- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

- Bài Thơ "KHI TÔI BƯỚC XUỐNG" - NCT

20 Tháng Giêng 20251:51 SA(Xem: 21546)
NCT- KhiToiBuocXuong4
Thi sĩ Nguyễn Chí Trung


Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO ***

18.01.2025 - Bài Thơ "KHI TÔI BƯỚC XUỐNG" - NCT

1.

Trong văn học thế giới có những bài Thơ nổi tiếng, văn học sử thường gọi là Thơ đánh dấu thời đại. Bất kỳ độc giả thơ nào quan tâm đến Thi Ca trên thế giới có lẽ đã từng nghe hoặc đọc một số bài Thơ này, dưới dạng bản dịch hoặc bản gốc. Và thậm chí nếu người ấy đọc một bài Thơ hay, họ sẽ nhận ra rằng bài Thơ đó chỉ có thể được viết ra trong khoảnh khắc cảm hứng.

Những bài Thơ này có một điểm chung: theo một cách nào đó, chúng hoàn toàn được ra đời bằng cảm hứng. Và nguồn cảm hứng thiêng liêng này không thể giải thích được. Trong trường hợp tốt nhất, người ta chỉ có thể giải thích một cách khoa học về nguyên nhân gây ra tình trạng này, ví dụ như thông qua những chất gây say.

Điều này áp dụng cho mọi ngành nghệ thuật: những tác phẩm nghệ thuật hay thì là độc đáo và đặc biệt hay. Về mặt này, các sản phẩm của trí tuệ nhân tạo có thể độc đáo, nhưng chúng không hoàn toàn được vì chúng không hay. Cái “hay/đẹp” này (vẫn) được quyết định bởi con người bằng cảm xúc thẩm mỹ và cái gout, tức là từ trình độ trí tuệ của mình.

Ví dụ tốt nhất về nguồn cảm hứng thiêng liêng là bài Thơ độc đáo “Le Bateau Ivre” của Rimbaud.

Chắc chắn đã có những nỗ lực giải thích nó “bằng khoa học, tâm lý, tâm linh, v.v.” Hiển nhiên, thiên tài của một nghệ sĩ hay tính cách thiên tài của một tác phẩm nghệ thuật là điều không thể hiểu được, chứ đừng nói đến việc giải thích hay bắt chước. Bạn chỉ có thể cảm nhận được nó.

Điều này trở nên rõ ràng hơn khi sau quá trình dân chủ hóa nghệ thuật, không hoặc có rất ít tác phẩm nghệ thuật truyền cảm hứng được ra đời. Rõ ràng là chỉ có những cấu trúc được tạo ra từ đầu não. Trong thời đại hậu hiện đại, những sản phẩm này được định nghĩa một cách có hệ thống là “nghệ thuật”. Đây thực sự là quá trình tiến triển của mọi vật trên thế giới, nhưng lại là theo hướng đi xuống. Chúng ta muốn đi lên nhưng cầu thang lại dẫn xuống dưới. Mọi nhà văn đều nghĩ sản phẩm của mình là tốt/hay/đẹp nhất, nhưng càng ngày càng có ít bài Thơ hoặc tác phẩm nghệ thuật tồn tại lâu dài.

Sau khi đã dân chủ hóa, nay đến lúc thời đại của cái gọi là “trí tuệ nhân tạo” (AI).

Câu hỏi đặt ra là liệu trí tuệ nhân tạo này có thể tạo ra một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời hay không, điều mà con người không thể làm được nhưng tốt nhất là robot có thể làm được. Do đó, phải nói đây là một “tác phẩm nghệ thuật” nhân tạo.

Tuy nhiên, ở đây chúng tôi muốn đề cập đến một số bài Thơ phi thường chắc chắn đã đi vào thế giới văn học, qua cội nguồn là cảm hứng thiêng liêng.

2.

