm mát tuổi thơ Cầm Kỳ... Nhưng rời cái toàn cảnh rộng thi vị như tranh vẽ ấy, anh đã tới trước những lớp học tiêu điều, trống huếch, đầy phân súc vật dù đã sắp tới ngày khai giảng… Vốn xuất thân là một thầy giáo, chắc Cầm Kỳ đã không ít lần xót xa trăn trở về giáo dục miền núi sau mỗi lần về quê hay đi tới các vùng cao vùng xa ở Tây Bắc để thu thập tư liệu cho sáng tác... Đến bao giờ thì Tây Bắc mới thực sự trở thành một "hòn ngọc của Tổ quốc"? Đến bao giờ tất cả các em nhỏ miền núi đều được đến trường - những ngôi trường ít ra cũng được khang trang gần bằng các trụ sở Công quyền?... Đến bao giờ những cọn nước quay chầm chậm chỉ còn là một biểu tượng đẹp và buồn của quá khứ trên sông suối Tây Bắc?... Phải chăng, đó cũng là những điều đã ngày đêm dằn vặt nhà biên kịch và tạo nên âm hưởng trầm buồn đến bi tráng trong các trang kịch bản của ông?... Dưới mái nhà sàn ám khói, người chị cả đáng kính của ông đã hát cho Thế nghe. Và anh hiểu, nỗi buồn đó của Cầm Kỳ còn bắt nguồn từ giọng hát lê thê buồn bã bên bếp lửa sàn đêm đêm của người chị nghèo thay mẹ nuôi em:
Bố mẹ chúng ta khuất núi từ lâu rồi
mấy chị em đùm bọc rau cháo chăm nhau
không ngờ em lại ra đi trước chị
trên cõi Trời em hãy bình tâm
bởi điều đau đớn ấy chị để trôi trên dòng nước,
chị treo nó lên ngọn cây
cho gió bay xa,
tỏa khắp rừng sâu,
lan mọi phương trời
để con cháu biết rõ về em, noi gương em, tiếp tục công việc của em...
(Dịch nghĩa từ tiếng Thái)
Lời "khắp" Thái buồn như tiếng khóc - lúc thầm thì kể lể nức nở, lúc dâng cao nhưng nhức xoáy tâm can... Trong tiếng hát quấn quýt ngọn lửa sàn bập bùng, Thế lại hình dung ra những con nộc-phay, tức chim lửa mà Cầm Kỳ từng kể cho anh nghe sự tích về chúng - loài chim tượng trưng cho linh hồn những người chết vì đói ngày giáp hạt thường quay trở về nương rẫy làng bản thành chảo lửa trên nền trời xám đục bởi tro than, chúng hót lời não nuột nhắc đừng bao giờ quên những thời đói khổ...
Thế đâu biết rằng, từ ngày đó, anh sẽ phải nhiều lần "Lên ngọn suối" - tên một trường đoạn của kịch bản phim Vùng rừng nóng bỏng chưa kịp thực hiện, để tìm lại ngọn nguồn của một nỗi đau, một ước vọng trong "trái tim khổng lồ rớm máu" luôn hướng về quê hương Tây Bắc... Giai đoạn viết kịch bản này, cứ được trường đoạn nào Cầm Kỳ lại gọi Thế tới bắt nghe và góp ý, bên chén rượu trắng và đĩa lạc luộc... Vùng rừng nóng bỏng đề cập tới sự cần thiết phải giao đất giao rừng cho dân với một chính sách để dân có thể sống được mà không phải phá rừng đốt nương, và sẽ ngày một nóng bỏng trước những vấn đề thời sự nhức nhối cấp bách về thiên nhiên & môi trường sinh thái cần được bảo vệ, về phương thức làm ăn để thoát nghèo đói, về môi trường văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc Tây Bắc đã, hay đang có nguy cơ bị dìm vĩnh viễn trong nước lạnh hoặc bị xúc gọn vào bảo tàng... Nhưng cái tập kịch bản vang vọng tiếng kêu thống thiết của loài chim lửa kia cùng nhiều tập kịch bản ngồn ngộn sự sống khác chứa đựng huyết lệ của Cầm Kỳ đã rơi tõm vào khoảng không đáng sợ... Biết làm sao được, khi còn tồn tại những người có trách nhiệm thiếu lương thiện hay thiển cận khiến cả ngành Văn hóa lẫn Điện ảnh lao đao tựa bị lũ quét, khi mà những ông chủ sản xuất phim hiện tại (cả Tư nhân lẫn Nhà nước) đang cay cú đến mờ mắt với những canh bạc phim ảnh hốt ra vàng nhờ khoe chân dài, váy ngắn, ngực phơi lưng hở của những "siêu mẫu siêu sao" và trưng bày cuộc sống vương giả hoặc nhầy nhụa tình dục mà nếu có đem phim lên chiếu không phục vụ đồng bào miền núi thì chỉ là một điều oái oăm đến xót xa, một sự điếm nhục!
Và Thế đâu ngờ rằng, từ ngày về quê hương Cầm Kỳ lần đó cho tới nhiều năm sau, anh vô tình đã là người tiếp tục thực hiện những khát vọng ấp ủ cho quê hương Tây Bắc đến giây phút cuối đời của ông… Anh đã thường xuyên quay trở lại nơi này, cũng là quê hương thứ hai của anh để được sống lại và hiểu thêm về tiếng “Khắp” (hát) buồn rưng rức ngay cả trong tiệc vui, và không ít lần dùng hình ảnh Chim lửa-Nộc phay - hiện thân của linh hồn người bị chết vì đói trong nhiều trang viết, cảnh phim tương lai, dù chưa biết tới khi nào mới trở thành Dương bản, như một cách thay mặt cả nền điện ảnh tạ lỗi với “trái tim khổng lồ rớm máu” của nhà biên kịch xứ hoa đào…
Tiếng hát buồn xé rách dải sương mù
Khói đốt nương tạm ẩn mình đất khổ
Em gái quay sa đêm trường sương giá
Tiếng nhị khuya man mác cả vầng trăng
Anh từng qua những dòng - sông - suy - tưởng
Tìm em. Và ý nghĩa của đời anh
Nhưng chim lửa kêu thương mùa giáp hạt
Lại đưa anh về bên dòng - sông - màu - xanh…
14.
