- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HÔN NHÂN MỘT THUỞ TRẦN AI

19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1659)



CO GAI- truyện HTBHa

HÔN NHÂN MỘT THUỞ TRẦN AI

Truyện ngắn  Hoàng Thị Bích Hà

 

Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu.

Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.

 

Nhi sinh ra trong một gia đình viên chức, nề nếp ở thành phố Nha Trang. Ba mẹ sống hiền lành, cần mẫn, chăm lo cho con ăn học. Nhi là con gái lớn, tính tình dịu dàng, nói năng cũng nhỏ nhẹ như sợ làm đau lòng ai.

 

Nàng học sư phạm rồi được nhận nhiệm sở tại trường trung học phổ thông trong thành phố, dạy gần nhà. Một công việc đủ để sống, không dư dả nhưng an ổn. Người ta thường nghĩ những người như Nhi sẽ có một đời bình lặng, như mặt hồ không gợn.

 

Rồi Nhi lấy chồng. Nàng kết hôn với Nguyễn Tuần Dương nhân viên đo đạc địa chính, nhà ở cách nhà nàng vài cây số.

 

Một đám cưới không ồn ào, không rực rỡ. Chỉ là hai con người kết lại với nhau, mang theo những kỳ vọng rất giản đơn: có một mái nhà, vài đứa con, và những bữa cơm nóng.

 

Nhưng đời không là mơ và tình không là thơ.

Tính đến nay, Thục Nhi Lấy chồng được mười lăm năm. Trong 15 năm ấy biết bao đoạn trường.

 

Dương-chồng Nhi -không phải là cơn bão đến ngay từ đầu. Anh ta giống như một vết nứt nhỏ trong bức tường, ban đầu chẳng ai để ý. Chỉ đến khi nước mưa thấm lâu ngày, bức tường mới rạn ra, rồi đổ sụp.

 

Những năm đầu, Nhi vẫn nghĩ: “Rồi sẽ ổn thôi.”

Nhưng “ổn” là một thứ không tự nhiên mà có.

 

Anh ta đi làm không đưa tiền lương để vợ nuôi con, mà nếu có đưa vài ba triệu thì vài ngày sau, lấy cớ đi đâu lấy lại gấp đôi, không đưa thì anh ta đánh. Đánh không biết bao nhiêu lần. Hàng ngày có khi đi dạy mà mặt mày Thục Nhi thâm tím, có lần bị đánh đến gãy tay. Ám ảnh bạo lực gia đình.

 

Có những buổi sáng, Nhi đứng trên bục giảng, giấu đi vết bầm dưới lớp phấn trắng. Học trò nhìn cô- một cô giáo hiền lành, chỉn chu, đâu ai biết phía sau tà áo dài là những mảng tím chưa tan.

 

Cha mẹ của Dương là tiểu thương buôn bán nhỏ như xay các loại gia vị bỏ mối ở chợ Đầm có 4 đứa con, ba trai, một gái, có hai người đã lập gia đình.

 

Sau khi kết hôn, thấy dưới nhà chồng cũng đông người. Nên ba mẹ của Thục Nhi mua một miếng đất gần nhà, bỏ tiền ra làm cho con gái căn nhà để hai vợ chồng ở. Những tưởng có tổ ấm riêng, Dương sẽ tu chí. Ngờ đâu, cái mác công chức chỉ là cái vỏ cho một tâm hồn rỗng tuếch và ích kỷ. Rồi Thục Nhi lần lượt sinh được hai đứa con một trai, một gái rất dễ thương. Con cái được bên ngoại đỡ đẫn rất nhiều. Đi đâu mang con qua gửi ngoại. Đi về trễ, ngoại nấu cơm sẵn.

