- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NGÀY LŨ LỤT TÀN PHÁ MIỀN NÚI NHỚ NHÀ ĐIỆN ẢNH NGƯỜI THÁI CẦM KỶ BỊ TAI NẠN BỞI CƠN LŨ RỪNG

22 Tháng Chín 202411:34 CH(Xem: 24173)


hinh -ngay bao lu
Chân dung nhà biên kịch Cầm Kỷ,
(ảnh do gia đình cung cấp)


NGÀY LŨ LỤT TÀN PHÁ MIỀN NÚI
NHỚ NHÀ ĐIỆN ẢNH NGƯỜI THÁI CẦM KỶ
BỊ TAI NẠN BỞI CƠN LŨ RỪNG

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 


Anh à, giữa những ngày hội của người làm phim cả nước tại thành phố biển Nha Trang, quặn lòng trước thảm cảnh của dân ta - nhất là người dân vùng núi Tây Bắc - Đông Bắc qua mấy đợt lũ lụt lên tiếp, em bỗng nhớ về anh… Những điều anh dự báo và khẩn thiết kêu gọi trong kịch bản phim truyện "Vùng rừng nóng bỏng" chưa kịp lên màn ảnh đã rơi ập vào chính số phận của anh: chiếc xe khách chở anh đã bị đổ tại đèo Chiềng Đông hiểm trở, do hậu quả của những cơn lũ rừng, sau nhiều năm tháng dài đốt phá rừng triền miên vô tội vạ! Cứ mỗi năm, những con suối Tây Bắc ngày một trở nên ngầu đục hung dữ hơn! Cả những cánh rừng hoa ban kỳ diệu mà chỉ riêng vùng rừng Tây Bắc mới có cũng đang bị chặt, bị đốt phá một cách không thương tiếc!

Sau gần một năm anh mất, em có đưa chú em kết nghĩa đang học quay phim lên Sơn La để làm bộ phim tốt nghiệp bằng một phim chân dung về anh. Tại thị xã Sơn La ngày đó, những dấu vết kinh hoàng của trận lũ tháng 7 năm trước vẫn đang còn in đậm trên làng bản, phố xá và trong tâm trí của mọi người. Đằng sau và bên cạnh ngôi mộ của anh - ngôi mộ đầu tiên trên ngọn đồi sau trở thành Nghĩa trang Nhân dân Thành phố - khi ấy đã xuất hiện thêm hàng chục ngôi mộ của nạn nhân cơn lũ quét đè bẹp thị xã Sơn La vào năm 91 ảm đạm đó! Vợ con anh đang chăm sóc phần mộ anh. Đôi mắt cháu nhỏ mất cha nhìn ngơ ngác... Giữa núi rừng lặng lẽ, bên hương khói mộ anh, em đã cầu mong anh thanh thản mà lại như nghe thấy anh đang khóc hô hô cho một vùng rừng đang bị phá hoại tàn khốc, cho môi trường sinh thái đang bị thiêu hủy từng giờ, cho cái thiên nhiên đang cất lên lời kêu cứu tuyệt vọng cuối cùng... Những đàn kiến rừng khổng lồ đang ùn ùn bỏ tổ ra đi mà em quay chộp được trên đường đi bộ từ Hua La về Mường Chanh phải chăng báo hiệu cho những cơn lũ rừng khủng khiếp sắp tới - những cơn lũ mang tên lũ ống, lũ tràn, lũ quét, lũ đầu mùa, lũ muộn...?

Mười năm sau đó, em có trở lại Hua La khi quay bộ phim truyện về số phận của một cô gái Thái xinh đẹp bị vu là "Ma cà rồng", và làm một phim tài liệu về những cánh rừng đầu nguồn. Vẫn là cảnh đốt nương mù mịt, núi đồi bị cạo trọc nhẵn thín, những bóng người và trâu bò xa tít trên các nương cằn cheo leo, dốc ngược; còn các luật tục khắt khe tự bao đời của người Thái đối với Rừng thiêng đã bị quy luật sinh tồn và kinh tế thị trường buông thả xâm phạm nặng nề...

Nói đến anh, mọi người thường lắc đầu thương hại. Lúc nào anh cũng là người túng thiếu nghèo khổ nhất trong giới nghệ sĩ điện ảnh... Anh đã buộc phải trở về quê hương thường xuyên hơn để tìm đường kiếm sống - làm phim truyền thống cho các xã các huyện, viết các vở kịch ngắn cho ngành truyền thông địa phương, lên núi phá hoang trồng ngô khoai sắn, nuôi gia cầm cùng vợ con ... Và dĩ nhiên, những ý đồ sáng tác vẫn cồn cào thường trực trong anh. Anh vẫn viết với một tình yêu theo cách đồng bào anh bộc lộ: "Yêu người nào thì muốn bồng, muốn cõng người ấy lên"- như câu tục ngữ Thái anh yêu thích... Song ngôi nhà tranh vách nát ở Thị xã đâu có che nổi cho những trang viết, những chồng bản thảo khỏi bị mưa dột? Tệ hơn, những kịch bản tâm huyết của anh dần trở nên lạc lõng thảm hại giữa "chợ trời" phim ảnh, chẳng một ông chủ hãng phim nào - kể cả ông giám đốc của xưởng phim truyện to nhất nước đang trả lương bèo bọt và thất thường cho anh, có thể mỉm cười chào đón anh nữa. Bởi lúc đó cả ngành Điện ảnh nước nhà trong tình trạng cấp cứu, lại đang bị ngập lụt trong thứ phim đã đi vào từ điển tiếng Việt hiện đại: "Phim mì ăn liền" - nghĩa là cái thứ phim câu khách bằng mọi giá, kể cả chà đạp lên sự liêm sỉ tối thiểu!