Thế về Hãng phim truyện được 7 năm, qua mấy phim làm phó đạo diễn, rồi bị hụt cả đạo diễn chính (bởi phải nhường phim đề tài lịch sử đã được giao, sau khi làm cả kịch bản phân cảnh cho đạo diễn lão thành chuẩn bị “hạ cánh toàn”) - con đường để có phim đầu tay nhằm khẳng định nghề nghiệp càng trở nên mờ mịt… Bởi anh là người kém quan hệ, rạp chiếu phim thì đã bị phá hết, đầu phim ít ỏi, trong khi vốn liếng tài sản của một anh “giáo khổ” Tây Bắc về chỉ có sách vở và khát vọng suông… Vài tập kịch bản tâm huyết gửi Phòng Biên tập thì mịt mù, chẳng thấy tăm hơi gì.
Không thể chịu cảnh “há miệng chờ sung”, chờ đợi “ơn mưa móc” của Lãnh đạo Hãng, Thế đã liều mạng gửi một kịch bản của mình lên Cục Điện ảnh với hy vọng mong manh (Bởi việc gửi kịch bản lên Cục xin tài trợ bao giờ cũng phải do Hội đồng Nghệ thuật Hãng quyết định). Không ngờ, kịch bản “Vầng trăng núi” của anh được Phó Cục trưởng, nhà quay phim Trần Dân rất thích thú, ông đã đề nghị rót tài trợ cho kịch bản này về Hãng Phim truyện sản xuất. Thế đã mừng chảy nước mắt.
Nhưng, Lãnh đạo Hãng - nhất là ông Giám đốc mới (thay đạo diễn Nguyễn Hải) chẳng hiểu vì sao đã gây khó dễ với dự án này của Thế, bằng nhiều lý do hợp lý lẫn phi lý mà nhiều năm sau anh vẫn còn nhớ cái lạnh toát người bởi lo lắng, run sợ… Thôi, nếu cái phim này mà đổ bể, chắc phải tự cuốn gói khỏi Hãng, vĩnh biệt mối tình đau đớn với “Nàng tiên thứ Bảy”…
Giữa lúc ngao ngán tuyệt vọng tới độ chẳng thiết sống nữa, thì Ân nhân đã xuất hiện…
Đạo diễn Đặng Nhật từng quý mến Thế sau lần anh giúp ông tài liệu gốc để thoát nạn bị đấu tố vì “Chợ Âm Dương tuyên truyền mê tín dị đoan” của phim Cho đến tháng Mười. Ông vốn là xưởng trưởng của một xưởng phim mà Thế được về biên chế năm đầu, sau đó ông rời Hãng làm Tổng thư ký Hội Điện ảnh. Những năm đó, Hội Điện ảnh có một Hãng phim riêng, gọi là Hodafilm song chưa có hoạt động gì, chưa có đầu phim nào. Sau khi nghe Thế tâm sự ở một quán nước ven đường, ông Tổng thư ký mới chưa nhả hết khói thuốc lào đã thốt lên: “Trời ạ, cậu lại bị họ bắt nạt rồi… Tớ đã thoát khỏi bao sự bắt nạt của họ, giờ lại đến cậu! Khốn khổ! Thôi, đưa về Hodafilm đi!”
Thế như kẻ đang hấp hối bỗng được phục hồi toàn bộ sinh lực thường ngày bởi một phép màu, và không tin ở tai mình nữa. Đạo diễn Đặng Nhật dịu dàng nhắc lại, trong niềm thương cảm cho một thằng cùng nghề trẻ tuổi đang gặp bao trắc trở, thù ghét, rồi ông nói thêm, vẻ lưỡng lự: “Nhưng… với một điều kiện…”.
Anh phải chộp ngay lời ông, chỉ sợ ông thay đổi ý kiến thì nguy, nhưng nói không ra hơi: “Điều… điều kiện gì… hở đại ca?”
Sau một hơi thuốc lào đẫy nữa, ông mới nhìn thẳng vào mắt Thế, chỉ thẳng tay: “Cậu phải làm Giám đốc sản xuất!”.
Thế rụng rời chân tay. Đã qua mấy đoàn làm phim, anh thấm hiểu trọng trách, nỗi gian nan của người cầm bạc tỷ Nhà nước để điều hành & tổ chức sản xuất thành một bộ phim nhựa hơn 10 cuốn - qua biết bao công đoạn mà từng công đoạn chỉ mới nghĩ đến thôi cũng đủ toát mồ hôi hột! Giám đốc sản xuất cho chính phim của mình, trong khi còn phải lo từng câu thoại, từng cảnh quay, từng diễn xuất…! Mà lại mang tiếng, mang tiếng quái gì - sự thật là thế: "Để tâm hồn treo ngược trên cành cây”! Phim mà không thành, hãy giơ hai tay ra mà tình nguyện nhận xích!
Như hiểu tâm trạng của tay đạo diễn trẻ và an ủi anh, ông từ tốn giải thích: Hodafilm chưa có nhà sản xuất, còn nếu có giám đốc Hãng thì chỉ làm vì thôi, đúng hơn là ông giám đốc ấy còn phải học nghề tổ chức sản xuất chán… Thế đã ở bước đường cùng. “Vâng, em biết thân biết phận em rồi…”. Ngay lúc đó anh đã phải thầm liệt kê ra sẽ mời những thành phần nào của đoàn làm phim - trước hết là một ông chủ nhiệm phim đáng tin cậy (dù biết trước là tất cả những thành phần này sẽ bị lãnh đạo Hãng ghi vào “sổ đen” khi dám vô tổ chức vô kỷ luật đi làm phim ngoài cho tay Thế cận!).