 

Xe máy anh ta cũng mang đi cầm xài riêng. Thục Nhi phải đi chuộc về. Ngoài ra anh ta còn đi cá độ đá banh, có người về đòi nợ tận nhà. Chiếc xe máy của nàng bị Dương đem cầm. Nhi lặng lẽ vay tiền chuộc về. Chuộc về rồi, hắn lại mang đi. Cái vòng lặp ấy kéo dài đến mức, có lúc Nhi không còn nhớ nổi mình đã chuộc chiếc xe ấy bao nhiêu lần. Không có xe, Thục Nhi phải đi vay tiền mua cho Tuần Dương chiếc xe khác, Dương không những không đỡ đần kinh tế mà còn xem vợ như một "cây ATM" sống. Có nhiều lần dẫn gái đi cà phê, ăn uống quán xá khi thì gần xóm nhà Nhi ở, lúc thì gần trường Nhi dạy. Đồng nghiệp thấy, phụ huynh thấy kể lại cho Nhi. Thục Nhi đau khổ, khóc đẫm nước mắt. Nhưng tự bảo lòng nhịn được chừng nào hay chừng đó cho con lớn lên một đoạn nữa. Ly Dị thì tan đàn xẻ nghé, lỗi mình không giữ cho con một gia đình trọn vẹn.

 

Gia đình bên chồng thì bênh con trai. Nhất là mẹ chồng. Với bà con trai bà là nhất. Bà nói:

-Con trai tao chuẩn Men lại là công chức địa chính. Con lấy được là phước. Không thiếu gì đứa con gái thích nó. Con phải chiều chuộng chồng. Nấu những món thật ngon cho chồng ăn. Đàn ông mà! Làm vợ phải chịu khó đi. Nó có gái gú gì bên ngoài thì kệ nó, miễn nó còn về nhà là tốt rồi!

 

Thục Nhi lầm lũi chịu đựng. Ngày đi dạy, tối về bán hàng online, vừa tự ship hàng cho khách để đỡ đồng nào hay đồng đó, chạy đi chạy lại kiếm thêm tiền. Người vừa ốm vừa đen, lấy chồng làm nhan sắc xuống dốc, tàn tạ hẳn đi.

Nhìn con gái mà ông bà ngoại xót lắm!

 

Rồi có lần Thục Nhi bận họp hội đồng về trễ, điện về bảo chồng cắm cho nồi cơm kẻo con đói. Nhắn qua ngoại có đồ ăn gì mang qua cho chồng và hai con ăn. Bà ngoại chạy sang, hỏi Dương con cắm cơm chưa?

Chàng rể bảo:

-Tui đây chưa có ai nấu cho mà ăn đây nè, chứ tui mà nấu cho ai!

 

Câu nói rơi xuống, không ồn ào. Nhưng đủ nặng để làm một người mẹ chết lặng, bầm gan tím ruột. Bà ngoại nhìn thằng con rể mất dạy mà ngao ngán.

 

Bà nhìn con gái mình, đứa con từng được nuôi nấng trong yêu thương, giờ đây héo hắt như một cái cây bị rút cạn nước.

 

Tiền kiếm được từ những giờ đứng lớp, từ những đơn hàng online giao vội trong chiều muộn… tất cả đều chảy về một nơi không đáy.

 

Bà bảo Thục Nhi:

-Con lấy chồng mà khổ quá! Như đày ải, nuôi hai đứa con còn phải nuôi thêm chồng vừa phá, vừa không có trách nhiệm với con. Rồi còn bị đánh đập không thương tiếc, có ngày nó đánh trúng chỗ hiểm mất mạng thì sao?

Không sống được thì bỏ nó đi, rồi mẹ nuôi cháu ngoại cho.

 

Bạn bè thân tín ai cũng ái ngại cho cuộc lấy chồng khổ ải của Thục Nhi mà không biết khuyên nhủ sao. Có người nói:

-Chừ vô lẽ mà tao nói ra, chứ lấy chồng như mày thà đừng lấy còn hơn!

Mấy cô bạn thân bảo:

-Sai thì phải biết sai ở đâu mà dừng lại hay đi tiếp tùy con tim mách bảo.

 

Chị Thúy Lan con dì ruột của nàng bảo:

-Nó tệ quá! Bỏ quách đi mà yên ổn nuôi con. Rồi sống cho ra con người. Chồng con gì nó, đã ăn hại lại còn gái gú và đánh đập vợ tơi bời hoa lá. Nói năng thì cục súc. Con cái làm sao có thể trưởng thành trong môi trường độc hại như vậy.