Riêng tôi, tôi có thói quen chỉ viết Thơ khi có cảm hứng.

Bài Thơ "KHI TÔI BƯỚC XUỐNG" mà tôi muốn giới thiệu hôm nay tới những người bạn của Thi Ca qua Đài Phát Thanh của Thi Sĩ Radio Del Poeta CALIDOSCOPIO, là một trong những bài Thơ đầy cảm hứng đó.

Tôi muốn lưu ý rằng rõ ràng là tôi không muốn so sánh nó với “Le Bateau Ivre”. Mọi bài Thơ hay và đẹp vượt qua được thử thách của thời gian sẽ trường tồn. Những gì không trường tồn sẽ biến mất. Giải thưởng văn học thường chỉ là khói và bụi. Một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời vẫn còn, còn người nghệ sĩ thì trở thành cát bụi.


NGUYỄN CHÍ-TRUNG

KHI TÔI BƯỚC XUỐNG

1.

Khi tôi bước xuống bậc thang

Gọi bình minh, tiếng người vang lưng đồi

Trên mái nhà rách tả tơi

Chim đã tỉnh lúc mặt trời chưa lên

Một người nằm ngủ bên thềm

Hay là xác chết, lạnh nền đá xưa

Hai bên hoa nở dư thừa

Trong đầu rộn rã tiếng vừa mới reo

2.

Khi tôi bước xuống thuyền chèo

Chòng chành cuộc sống vì neo không còn

Gỗ thuyền chừng quá hao mòn

Qua sông có chở linh hồn được chăng?

Tiếng nước khua rất nhẹ nhàng

Từ từ lặng mất, thuyền đang theo dòng

Một màu xám đặc trên không

Màu xanh lá nhạt trên sông nhân từ

3.

Khi tôi bước xuống ưu tư

Một đoàn người tụng kinh từ đàng xa

Tiếng kèn tiếng trống ngang qua

Tôi thầm nghĩ: có lẽ là hóa sinh?

Người chung quanh không ai nhìn

Vài con bò đứng lặng thinh giữa đường

Không khí còn đặc màu sương

Hay khói xăng đặc vẫn chường ra đây?

4.

Khi tôi rời khỏi vòng vây

Của đêm khách sạn xum vầy khổ đau

Người đạp xe chở tôi vào

Phố ngang phố dọc ồn ào ngày lên

Tôi qua những hẻm không đèn

Phân bò hơi ẩm dậy lên nặng mùi

Những ngõ hẹp dẫn tôi chui

Vào trong ma trận của nơi thánh thần

5.

Khi tôi đứng lại tần ngần

Tiếng người kêu gọi, tôi cần phải đi

Tôi đi, dù biết không hề

Đi đâu, tôi cũng chỉ về nhà hoang

Ồn ào ầm ĩ oang oang

Làm sao tìm được một bàn tay ai

Bao bàn tay bao bàn tay

Lạc nhau từ thuở bán khai đến giờ

6.

Khi tôi muốn hỏi mấy giờ

Trả lời: Thời Gian không chờ đợi ngươi

Bên kia sông ánh mặt trời

Không xuyên qua nổi khói hơi mịt mờ

Làng mạc trong cõi âm u

Người mù chống gậy trong tù chung thân

Hải âu trên sông vũ vần

Thuyền chỏ người đẹp đã dần về xa

7.

Khi tôi bước xuống cõi ma

Thì tôi mới nhận ra là cõi tôi

Tim tôi rỉ máu từng hồi

Mà hai dòng lệ chỉ trôi vào hồn

Bờ sông đầy những cô hồn

Lẩn quẩn trong đám người ồn ào kia

Âm Dương hai cõi phân chia

Hay là tất cả cùng về trần gian?

8.