Và cũng chính nhờ chuyện “biết thân biết phận” này mà Thế mới có được bộ phim đầu tay, chính thức bước vào hàng ngũ đạo diễn điện ảnh Việt Nam thế hệ thứ 4. Việc “biết thân biết phận” này đã được bù đắp bởi sự quan tâm chu đáo thiết thực của ông Tổng thư ký Hội Điện ảnh, người đàn anh biết cảm thông với kẻ đàn em ít may mắn trong nghề…
Còn Thế thực hiện bộ phim này quả là phải trải qua “Con đường khổ ải” trong mấy cương vị: Giám đốc sản xuất, Tác giả kịch bản, Đạo diễn, và cả “Bảo mẫu” cho diễn viên nhí đi theo đoàn làm phim hai tháng trời ở một vùng cao Tây Bắc…
Lần đầu tiên trong đời, Thế dự một cuộc bảo vệ kinh phí làm phim tại Vụ tài chính của Bộ chi tiền cho việc sản xuất phim, mà lại bảo vệ cho chính phim mình! Anh vốn ù ù cạc cạc trước những con số về tiền bạc to đùng, nên đùn đẩy hết cho ông Chủ nhiệm phim anh đã trân trọng mời vào một trong những cương vị chủ chốt nằm trong màn chữ phim đầu; nhưng khi ông Chủ nhiệm gật đầu trước số lượng xăng dầu được ấn định dành cho việc di chuyển của một đoàn làm phim thì anh buộc phải lên tiếng:
- Thưa các vị làm kinh tế, ở đây các vị chắc là ai cũng đã từng đi ô tô lên miền núi, và điều sơ đẳng này ai cũng biết: mỗi lần xe vào ga lên dốc thì lượng nhiên liệu phải tiêu tốn gấp rưỡi tới gấp đôi so với cùng quãng đường bằng phẳng dưới xuôi… Phim này chúng tôi hoàn toàn quay ở một vùng cao so với mặt nước biển gần hai nghìn mét, lại phải thường xuyên đi lại xuống vùng núi thấp hơn lo thực phẩm và đặc biệt là phải đem phim đã quay về Hà Nội in tráng hàng tuần… Vậy mà, trong riêng bản dự toán về vận chuyển này, số ki lô mét đường của hai vùng địa hình: vùng cao phức tạp và vùng thông thường đồng bằng được các vị đánh đồng như nhau, lại chỉ tính có độc mỗi lần đi lần về của cả đoàn phim, chắc là một sự lầm lẫn nho nhỏ đấy ạ…
Tất cả những người có trách nhiệm cầm cân nảy mực cho số phận bộ phim về hình hài trong buổi đó đều ngẩn ra một lúc rồi gật gù “tâm phục khẩu phục” trước tay đạo diễn gầy gò đã từng có hàng chục lần lên các vùng cao Tây Bắc - Đông Bắc, lý lẽ khiêm nhường nhưng không bẻ được một từ…
Chủ nhiệm Thanh vốn là cựu sinh viên khoa Kinh tế điện ảnh trường VGK Liên Xô, có bằng đỏ hẳn hoi, song chuyên làm phim “bao cấp” của Hãng với đầy đủ ban bệ, theo kế hoạch chặt chẽ, may rủi đã có Hãng phim gánh cho, nên khi làm phim với Thế là ngoài “bao cấp” ông rất lo lắng, bảo anh:
- Thú thực là vì quý em lắm nên anh nhận lời em, dù biết Lãnh đạo Hãng sẽ không hài lòng đâu… Đây là phim tài trợ của Nhà nước song lại do một Hãng phim chưa bao giờ làm phim đứng ra tổ chức thực hiện, rồi một nhà sáng tác chuyên môn mà phải làm Giám đốc sản xuất… Điện ảnh nước ngoài chuyện đó là thường, còn ở nước ta chưa từng có… Anh lo lắm, mà…
- Chỉ cần anh thấy kịch bản của em đáng để anh đầu tư công sức, là anh em ta sẽ vượt qua được mọi thử thách anh ơi! - Thế ngắt lời ông - Hãng của Hội chưa có dịp làm phim thì bây giờ sẽ làm đây, và sẽ tạo thương hiệu ban đầu cho họ, còn tổ chức sản xuất đã có anh là dân điện ảnh ở Nga về làm thủ lĩnh, còn em thì sống chết với phim này, ta sợ gì nữa, anh!
Ông Thanh sau khi lãnh khoản kinh phí sản xuất phim ban đầu về, việc đầu tiên mà ông làm - theo đúng “quy trình” quen thuộc của ông và các nhà Chủ nhiệm phim, là đem tới nhà Thế, đặt lên bàn làm việc của anh một cục tiền to như cục gạch toàn tiền 500 ngàn đồng:
- Em cầm tạm nhé…
Thế sửng sốt:
- Tiền gì đây anh? Sao lại đưa em?
Ông Thanh hồn nhiên:
- Thì đó là khoản “bôi trơn” đầu tiên cho đạo diễn trưởng đoàn, khi chưa tính được cụ thể thù lao sáng tác theo quy định chung…
Thế nghiêm mặt:
- Anh à, em xin thưa lại với anh: chúng ta hiện không phải làm phim theo kế hoạch của Hãng ta. Em buộc phải làm Giám đốc sản xuất, thì toàn bộ kinh phí sản xuất là của em, dành cho phim của em, anh lấy tiền của em đưa cho em làm gì? Giờ, mọi chi tiêu của đoàn, là do em quyết định, anh chỉ là người quản lý chi tiêu giúp em, do em mời anh. Vì vậy, em sẽ cùng anh xây dựng các ba-rem thù lao cho các thành phần đoàn phim, mà anh là người đầu tiên. Anh tự tính đi, em sẽ phải trả anh bao nhiêu?
Ông Thanh có vẻ xấu hổ, ấp úng:
- Ừ, thì cái lệ xưa nay của các đoàn phim mà… Khi thành lập đoàn, đạo diễn là Vua em à… Em thông cảm… Còn, em trả anh bao nhiêu cũng được…
- Không, tất cả phải theo quy định tài chính, anh làm Chủ nhiệm nhiều phim chắc rõ hơn em, và em mời anh chũng chính là tin cậy vào nghiệp vụ của anh, cũng như sự trung thực của anh - cái trung thực thường bị mang tiếng là thật thà, là đần, là dại ở môi trường làm phim kinh phí lớn…
Ông Thanh gãi đầu gãi tai:
- Cám ơn em… Em dám xử dụng một kẻ mang tiếng thật thà, đần, dại là anh… Anh sẽ cố gắng hết sức…
- Trước mắt, em đề nghị trích ngay kinh phí để anh đăng ký điện thoại bàn ở nhà. Sau đó, anh tìm luôn cho em một ông đầu bếp phục vụ đoàn phim…
- Ồ, anh có ngay, người bà con của anh làm nghề anh nuôi vừa ra quân, khỏe mạnh xốc vác lắm…
- Sáng mai anh lên cơ quan, anh đặt luôn vấn đề với phòng Kinh doanh là chúng ta sẽ thực hiện toàn bộ khâu Hậu kỳ tại Hãng ta, nhé?