Con trai đầu học lớp tám (cu Kem), con gái nhỏ (bé Gạo) mới học lớp một. Hai đứa con rất ngoan và thương mẹ.

 

Một hôm cu Kem bảo:

-Bỏ ba đi mẹ! Con thấy mẹ khổ quá, đừng sống với ba nữa, con không muốn mẹ bị đánh!

 

Câu nói nhẹ như gió mà đầy ắp tình thương và sự thông cảm của con trai. Thấy mẹ bị ba đối xử không ra gì, con đã hiểu và đã đến lúc con nói ra được điều mà lẽ ra Thục Nhi phải hiểu từ lâu. Lòng Nhi như vỡ ra điều gì.

 

Lần lửa, chịu đựng mãi bao nhiêu lần Dương cầm xe, lấy tiền đi tiêu xài riêng với bồ, có những lần chính mắt Thục Nhi trông thấy, anh ta ôm cô bồ trong một nhà hàng gần trường Nhi dạy. Buồn, đau và thất vọng nhưng Thục Nhi vẫn chưa đủ dũng khí để trực tiếp đưa đơn.

 

Nhưng không ngờ người chủ động lại là Dương.

Thế rồi Dương lại có cô bồ khác, không biết lần này là người thứ mấy nữa.

Hắn đưa đơn ly hôn, ném xuống bàn:

 

-Ký đi.

Nhi nhìn tờ giấy một lúc lâu. Rồi ký.

Không nói gì, cũng không khóc nữa vì có lẽ nước mắt đã vắt cạn trong những trận đòn và lối sống buông thả vô trách nhiệm và thái độ phụ rẫy của chồng.

Ngày ra tòa ai cũng mừng cho Nhi đã được giải thoát.

 

Hôm tòa gọi Nhi lên nhận giấy, tiện thể lấy luôn về hai tờ, một tờ cho chồng. Thế là Dương (lúc này đã dọn về nhà nội ở và dắt cô bồ đã có 3 con về ở cùng, cha mẹ Dương lúc này qua Úc ở với con gái)

 

Dương chạy lên nhà của Thục Nhi chửi bới quát tháo rất vô lý:

 

-Giấy chứng nhận li hôn để tao lên tòa lấy, ai mượn mày lấy về!

Nói đoạn cầm tờ giấy đi thẳng ra cửa, chẳng thèm nhìn lại hai đứa con đang ngỡ ngàng trước thái độ kỳ cục của ba nó.

 

Thỉnh thoảng Dương vẫn ra vào nhà như chốn không người. Chửi bới, gây sự, vô ra tự tiện như nhà mình. Hàng xóm bảo: ly hôn rồi là xem như xâm nhập gia cư bất hợp pháp. Khi nào nó muốn thăm con thì hẹn ở nhà nội, hay quán cà phê, chở con tới cho nó gặp. Cho đến khi bạn bè khuyên Nhi xây cổng, khóa lại. Ly hôn rồi, không còn quyền tự tiện bước vào nữa.

 

Một cánh cửa khép lại. Chậm, nhưng dứt khoát.

Thế rồi cuộc sống ổn định trở lại. Thục Nhi chủ động lo cho cuộc sống của ba mẹ con. Họp hành, công việc bận rộn thì nhờ ngoại đón con về và nấu nướng chăm sóc các con. Thục Nhi đã có da có thịt trở lại bởi tinh thần thoải mái. Bây giờ Nhi cũng không bán thêm hàng online nữa, thong thả hơn. Chỉ lo dạy, về soạn giáo án, bày vẻ cho con học.

 

Qua bạn bè giới thiệu, Nguyễn Chung xuất hiện vào lúc Nhi không còn nghĩ đến chuyện bắt đầu lại.

 

Không ồn ào. Không vội vã. Anh đến như một khoảng lặng ấm áp mà bình yên- thứ mà Nhi đã thiếu suốt nhiều năm.