Nhưng chuyện cơm áo dày vò đâu có thể làm nguôi ngoai nổi những điều nung nấu tâm can người nghệ sĩ chót mang hồn vía của núi cao rừng thẳm và những bản tình ca dân gian say đắm như Tiễn dặn người yêu, Chàng Lù nàng Ủa, Nàng Tóc thơm...! Bữa no bữa đói, anh vẫn cắm cúi miệt mài viết, vẫn lắng nghe không bỏ sót một tiếng kêu cứu nào từ núi rừng quê hương! "Vùng rừng nóng bỏng" của anh dù phải vùi sâu trong chồng bản thảo hay phủ dày bụi trên bàn biên tập vẫn cựa quậy thôi thúc đòi được lên màn ảnh để đến với hàng chục triệu khán giả - bởi điều đó trước mắt có liên quan mật thiết đến sinh mệnh của các con anh, của những thế hệ em nhỏ Tây Bắc!...

Đằng sau vóc dáng đồ sộ nặng nề như gấu của anh là một tâm hồn nhạy cảm dễ ứa lệ và một khát vọng sáng tạo tựa ngọn lửa đêm lễ hội cao nguyên. Anh có lần bảo em: "Tớ phải viết, phải lao động nghệ thuật như một con trâu điên, cả cậu cũng vậy, đừng có dúm dó như thế, để mai sau mọi người sẽ hiểu: trong các đống bản thảo này là những trái tim khổng lồ rớm máu đã đập như thế nào".

Hai thập kỷ trước, em đã tới Mường Chanh - huyện Mai Sơn, quê hương của cây lúa nếp Tan và nghề gốm đất nung cổ truyền. Đó là một thung lũng tuyệt đẹp, có những mảnh ruộng xinh xắn, có dòng suối trong vắt mềm mại tựa dải lụa từng tắm mát tuổi thơ anh... Nhưng rời cái toàn cảnh rộng thi vị như tranh vẽ đó, em đã tới trước những lớp học tiêu điều, trống huếch, đầy phân súc vật dù đã sắp tới ngày khai giảng...Vốn xuất thân là một thầy giáo, chắc anh đã không ít lần xót xa trăn trở về giáo dục miền núi sau mỗi lần về quê hay đi tới các vùng cao vùng xa ở Tây Bắc để thu thập tư liệu cho sáng tác... Đến bao giờ thì Tây Bắc mới thực sự trở thành một "hòn ngọc của Tổ quốc"? Đến bao giờ tất cả các em nhỏ miền núi đều được đến trường - những ngôi trường ít ra cũng được khang trang gần bằng các trụ sở Công quyền?... Đến bao giờ những cọn nước quay chầm chậm chỉ còn là một biểu tượng đẹp và buồn của quá khứ trên sông suối Tây Bắc? Đến bao giờ lũ cuốn và sạt lở núi không làm tan hoang bao làng bản vốn đã nghèo khổ giờ lại càng thêm tiêu điều?... Phải chăng, đó cũng là những điều đã ngày đêm dằn vặt anh và tạo nên âm hưởng trầm buồn đến bi tráng trong các trang kịch bản của anh?... Dưới mái nhà sàn ám khói, người chị cả đáng kính của anh đã hát cho em nghe. Và em hiểu, nỗi buồn đó của anh còn bắt nguồn từ giọng hát lê thê buồn bã bên bếp lửa sàn đêm đêm của người chị nghèo thay mẹ nuôi em...

Bố mẹ chúng ta khuất núi từ lâu rồi

mấy chị em đùm bọc rau cháo chăm nhau

không ngờ em lại ra đi trước chị

trên cõi Trời em hãy bình tâm,

bởi điều đau đớn ấy chị để trôi trên dòng nước,

chị treo nó lên ngọn cây

cho gió bay xa,

tỏa khắp rừng sâu,

lan mọi phương trời

để con cháu biết rõ về em, noi gương em, tiếp tục công việc của em...
(Dịch nghĩa từ tiếng Thái)

Trong những lời "khắp" Thái buồn như tiếng khóc - lúc thầm thì kể lể nức nở, lúc dâng cao nhưng nhức xoáy tâm can, tiếng hát quấn quýt ngọn lửa sàn bập bùng, em lại hình dung ra những con nộc-phay, tức chim lửa mà anh từng kể cho em nghe sự tích về chúng - loài chim tượng trưng cho linh hồn những người chết vì đói ngày giáp hạt hay bị lũ cuốn thường quay trở về nương rẫy làng bản thành chảo lửa trên nền trời xám đục bởi tro than, chúng hót lời não nuột nhắc đừng bao giờ quên những thời đói khổ...