- Thế thì tốt qúa, đem việc về thì Hãng sẽ bớt căng thẳng với ta… Còn in tráng Nê và Pô?
- Em đã tính rồi, in tráng chỗ khác chuẩn hơn về kỹ thuật! Anh Tạ trưởng phòng Kỹ thuật tham vấn cho em thế. Thôi, anh về lo đăng ký điện thoại nhà ngay, rồi thu xếp chuyện gia đình vài hôm nữa đi với em một tuần lên Tây Bắc tiến hành khâu chuẩn bị hiện trường quay…
Suốt hơn một tuần đi theo đạo diễn lên tỉnh X và địa điểm quay tương lai cách Tỉnh gần trăm cây số, chủ nhiệm Thanh hầu như chỉ làm công việc bắt tay chào hỏi và đỡ rượu cho Thế, ông hết sức ngạc nhiên, cảm phục trước nhiều mối quan hệ thân thiết, chân tình của anh - người đã tích cực giúp địa phương về truyền thông trong việc phá bỏ cây thuốc phiện rồi hậu cây thuốc phiện, quảng bá các đặc sản chè, cà phê, măc ca… Dường như anh không phải trổ tài ngoại giao để được một nhà máy sản xuất tơ tằm cho mượn cả nghìn mét dây điện cao thế đem về trường quay, vậy là đỡ một khoản kinh phí lớn thuê máy nổ Ural và xe tải chở máy nổ cùng vật liệu từ Hà Nội lên. Tại bối cảnh quay chính, Thế và chủ nhiệm Thanh đã được nhà máy chè địa phương hoan hỉ đồng ý cho sử dụng điện sản xuất, cho mắc dây điện từ nhà máy về bối cảnh làng Mông, cử hai công nhân trực dây điện 24/24 giờ, với điều kiện đoàn làm phim nuôi ăn hai bữa gần hai chục công nhân suốt giai đoạn quay. Tại đây, Thế và ông Thanh vào một làng (jao) Mông gần nhà máy để liên hệ thuê hai con ngựa và người nài ngựa, sau đó gửi diễn viên chính và thứ chính lên tập cưỡi ngựa trước giai đoạn quay nửa tháng.
Vào giai đoạn tiền kỳ - tức giai đoạn quay, ông Thanh đã thống nhất với Thế dành riêng một chiếc xe Uoát phục vụ chuyển phim đã quay về Hà Nội, và sau vài ba ngày lại xuống vùng người Thái để “vơ vét” thực phẩm cho cả đoàn phim hơn ba chục người và gần hai chục công nhân nhà máy chè.
Việc chọn - mời diễn viên, “hóc” nhất với Thế là diễn viên nhí, vai chính trong phim! Lúc đó cuối năm, đang là năm học chuẩn bị hết học kỳ I, không gia đình nào ở Hà Nội cho con gái nhỏ đi đóng phim dịp này suốt hai tháng trời, lại xa tít mù như thế, kể cả mời phụ huynh đi theo. Cũng không thể mời diễn viên nhí ở địa phương, các cháu bé Mông nhút nhát, tiếng phổ thông chưa được sõi, nếu tham gia làm phim thì thời gian tiền kỳ không cho phép… May mắn là nhà thơ Võ Kim làm báo Bắc Giang vốn quý Thế, hiểu được tâm trạng của anh liền bảo: “Con bé nhà tôi nó đóng phim của ông được đấy! Vợ chồng tôi tin tưởng giao nó cho ông. Có điều, ông nên mời một thầy cô giáo trên ấy dạy nó chương trình lớp Ba nó đang học, trong thời gian quay…”. Thế đã tìm được một thầy giáo như vậy ở trường Phổ thông cơ sở xã, và đề nghị chủ nhiệm Thanh trả công cho thầy giáo khoản thù lao bằng cả năm dạy học của thầy!
Về thành phần tổ quay, do có sự giới thiệu và đảm bảo của anh Tạ trưởng phòng kỹ thuật, một nhà quay phim chiến trường K5 cũ, nên đoàn phim không gặp khó khăn trong chuyện mời người; ông còn bí mật giúp Thế chọn thuê phương tiện tốt nhất với giá phải chăng, và cử mấy ánh sáng viên, kỹ thuật viên tin cậy của ông đi giúp đoàn. Nhưng về tổ thiết kế mỹ thuật, Thế không sao mời được ai, bởi một số đang làm phim và một số thì lo sợ dính vào phim “ngoài luồng”, tức ngoài kế hoạch của Hãng, nên anh đành kéo cậu em họa sĩ mới từ Bun về vào làm thiết kế phim, đó là nhân vật trong truyện phim Âm bản “Đoa hồng trên ngọn Vitôsa” mà anh từng “xi nê mồm” cho người tình cũ là Thảo kỹ sư Bê tông… Nhớ đến nhà điêu khắc Vũ Anh nổi danh với cụm tượng Đề Thám và khu vườn tượng tại gia do nhà báo Võ Kim giới thiệu mấy năm trước, Thế liền phóng xe lên Bắc Giang thăm ông. Sau khi Thế rụt rè đề nghị ông tham gia tổ thiết kế mỹ thuật, ông hào hứng gật đầu luôn. “Tao cũng muốn đi làm phim với chú mày, để chú mày sai bảo” - “Chết, ông bác cứ nói đùa! Em muốn bác đỡ đần cho phim em, để bác có thêm chút thu nhập, và cái chính là được học hỏi thêm nhiều điều ở bác!” Ông cười xòa, nhận lời và bảo Thế: “Tớ còn đóng vai già làng Mông được ấy chứ!”. Không ngờ, lời nói vui đó lại biến thành sự thật.