 

Anh hơn Nhi vài tuổi, học bách khoa, làm quản lý trong một cơ quan lớn. Gia đình tử tế. Anh từng có vợ, và đã ly hôn vì phản bội, một vết thương đủ sâu để người ta không còn nhìn hôn nhân bằng sự lãng mạn.

 

Nhưng anh nhìn Nhi, không phải bằng sự thương hại. Mà bằng sự tôn trọng.

Anh biết hết quá khứ của nàng. Biết cả những ngày nàng phải giấu vết bầm dưới lớp áo dài. Biết cả những lần nàng một mình xoay xở nuôi con.

-Từ giờ, để anh cùng em lo.

 

Anh Nguyễn Chung rất thương yêu Thục Nhi và hai con.

Cha mẹ anh đến gặp gia đình Nhi. Không phô trương. Không điều kiện. Chỉ có một điều mẹ anh Chung nói, khiến Nhi nhớ mãi:

 

-Con cứ ở đây nuôi con cho trọn. Khi nào các cháu trưởng thành, con muốn ở riêng hay lên ở với mẹ thì tùy ở con.

 

Cha mẹ Thục Nhi mừng cho con, ông bà bảo, nếu cần ông bà sẵn sàng nuôi cháu ngoại cho Nhi đi lấy chồng. Nhưng mẹ của Nguyễn Chung cũng từng làm mẹ nên rất hiểu, không nỡ tách mẹ ra khỏi con, để mẹ nuôi con khôn lớn. Không ai bắt Nhi phải chọn.

 

Lần đầu tiên trong đời, cô được quyền… sống theo cách mình muốn.

Đám cưới nhỏ. Vài mâm cơm, không nhận tiền mừng. Nhi mặc áo dài giản dị. Không rực rỡ như lần đầu, nhưng ánh mắt bình yên hơn. Người ta thường nghĩ tình yêu phải bắt đầu bằng những rung động mạnh mẽ. Nhưng với những người đã đi qua đổ vỡ, tình yêu đôi khi chỉ là cảm giác… được yên.

 

Chung về ở cùng Nhi. Sửa lại căn nhà cũ. Những vết nứt được trám lại. Cánh cửa được thay mới. Sân trước trồng thêm vài chậu hoa.

 

Buổi tối, có người chờ nàng về ăn cơm. Không còn những cơn giận vô cớ. Không còn tiếng chửi.

 

Hai đứa nhỏ dần quen với một người đàn ông không phải là cha ruột, nhưng biết hỏi han việc học, biết sửa xe đạp, biết ngồi nghe chúng kể chuyện trường lớp.

Có những thứ, không cần gọi tên, vẫn hiểu đó là gì. Và đến một lúc nào đó, sau tất cả, người ta chỉ cần một điều rất giản dị:

 

Một mái nhà yên. Một bữa cơm không tiếng cãi vã. Một người ở bên, không làm mình sợ.

Đã qua rồi những ngày rất dài, rất mệt, tưởng như không đi qua nổi, nhưng rồi “trời ngó lại” (chị em nàng bảo thế).

 

Chiều Nha Trang lộng gió, Nhi nhìn hai con vui đùa trong sân, bên cạnh là người đàn ông đang tỉ mỉ tỉa lại mấy chậu cây cảnh. Nàng cảm thấy lòng ấm lại phải chăng "đã qua cơn bỉ cực đến hồi thái lai". Nàng chợt nhận ra giông bão của cuộc đời không phải để nhấn chìm con người ta, mà là để gột rửa những gì tăm tối, dẫn lối cho những tâm hồn thiện lương cập bến bình yên.

 

Saigon, ngày 03/4/2026

Hoàng Thị Bích Hà

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 835)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 858)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1159)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1021)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1235)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1349)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1308)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1180)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1748)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 1898)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9311)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16143)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15162)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15503)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 835)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1159)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1235)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1747)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3488)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5285)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4824)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5449)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1020)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1346)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1667)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1659)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1301)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1179)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1456)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1512)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12187)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28570)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35067)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34968)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9694)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11919)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 858)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1159)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 1747)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 1896)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2204)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6937)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6345)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8299)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.