Khi tôi bước xuống phụ phàng

Những màu xanh ấy đã tan mất rồi

Người mang Tình đến một thời

Rồi đi lẳng lặng không lời biệt ly

Tôi tìm những tiếng thầm thì

Trên sông khói sóng, không gì ngoài ra

Đàn người áo trắng như ma

Tiếng kinh rền tụng không qua được bờ

9.

Khi tôi bước xuống cõi mờ

Tôi nghe chuông gíóng đến giờ tử sinh

Bờ sông đầy những đền đình

Khúc sông đen đúa bãi sình tro than

Giàn thiêu xác lửa đã tàn

Còn nghi ngút khói lan tràn mặt sông

Chỉ còn mùi khét nặc nồng

Rồi tan giây phút trong không khí chì

10.

Khi tôi bước xuống. Thấy gì

Tình yêu tình bạn, có gì thật không?

Hay chỉ có thật là lòng

Của chính tôi, ngoài ra không có gì

Trên kia trời xám lê thê

Con thuyền đã sắp cận kề. Hãy khoan

Cho tôi viết nốt vài hàng

Trước khi tan biến, tro than trở thành

20.4. – 4.12.2016

(trích RÁC RƯỞI

Tạp Thi 2016)

©nguyenchitrung 2016

 

*** English ***


NGUYEN CHI TRUNG

AS I STEP DOWN

1.

As I step down the stairs

Dawn awoken, a voice echoes from the slopes.

On the roofs clad in tatters

Birds wake up before the new day happens.

A man rests on the threshold

Or a corpse, on the ancient stone foundations,

On both sides flowers bud redundantly.

In my inner mind something yells loudly, animatedly.

2.

As I step down into row boats,

Life is bobbing because of no cast anchor.

The boat wood is too worn out.

Can it overcome the river, conveying the soul?

Smoothlythe sound of water around

Slowly vanished, the boat is following the stream,

A solid gray in the fair air

Light green of leafage on the charitable river.

3.

As I step down to angst

A group of monks pray sutra from a distance

The sound of trumpet and drums permeates around.

I think: perhaps the transmigrating self?

No one around looks at them

Some cows stand silent in the midst of the roads

The atmosphere is dense with fog

Or is it just the traffic fumes exuding?

4.

As I depart from the siege

Of the night in the hotel full of grief

The cyclist drives me straight away

In muss streets as noisy begins the day

I go through the obscure alleys

Drying feces of cows evaporate in the air

The narrow lanes lead me directly

To enter the matrix of the holy place.

5.

As I stand still and hesitant

I hear people calling, I need to go.

I move out though not knowing

Where to, to the empty house I go.

Noise and rumours echo loudly around

How can I find one hand, of whom?

How many hands cover up how many other hands

Lost from the beginning of time until now

6.

When I ask: What time is it?

The answer: Time does not wait for you.

Across the river the morning sunlight

Does not cross through the faint dim smoke.

Villages are in the dark realm

A blind man limps on crutches, a life prison

Seagulls cloud all over the river

The boat with the pretty woman has gone far away.

7.

As I step down in the ghostly realm

Then I became aware that is my realm

My heart was bleeding now and then

And the two tears floated into the soul

The river is full of wandering souls

At a loss in the crowd of peopleLife and death, two separate realms,

Or are they all about the world?

8.

As I step down the betrayal

Those blue colours have died out all along

People bring Love all at once

Then in silence gone away without a word

I search for the whispers over the river

On the waves of smoke, nothing but

The white-shirted crowd like a ghost

The chanting pray can´t go past the shore.

9.

As I step down to the blurriness

I hear the bell tolling our Death’s hush

The river shore teems with temples

A black river curve full of muddy ash

Fire is quelled on the cremation scorched pyre

Smoke still sprawls over the river

Only the smell of burning flesh is left

Then melted minutely in the lead air

10.

As I step down. What can I

See? Love, friendship, what is true and real?

Or is that my own heart

Only, besides nothing…

Here over is the long gray sky

The boat is now approaching. Please wait

Let me write a few lines

Before dissolving, becoming coal and ash.