Suốt hai tháng ròng rã quay phim ở một vùng cao Tây Bắc, ông Vũ đã làm phim cùng Thế trong cương vị tổ trưởng tổ thiết kế mỹ thuật, cùng với họa sĩ Lăng lo cả dựng cảnh lẫn phục trang đạo cụ… Ông đã chỉ huy tổ thiết kế tạo cả một vườn hoa thuốc phiện giả mà ngay đồng bào Mông cũng tưởng là hoa thật! Ông còn quan tâm đến bếp ăn của đoàn chỉ vì thằng em dại đạo diễn phải ăn kiêng do mắc lại bệnh đường ruột khá nặng đúng vào giai đoạn quay, ông đề nghị anh nuôi chuẩn bị mâm cơm riêng cho Thế - cái điều mà anh giữ ý không nỡ báo cho anh nuôi… Vào quãng thời gian rảnh của đoàn phim do chờ đợi mang phim négatif đã quay về Hà Nội in tráng, ông bàn với Thế về vài thoại phim, tâm lý nhân vật, tiếp tục tìm hiểu các bối cảnh mới sẽ quay, hoặc đi khắp mấy làng Mông xung quanh sưu tầm các vật dụng của đồng bào - như sừng trâu, lục lạc trâu, mõ trâu, dao Mông, súng kíp, mảnh thổ cẩm… làm đạo cụ cho phim, và cho bộ sưu tập của cá nhân ông. Có ngày nằm dài chờ đợi kết quả in tráng đưa lên, ông kể cho Thế nghe những ý tưởng làm tượng và ký ức về Rừng của ông, ông bảo: “Vầng trăng núi” của mày làm tao nhớ lại thời tuổi trẻ: Người ở phương nào tôi ở đây/ Nao nao rừng hết mấy tầng cây…
Tới trường đoạn phim cần có một vai phụ là già làng (phải “nhai” được mấy câu thoại phim), sau khi đoàn phim đi khắp mấy làng (jao) Mông xung quanh để tìm mà không ra, thì bé Trà diễn viên nhí bỗng kêu lên: “Đạo diễn ơi, con thấy bác Vũ Anh ngồi lên bếp lửa Mông làm mấy cái đạo cụ trông giống già làng lắm ạ”. Thế là anh liền mời ông thay phục trang Mông, đóng thử vai. Hóa ra, lời vui ngày nào của ông ứng nghiệm: ông vào vai già làng thực điệu nghệ, như ông sinh ra là để cho vai diễn này! Khi trong áo quần dân tộc, ông đi trong làng, nhiều người dân cứ tưởng ông là lão Mông ở làng khác tới, chào ông bằng tiếng Mông, khiến ông lúc đầu ngượng nghịu lí nhí, sau thì mỉm cười vẫy tay chào y như lãnh đạo về thăm bà con!
Trong giai đoạn quay căng thẳng nhất, xảy ra một vụ cháy trong làng Mông, ông là người đầu tiên phát hiện ra và gào thét cả đoàn phim bỏ việc chạy tới giúp đồng bào dập cháy kịp thời!… Gần cuối đợt quay, cũng vào dịp sinh nhật diễn viên nhí Trà, ông đã chủ động tạo ra một bữa tiệc nhỏ đủ bánh trái hoa rừng để mừng cô bé, với sự tham gia của cả đoàn phim và nhiều trẻ em trong làng. Trong bữa tiệc ấy, ông đã kịp học được vài câu tiếng Mông kết hợp điệu bộ để trò chuyện với lũ trẻ người Mông quanh cô bé diễn viên chính của đoàn, như một già làng thực thụ…
Trở về Bắc Giang, ông đã mang theo mấy đạo cụ của phim và đồ sưu tầm riêng từ vùng cao để trưng bày trong gian phòng ám khói chất sách vở lâu nay đã quen thuộc với bạn bè và các đàn em yêu quý ông…
15.
Thư cho Yến:
Bộ phim “Vầng trăng núi” của anh đã được cấp duyệt cuối cho vào làm bản đầu để phát hành rộng rãi toàn quốc, và có thể ra quốc tế nữa. Nhiều người trong nghề thích bộ phim vì xúc cảm chìm sâu của nó, dù cách thể hiện hơi khác lạ của anh. Còn ra công chúng thì anh hy vọng sẽ tìm được không ít đồng cảm… Hơi tiếc vì kỹ thuật phim. Nhà quay phim, Cục phó Cục Điện ảnh Trần Dân hỏi anh: “Các cậu mang theo bao nhiêu ký đèn mà chiếu sáng phim đuối thế?” Chẳng lẽ anh thật thà đổ lỗi cho tổ quay phim: “Em cho thuê đủ đèn, đủ cơ số phim độ nhạy cao, nhưng các vị ấy không phải lo tới sự đánh giá xếp loại kỹ thuật A,B,C của Hãng như mọi khi, nên đã thỏa sức thể nghiệm, đúng hơn là lấy phim của em làm nơi thí nghiệm hiếm có cho nghề nghiệp khi chiếu sáng bối cảnh nhà người Mông vốn tranh tối tranh sáng giữa ban ngày…”. Nhưng tiếc nhất là anh đã không thể mời em về để xem “đứa con đầu lòng” của anh ra đời sau bao năm lận đận lủi thủi vào Nam ra Bắc, lên rừng xuống biển, vất vả tìm đường làm phim, và lo toan đến hộc máu mà không giữ được người mình yêu…
Sau khi phim được duyệt, anh một mình ra ngồi trên bãi cát sông Hồng, nhìn mấy đứa trẻ chơi đùa trên cát - những đứa trẻ chắc bằng lứa tuổi con đầu lòng mà chúng ta có thể có với nhau, lòng anh chợt tan tác, xót xa… Và anh cảm thấy sự thiếu vắng em trong đời là cái thiếu thốn đau đớn nhất… Anh thèm có được tâm hồn trong trẻo của em luôn bên anh để mọi điều khổ đau và vui sướng của anh sẽ hiển hiện qua đó tựa một tấm gương không cần giải thích, chứng minh, biện hộ, mà nếu phải lý giải chúng anh sẽ mất cả đời người với hàng vạn mét phim nhựa; và với tấm gương đó anh có thể soi rọi, vẽ nên chút gì đó về sự chật chội tù túng của tâm hồn con người, về sự tầm thường đến phát khóc của trái tim mà tuổi trẻ quanh anh vẫn lầm tưởng là Tình Yêu và không hề coi đó là bất hạnh… Nhìn quanh bạn bè thân thiết, ai cũng đều có gia đình nhỏ ríu rít ấm cúng, anh chạnh lòng và lại vùi đầu trong sách vở, bản thảo dở dang, để rồi thêm đơn độc và nhớ em…
Bức thư này, cũng như nhiều bức thư trước đó anh không gửi đi. Sợ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình mà em đang có, và không muốn khơi lại cho em vết thương lòng chắc không bao giờ hàn gắn được và chẳng ai có thể hàn gắn được…