Em đã nhiều lần "Lên ngọn suối" - tên một trường đoạn của kịch bản phim "Vùng rừng nóng bỏng" chưa kịp thực hiện của anh, để tìm lại ngọn nguồn của một nỗi đau, một ước vọng trong "trái tim khổng lồ rớm máu" luôn hướng về quê hương Tây Bắc... Giai đoạn viết kịch bản này, cứ được trường đoạn nào anh lại gọi em tới bắt nghe và góp ý, bên chén rượu trắng và đĩa lạc luộc... "Vùng rừng nóng bỏng" đề cập tới sự cần thiết phải giao đất giao rừng cho dân với một chính sách để dân có thể sống được mà không phải phá rừng đốt nương, về chuyện phá rừng đầu nguồn ngày một trắng trợn… cho đến hôm nay càng nóng bỏng hơn lúc nào hết trước những vấn đề thời sự nhức nhối cấp bách về thiên nhiên & môi trường sinh thái  - đặc biệt là rừng đầu nguồn cần được bảo vệ, về phương thức làm ăn để thoát nghèo đói, về môi trường văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc Tây Bắc đã, hay đang có nguy cơ bị dìm vĩnh viễn trong nước lạnh hoặc bị xúc gọn vào bảo tàng... Nhưng cái tập kịch bản vang vọng tiếng kêu thống thiết của loài chim lửa kia cùng nhiều tập kịch bản ngồn ngộn sự sống khác chứa đựng huyết lệ của anh chắc cũng sẽ rơi tõm vào khoảng không đáng sợ... Biết làm sao được, khi còn tồn tại những người có trách nhiệm thiếu lương thiện hay thiển cận khiến cả ngành Văn hóa lẫn Điện ảnh lao đao tựa bị lũ quét, khi mà những ông chủ sản xuất phim hiện tại (cả Tư nhân lẫn Nhà nước) đang cay cú đến mờ mắt với những canh bạc phim ảnh hốt ra vàng nhờ khoe chân dài, váy ngắn, ngực phơi lưng hở của những "siêu mẫu siêu sao" và trưng bày cuộc sống vương giả hoặc nhầy nhụa tình dục mà nếu có đem phim lên chiếu không phục vụ đồng bào miền núi thì cũng chỉ là một điều oái oăm đến xót xa, hơn thế, một sự điếm nhục!

Nhưng anh à, điện ảnh Việt mấy năm nay đã bắt đầu khởi sắc lại rồi! Người làm phim đã bớt đi nhiều “bảo bối” ăn khách đáng xấu hổ là lột trần diễn viễn ra khoe hình thể và các cung cách làm tình, rồi khoe cuộc sống vương giả hơn cả quý tộc thời xưa… Nhiều phim đã lặn vào đời sống đậm mồ hôi và máu của dân để tạo ra những cảnh phim chân thật làm rung động số đông khán giả, và đã đoạt giải thưởng xứng đáng của Giải Cánh Diều do hội nghề nghiệp chúng ta tổ chức hàng năm. Tình yêu điện ảnh của người dân Nha Trang giữa những ngày bão lũ vừa qua cũng là lời kêu gọi các thế hệ điện ảnh sau anh cần phải có những tác phẩm xứng đáng hơn với lòng mong đợi chính đáng của khán giả cả nước... Còn riêng em, sẽ trở lại ý tưởng phim về thảm họa lũ ống-lũ cuốn-lũ muộn trên Tây Bắc do tàn phá rừng đầu nguồn mà em ấp ủ từ lâu, thay anh trả nợ lòng cho đồng bào Tây Bắc… Thưa nhà điện ảnh xứ hoa đào, Anh hãy yên lòng nơi Mây trắng Vĩnh hằng!

Em của anh, người cùng Hãng phim đã hoang tàn.


Mai An Nguyễn Anh Tuấn

___

Cầm Kỷ là nhà biên kịch điện ảnh, tác giả nhiều kịch bản đã dựng thành phim: "Hai người mẹ", "Chom và Sa", "Lưu lạc", "Trở về Sam Sao"... Phim “Chom và Sa” đoạt giải Silver Elephent tại LHP Quốc tế thiếu nhi năm 1979Phim dựa theo câu chuyện có thật kể về hai em bé người Thái đen ở Mường La (Sơn La) không còn cha mẹ, chạy trốn khu tập trung của giặc Pháp, sống lẩn khuất trong rừng, cho đến khi bộ đội Việt Minh vào giải phóng Tây Bắc đã cứu sống các em và nuôi cho ăn học...






Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1350)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1088)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1546)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1384)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1640)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1689)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1632)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1446)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2052)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2202)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9417)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16216)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15229)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15587)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1350)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1546)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1640)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2052)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4227)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6004)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5424)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6007)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1383)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1688)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1924)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1841)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1632)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1446)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1620)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1651)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12388)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28650)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35178)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35034)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9905)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12021)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1088)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1546)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2052)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2202)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2551)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7045)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6480)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8412)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.