© nguyenchitrung - 2016

© translation: Claudia Zilletti

 

 

*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ ***

Chương trình ngày thứ bảy 18.01.2025 -

Bài Thơ " KHI TÔI BƯỚC XUỐNG"

*** ***

Cho những bạn nào yêu Thơ và biết tiếng TBN tôi gửi link của chương trình phát thanh. Nữ sĩ Ana Maria Garrido đọc bài Thơ đã được dịch sang tiếng TBN từ phút 18"16' đến phút 23"55';

Trên hình đại diện của chương trình hôm nay là nữ thi sĩ Josefina Pla. Bà cũng là nhà giáo và nghệ sĩ tạo hình, bà sinh ra tại Đảo Lobos, một hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Canary, Tây Ban Nha, vào ngày 9 tháng 11 năm 1903 và mất tại Asunción, Paraguay vào ngày 11 tháng 1 năm 1999, được coi là một nhân vật tiêu biểu của nền văn hóa Paraguay thế kỷ 20.

https://www.mixcloud.com/.../calidoscopio-18-de-enero.../

Programa CALIDOSCOPIO emitido el 18 de enero de 2025 por la Radio del Poeta, de México, y todos los sábados a las 15 hora de México, 18 hora argentina y 22 en España e Italia.

HOMENAJE A ANTERO DANIEL ESQUIVEL, AGENTE DEL EQUIPO PASTORAL PARAGUAYO EN LA ARGENTINA DESAPARECIDO Y ASESINADO EN 1977 POR LA DICTADURA CÍVICO MILITAR EN LA ARGENTINA.

¡FELIZ CUMPLEAÑOS FAUSTO AYBAR, LORE BRITO, YOLANDA DUQUE VIDAL, TIBALDO BORJAS, RUBÉN DOMÍNGUEZ-ALVARENGA Y MIRIAN PACUÁ!!

POESÍA: Ike Méndez, Josefina Pla, Nguyên Chi Trung, Trigidio González Candia, César Casas Medina, Justo Bolekia Boleká, Alba Estrella Gutiérrez, Armando Cano, María Palumbo, Fausto Aybar, Tibaldo Borjas, Domingo Acevedo, Elvio Romero, Marioantonio Rosa.

MÚSICA: Esma Redzepova, Maciegas, Lizza Bogado con Marco de Brix, Adriana Varela, Horacio Molina, Música Bubi de la Isla Bioko Guinea Ecuatorial, Oscar Gómez, Tania Libertad, Víctor Manuel con Nando y Sergio Agüeros, Julia Elena Dávalos, Ricardo Flecha.

Desde República Dominicana la colaboración especial del locutor Miguel Ciriaco.

CONDUCCIÓN: Trigidio González Candia y Ana María Garrido.

En la fotografía: Josefina Pla, poeta, escritora, docente y artista plástica nacida en la Isla de Lobos, pequeña isla de Canarias, España, el 9 de noviembre de 1903 y falleció en Asunción del Paraguay el 11 enero de 1999, considerada una figura monumental de la cultura paraguaya del siglo XX.

*** Espagnol :

CUANDO DESCIENDO

1.

Cuando desciendo los escalones,

La voz del hombre resuena en la ladera, llamando al alba.

Sobre techos rotos y desolados,

Los pájaros despiertan antes de que el sol asome.

Un hombre yace dormido en el umbral,

¿o es un cadáver, frío sobre la piedra antigua?

A ambos lados, las flores se abren en exceso,

Y en mi mente estalla un canto recién nacido.

2.

Cuando bajo al bote de remos que espera,

La vida lo balancea; el ancla ya no está.

La madera del casco, tan desgastada,

¿podrá cruzar el río llevando un alma?

El agua murmura con delicadeza,

Despacio se desvanece mientras el bote sigue la corriente.