Bộ phim đầu tay của Thế được chiếu tại Rạp Tháng Tám ở trung tâm Thủ đô một tuần - như tất cả các phim thực hiện bằng nguồn đầu tư không hoàn lại của Bộ Văn hóa. Áp phich phim tại Rạp do họa sĩ Lăng - em Thế thể hiện ma két giúp Công ty phát hành. Vì không có kinh phí dành cho việc truyền thông - quảng bá, nên Thế và chủ nhiệm Thanh đã tự làm tờ rơi in màu đơn giản, kiểu capostal hai tờ gấp, gồm bốn trang: Trang đầu: HODAFILM SẢN XUẤT năm…- VẦNG TRĂNG NÚI - Phim nhựa màu Kodak 10 cuốn. Trang hai: Biên tập, Biên kịch, Đạo diễn, Giám đốc sản xuất và các thành phần chủ chốt: Quay phim, Họa sĩ, Nhạc sĩ, Âm thanh, Dựng phim & Diễn viên chính - thứ chính. Trang bốn: Hai cảnh phim. Trang ba có nội dung như sau do Thế soạn:
Mai Ly - cô gái dân tộc Mông có tên “Vầng trăng” trở về làng sau 3 năm đi học dưới xuôi, với bao khát vọng đẹp cho quê hương vùng cao… Nhưng Vừ Tủa, người yêu của cô đã dần trở thành một kẻ buôn lậu thuốc phiện và nghiện hút. Tình yêu tan vỡ, Mai Ly còn phải gánh chịu nỗi bất công của sự hiểu lầm và ghẻ lạnh của của dân làng… Đau đớn, tuyệt vọng, Mai Ly tìm cách bỏ làng ra đi.
Liệu cô gái vùng cao có trụ lại được ở quê hương mình? Mối tình của đôi nam nữ người Mông có hàn gắn được hay không?
“Những kết thúc có hậu thường chỉ có trong những câu chuyện cổ tích Mông…”
Còn kết thúc của phim “Vầng trăng núi” ra sao, mong quý vị khán giả theo dõi.
Quả đúng như dự cảm của Thế và chủ nhiệm Thanh: những người đã đi làm phim ngoài Hãng cho phim của Thế, dù tất cả đã hoàn thành định mức lao động của Hãng đều bị cảnh cáo, nhưng bằng cách mà không ai có thể tưởng tượng nổi: Tên tuổi những nhân vật đó đã “được” trưng lên cả tháng ròng trên một bản công bố chữ to dán ngoài cổng Hãng để công khai trừng trị những ai đã ủng hộ tay đạo diễn dám qua mặt Hội đồng nghệ thuật chơi trèo tới ngọn nguồn tài trợ - “bầu sữa” Nhà nước, mà chỉ một Hãng phim có nhiều bằng khen, giải thưởng trong nước và quốc tế mới có quyền ưu tiên số Một được hưởng! Tác phẩm “con rơi” đó lẽ ra phải là sản phẩm theo Kế hoạch quý/ năm nhằm phục vụ các nhiệm vụ xã hội - chính trị lớn của một Hãng phim có bề dày lịch sử, chứ không phải chỉ là đơn vị làm thuê từng công đoạn sản xuất theo Hợp đồng cho tay đạo diễn vô danh tiểu tốt, “vua không biết mặt chúa không biết tên” nọ! Vậy là, đây là lần thứ hai Thế có “vinh hạnh” được bêu tên tuổi trước công luận bằng bảng Chữ to, bởi những người có quyền định đoạt tương lai nghề nghiệp của anh, ở cả hai vùng miền: miền xuôi và miền núi - theo quy định phân vùng địa lý tự nhiên từ trước tới nay…
Và trong kho “lưu trữ ý tưởng bần tiện” của Thế đã có thêm một prototype (nguyên mẫu) về một ông lãnh đạo các nhà làm phim có “Đít đồng”, “Đầu đất sét”, “Bụng cá sấu” và “Trái tim rắn rết” - như lời bàn luận sau lưng đầy hứng thú và sợ sệt của một số nghệ sĩ trẻ trong Hãng phim - dù có được hưởng ân huệ ban phát của ông ta hay không… “Thủ lĩnh” số một của những vị “Đít đồng” đó là người cầm đầu Liên hiệp Điện ảnh vào năm Liên Xô sụp đổ đã có một chủ trương khiến các ông chủ phim toàn thế giới phải kinh hoàng và ngả mũ kính nể: Biến tất cả các rạp chiếu phim toàn quốc thành quán bia, vũ trường và cơ sở dịch vụ đủ loại không dính dáng chút gì tới Điện ảnh!… Từ sự khốn nạn cay đắng của riêng mình, Thế có dịp hiểu thêm và cảm thông hơn với các đạo diễn - biên kịch đàn anh mấy thế hệ trước phải bỏ Hãng mà đi biệt tăm, hoặc đã chết mà không nhắm được mắt, chưa được mỉm cười nơi chín suối bởi chưa có kẻ đủ dũng khí kể lại những sự thật dau lòng, những bất công mà các ông/ bà phải chịu đựng thời những “Đít đồng” kia nắm quyền sinh quyền sát với tác phẩm tâm huyết và bữa ăn của gia đình họ… Đến thời của anh, không khí những cuộc “đấu tố”, “thanh trừng” và “loại bỏ” trong cơ sở làm phim truyện lớn nhất Đông Dương này đã hạ nhiệt khá nhiều như để dành không gian cho sự “ban ơn”, “chiếu cố”, “ưu tiên”, “dành riêng” - tuy cái sự “ban ơn”, “chiếu cố” này lắm lúc cũng gay gắt như một cuộc huy động quân dịch, đó là các đợt truy vét tổng kho toàn bộ nhân vật lực dành cho phim “khủng” nhằm chào mừng các Đại Lễ của những ông lớn đạo diễn “thủ lĩnh” Hãng, “thủ lĩnh” Xưởng… Một người bạn “đồng môn” đạo diễn của Thế sau khi phải đi làm phó đạo diễn cho một phim như vậy đã được “bố thí” cho bộ phim nhựa đen trắng đầu tay, để sau bộ phim đó đã bán xới khỏi Hãng, giơ tay chào vĩnh biệt Nàng Tiên Út-Nghệ thuật thứ bảy để vào làm văn nghệ quần chúng tận Đồng bằng Sông Cửu Long! Còn Thế thì không hiểu đã khôn ngoan hay dại dột khi từ chối khéo léo để thoát khỏi một lần “huy động quân địch” như thế, rồi sẽ “được” ghi dai dẳng trong bộ nhớ sáng suốt của những người cầm cương đoàn “chiến xa” Điện ảnh dân tộc…
Đoàn “chiến xa” đó mải mê hùng dũng phóng về “Hố Thẳm”.
[1] Tên một cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Trường
[2] https://fr.scribd.com/document/561431762/Milan-Kundera-les-testaments-trahis
[3] Phim âm bản thông dụng (đen trắng hoặc màu) dành cho máy chụp ảnh và máy quay phim điện ảnh đều cùng cỡ 35mm, những người làm phim thường lấy phim quay négatif còn thừa sau mỗi đợt quay tự lắp vào mobil phim để chụp.
[4] Dưới đáy (На дне, 1902) - Tên một vở kịch của M.Gorki
[5] Tên một cuốn tiểu thuyết của nhà thơ Võ Văn Trực
[6] Hố thẳm: Từ dùng của thi sĩ triết gia Phạm Công Thiện
[7] Nhà làm phim độc lập (independent filmmaker) - khái niệm mới được du nhập vào Việt Nam mấy năm nay, là người làm phim nằm ngoài các hãng phim lớn, không phụ thuộc vào phim trường và diễn viên ngôi sao, không chạy theo thị hiếu đám đông, tự chủ trong mọi khâu từ lên ý tưởng, sản xuất đến tìm kiếm nguồn vốn… để có thể bảo vệ dấu ấn sáng tạo cá nhân. Phim độc lập thường khai thác các chủ đề xã hội nhạy cảm, tâm lý phức tạp hoặc những thể nghiệm nghệ thuật mới lạ và thường được thực hiện với kinh phí thấp hơn đáng kể so với các hãng phim lớn.
[8] Họa sĩ thiết kế, hay Giám đốc mỹ thuật (Production Designer) là người chịu trách nhiệm toàn bộ về mặt thị giác và không gian nghệ thuật của một bộ phim truyện (Phụ trách các tổ xây dựng bối cảnh, thiết kế phục trang, đạo cụ).
[9] Do Cục Điện ảnh, trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội và các Hãng phim cả nước liên kết tổ chức thi tuyển khóa Đại học Tu nghiệp đầu tiên (và cũng là duy nhất) cho các chức danh nghề nghiệp: Biên kịch, Đạo diễn, Họa sĩ thiết kế, Chủ nhiệm phim.
[10] Trò chơi (Игра) xuất bản lần đầu năm 1985.
[11] Tên một tác phẩm của nhà báo Huy Đức
[12] Nhà thơ Trần Dần được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật vào năm 2007
[13] Tên một bộ phim của Tiệp Khắc sản xuất năm 1978
[14] Trong điện ảnh, sequence là thuật ngữ chỉ cảnh phim
[15] Thập tam trại (13 làng trại) là quần thể các làng nghề nông nghiệp và làng nghề truyền thống được khai phá ở phía Tây kinh thành Thăng Long vào thời Lý
[16] Bốn câu mở đầu bài “Quan Thư” trong Kinh Thi: Tiếng chim thư cưu hót họa nhau bên sông, người con gái thục nữ hiền dịu là đôi lứa xứng đôi của bậc quân tử.
[17] https://vanviet.info/tren-facebook/phuc-hoi-chu-bi-duc-o-bia-v-tho/
[18] Ngày 15/12/2021, UNESCO đã chính thức ghi danh Nghệ thuật Xòe Thái của Việt Nam vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
[19] Цемент (1925) - tác phẩm nổi tiếng nhất của F. Gladkov, tác phẩm đầu tiên của văn học HTXHCN Liên Xô, viết về một nhà máy xi măng.
[20] Tiếng lóng chỉ những người Việt chạy hàng, đánh hàng buôn bán đủ loại tại các nước Đông Âu, Liên Xô
[21] Tên một cuốn tiểu thuyết của nhà biên kịch điện ảnh Tô Hoàng từng học ở VGIK (Đại học Điện ảnh LBXV)
[22] Máy ảnh có bộ phận ngắm trực tiếp qua gương lật ở giữa thân máy, phân biệt với máy ảnh có bộ phận ngắm lệch ở thân máy và không qua gương (viseur klaire) .
[23] Ca khúc của Raimonds Pauls trở nên nổi tiếng qua tiếng hát của danh ca Nga Alla Pugacheva (được mệnh danh là “Người đàn bà hát” đã lên phim vào năm 1978, và phim “Người đàn bà hát” được phát hành tại VN đầu những năm 80).
[24] Bộ Xây dựng (tiền thân là Bộ Kiến trúc) được thành lập vào ngày 29/4/1958
[25] Phim Viễn Tây Đỏ (Ostern) chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của một nữ văn sĩ Đức do hãng phim DEFA Đông Đức thực hiện năm 1966, phát hành tại Việt Nam đầu những năm 80 thế kỷ trước
[26] Trên từng cây số là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bungari vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 thế kỷ trước. Nhưng chỉ tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu.