Un gris espeso cubre el cielo,

Un verde pálido acaricia al río benévolo.

3.

Cuando desciendo en la inquietud,

Un coro lejano recita plegarias.

Trompetas y tambores pasan a mi lado,

Y pienso en silencio: ¿será la metamorfosis?

Nadie a mi alrededor levanta la mirada;

Unas vacas inmóviles se plantan en el camino.

El aire aún denso, teñido de bruma,

¿o es el humo espeso del motor lo que aquí se posa?

4.

Cuando salgo del cerco

De una noche en el hotel, colmada de pesares,

Un ciclista me lleva

Por calles y avenidas que despiertan al día.

Atravesé callejones sin luz,

Donde el estiércol y la humedad alzan su pesado hedor.

Pasajes estrechos me conducen,

Adentrándome en la matriz de lo sagrado y lo divino.

5.

Cuando me detengo, vacilante, dudoso,

Una voz me llama: debo partir.

Parto, aunque no sé a dónde ir;

A donde vaya, siempre regreso a una casa vacía.

El estruendo, el clamor resonante,

¿cómo encontrar una mano que me guíe?

Tantas manos, tantas manos,

Perdidas unas de otras desde el amanecer de los tiempos.

6.

Cuando quiero preguntar qué hora es,

La respuesta es: "El Tiempo no espera por ti."

Al otro lado del río, los rayos del sol

No pueden atravesar la niebla espesa.

El pueblo en este reino sombrío,

Un ciego se apoya en su bastón, prisionero de su destino.

Los cormoranes vuelan en círculos sobre el río,

Y el bote con la mujer hermosa se aleja lentamente.

7.

Cuando desciendo al reino de los muertos,

Es cuando me doy cuenta de que es mi propio reino.

Mi corazón sangra lentamente,

Pero las dos líneas de lágrimas solo fluyen hacia mi alma.

La orilla del río está llena de almas errantes,

Perdidas entre la multitud ruidosa que pasa.

¿Es la división entre los mundos de la vida y la muerte,

o acaso todos regresamos al mundo terrenal?

8.

Cuando desciendo al reino de la traición,

Aquellos verdes ya se han desvanecido.

Quien trajo el Amor en su tiempo,

Se fue en silencio, sin palabras de despedida.

Aún busco aquellos susurros.

Sobre el río de humo y olas, nada más allá.

Un grupo de almas vestidas de blanco como fantasmas,

El sonido de los rezos retumbando, sin llegar a la Orilla.

9.

Cuando desciendo al reino de la niebla,

Oigo las campanas anunciar la hora de la vida y la muerte.

La orilla del río está llena de templos y santuarios,

El río és negro, con sus orillas fangosas, cubiertas de cenizas.

En la pira funeraria el fuego ya se ha extinguido,

El humo sigue levantándose, extendiéndose sobre el río.

Solo queda el olor a quemado, penetrante y denso,

Unos breves momentos, luego se disuelven en el aire plomizo.

10.

Cuando desciendo, ¿qué veo?

¿El amor, la amistad? ¿Hay algo verdadero?

O tal vez lo único real sea mi propio ser,

Y fuera de eso, nada más existe.

Allá arriba, el cielo gris se extiende sin fin,

La barca está ya cerca. Espera un momento,

Déjame escribir unas últimas palabras

Antes de desvanecerme, convertido en cenizas y polvo

***

Traducción al español por el autor y R. Zarazaga

© nguyenchitrung

 

 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 656)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 714)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 579)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 509)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2908)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1848)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2735)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2299)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2682)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2444)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9737)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16582)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15582)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16003)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 714)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2908)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2735)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2682)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 577)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4944)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6808)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6104)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 656)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2299)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2444)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2670)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2199)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2006)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2179)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2204)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 509)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13183)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29148)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35505)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10489)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12392)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1848)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2735)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3000)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3064)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3735)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7531)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6892)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9318)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.