[27] "Cán bộ lưu dung" (hoặc lưu dụng) là thuật ngữ hành chính tại Việt Nam, chỉ những người làm việc trong bộ máy chính quyền cũ được chính quyền mới giữ lại để tiếp tục làm việc
[28] Souvenir – đồ lưu niệm
[29] Maurice Utrillo (1883-1955): Họa sĩ người Pháp nổi tiếng với các bức tranh phong cảnh Montmartre.
[30] Cảnh phim, lớp kịch
[31] Câu trong Trẩy chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp (và trong truyện thơ Nôm khuyết danh Tống Trân Cúc Hoa)
[33] Trong tiểu thuyết bộ ba Con đường đau khổ (Хождение по мукам)
[34] Chủ nghĩa Hiện sinh (Existentialism): trào lưu triết học bùng nổ mạnh sau Thế chiến II, đề cao sự tồn tại cá nhân, quyền tự do quyết định số phận của chính mình trong một thế giới phi lý. Các đại diện tiêu biểu: J. Sartre, A. Camus, F. Nietzsche, S. Kierkegaard
[35] Kabale und Liebe
[36] Liên Xô sụp đổ vào ngày 31/12/1991 sau 74 năm tồn tại
[37] Ngành Điện ảnh và Nhiếp ảnh Cách mạng Việt Nam ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 147/SL ngày 15/3/1953 tại Thái Nguyên.
[38] Phim Chom và Sa đoạt giải Silver Elephent tại LHP Quốc tế thiếu nhi năm 1979. Phim dựa theo câu chuyện về hai em bé người Thái đen ở Mường La - Sơn La không còn cha mẹ, sống lẩn khuất trong rừng, cho đến khi bộ đội Việt Minh vào giải phóng Tây Bắc đã cứu sống các em và nuôi cho ăn học...
[39] Tức tù chính trị Cộng sản, phân biệt với tù thân Nhật và tù thường số hình trám hình thoi.
[40] Đạo diễn tác giả (Auteur Director) là nhà làm phim có phong cách cá nhân độc đáo và nhất quán trong toàn bộ tác phẩm, thể hiện dấu ấn "tác giả" rõ nét, được xem là nguồn lực sáng tạo chính tựa tác giả tiểu thuyết, chứ không chỉ là người hiện thực hóa kịch bản chuyển thể thành bộ phim.
[41] Đại học điện ảnh quốc gia toàn Liên Bang Xô viết
[42] Tên một truyện vừa của nhà văn T. Aimatov
[43] Phim Thằng ngốc của đạo diễn Ivan Pyryev, xưởng Mosfilm sản xuất năm 1958
[44] Ngày phán xử cuối cùng (hay Ngày tận thế, Judgment Day): khái niệm quan trọng trong thần học của Kitô giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo, được kể trong Kinh Thánh.
[45] Bài tán do chính cụ Siêu đề trên bức chân dung lụa nhân dịp cụ 70 tuổi (1868): Hoà quang đồng trần/ Phi tâm trí khoái/ Hi cổ bạt tục/ Tắc lực bất đãi/ Mục kiến nhĩ văn/ Vô hồ bất tại/ Thứ cơ tồn tồn/ Dĩ tiến ngô thoái (Hoà sáng với bụi đường, Thì lòng ta chẳng thích. Noi xưa vượt thói thường, Thì sức ta không kịp. Điều mắt thấy tai nghe, Chẳng có gì không thật. Tiến bước trong cảnh lui, Giữ sinh tồn muôn vật)
[46] Mới đây, theo nhà văn Thái Kế Toại, ông Vân từng làm phiên dịch cho Chủ tịch Hồ Chí Minh đi Liên Xô vào năm 1955. Rồi ông bị bắt ở Quảng Ninh. Lần sau bị bắt ở Hà Nội giam ở Sơn La, trong tù chết vì bị lao năm 1982. Nhà văn Thái Kế Toại đã làm thủ tục giúp gia đình bốc mộ ông năm 1989…
[47] Thơ Tiết Hùng Thái
[48] Tiểu thuyết Illusion perdues (Ảo tưởng tiêu tan) của H. Balzac
[49] Đòn quyết định (The Art of Closing the Sale) tên cuốn sách của Brian Tracy - một chuyên gia thế giới về huấn luyện kinh doanh và phát triển cá nhân.
[50] Hạt mắc khén là gia vị không thể thiếu trong các món gác bếp, nướng, và chẩm chéo của người Thái.
[51] Convoir: Chuyến đi
[52] Nhà thơ Hoàng Hưng dịch thơ từ tiếng Pháp (Nguyên tác: J’ai cueilli ce brin de bruyère/ L’automne est morte souvien-t’en/ Nous ne nous verrons plus sur terre/ Odeur du temps brin de bruyère/ Et souviens-toi que je t’attends). Guillaume Apollinaire (1880 - 1918): nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình nghệ thuật Pháp gốc Ba Lan.
[53] Pháp Hoan dịch. Rainer Maria Rilke (1875-1926): nhà thơ Áo gốc Bohemia viết bằng tiếng Đức, một trong những nhà thơ lớn nhất của thế kỉ XX.
[54] Thơ Huy Cận (Anh viết bài thơ…)
[55] Tập truyện Những mối tình nực cười (Laughable loves) của nhà văn Tiệp Khắc quốc tịch Pháp Milan Kundera
[56] Tên một truyện của nhà văn Vũ Trọng Phụng
[57] Thơ Chế Lan Viên: Con tàu này lên Tây Bắc anh đi chăng?/ Bạn bè đi xa anh giữ trời Hà Nội/ Anh có nghe gió ngàn rú gọi/ Ngoài cửa ô tàu đói những vầng trăng…
[58] Những tên cướp - F. Sinle, Nguyễn Tất Thắng, Nguyễn Đình Nghi dịch, Nxb Văn học 1983
[59] Thơ Châu Hồng Thủy
[60] Trí giả lạc thủy, nhân giả lạc sơn (Kẻ trí thì vui với sông nước, người nhân thì vui với núi non - Luận Ngữ).
[61] Thơ Hoàng Cầm: Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên (Bên kia sông Đuống -1948)
- Từ khóa :
- MAI AN NGUYỄN ANH TUẤN

