- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

VỀ BÀI THƠ "GIÓ" CỦA NGUYỄN CHÍ TRUNG

12 Tháng Chín 20246:15 CH(Xem: 28044)


NGUYEN CHI TRUNG- ChanDung
Thi sĩ NGUYỄN CHÍ TRUNG


VỀ BÀI THƠ "GIÓ" CỦA NGUYỄN CHÍ TRUNG

Silke-Joyce

 



Bài thơ GIÓ đã được thi sĩ Đức gốc Việt Nguyễn Chí Trung trình bày từ năm 2004 tại nhiều Đại Hội Thi Ca Quốc Tế (International Poetry Festival) trong các buổi đọc Thơ trước công chúng. Bài thơ được viết bằng tiếng Đức vào mùa Thu năm 1993 và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng cũng như xuất bản ở nhiều quốc gia Âu châu (Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha …).

 

 1. 


 D
ưới đây chúng ta thử tiếp cận bài thơ "Gió". Trong quá trình tiếp xúc, tìm hiểu & nghiên cứu tác phẩm chúng ta sẽ thấy đây chỉ là một cách thử tiếp cận, đến gần tác phẩm. Vâng, đây là một tác phẩm đáng đọc. Đọc kỹ hơn những từ khúc Thơ đầu tiên đã xác nhận ấn tượng mà người ta có được khi lật qua vài trang đầu của tập Thơ, rằng đây là một tập Thơ khác với những tập thơ đương thời có thể tìm thấy trong khu vực “Thơ” của hầu hết mọi hiệu sách trên thế giới. Ở đây chỉ xin nói sơ qua: nó không cùng loại với hầu hết các tập thơ đã xuất bản sau Thế chiến thứ hai, mà trễ nhất là sau cái chết của D. Thomas, W.H. Auden hay J. Brodsky … đã và vẫn còn đang được viết. Sự khác biệt thiết yếu cơ bản là chủ đề của một cuộc thảo luận khác, nó chỉ được nêu ở đây để xác định ngay từ đầu sự khác biệt.

 

Bài Thơ gồm 48 từ khúc. Đọc từng từ khúc, người ta bắt đầu có ấn tượng đây là một khu rừng rậm, hay một sa mạc, luôn mở rộng không giới hạn, tạo cho người đọc cảm giác không thể tiếp cận hay tiệm cận. Khi đọc và đồng cảm với các từ khúc, người đọc cũng có cảm tưởng như mình đang lặn xuống đại dương sâu thẳm nhất, ở đó trải nghiệm biết bao cảnh đẹp kỳ lạ, những cảnh đẹp hiếm thấy, nhưng cũng có cả những tàn tích kinh hoàng của nền văn minh nhân loại. Đây là một tác phẩm „dày đặc“, trên muôn vàn nẻo đường mà ban đầu người đọc từ từ cảm nhận ý nghĩa của bài Thơ, những Lời mà bài Thơ đã âm thầm nói, và cuối cùng ta nhận ra rằng đây là thuộc về lãnh vực Thi Ca. Thể nghiệm về Thi Ca qua một bài Thơ như vậy cần phải phân tích kỹ tác phẩm, phải cần cả một cuốn sách, Ở đây chúng tôi không có ý định ấy. Trong phần giới thiệu ngắn gọn này, chúng tôi chỉ có thể cố gắng nêu lên bóng dáng thoáng qua của Thi Ca qua những gì được nói trong bài Thơ.

2.

Vì bài Thơ có tựa đề là “Gió“, nhiều người, kể cả các nhà thơ và học giả văn học, đã tin chắc rằng đây hiển nhiên là thơ về thiên nhiên. Điều này dẫn đến câu hỏi: Thiên Nhiên là gì trong thời đại hôm nay? Con người ngày nay hiểu gì về từ này, hay hơn nữa về ý niệm “Thiên Nhiên”? Khung cảnh ngày nay trên trái đất còn có điểm gì chung với thiên nhiên như nó đã được hiểu, chẳng hạn trong Đạo giáo hơn hai nghìn năm trước?

Để có một khái niệm về câu hỏi “Thiên Nhiên“ chúng ta hãy suy nghĩ về những sự kiện chính yếu sau đây trong tiến trình phát triển của nhân loại.

Theo Cựu Ước, Đức Chúa Trời đã ủy thác cho con người bổn phận & nhiệm vụ chế ngự thiên nhiên, cụ thể được ghi trong (Genesis 1,28: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, hãy làm chủ nó và cai trị cá biển, chim trời và trên tất cả những con thú bò trên trái đất!”).

Và nhân loại đã thực hành lệnh đó.

Hay gần gũi hơn với lịch sử cận đại của chúng ta, câu nói định mệnh trong luận đề của Karl Marx về Feuerbach: “Các triết gia chỉ giải thích thế giới theo nhiều cách; nhưng vấn đề là phải thay đổi thế giới”. Bây giờ chúng tôi nghiêm túc tuyên bố: vâng, chúng ta trễ nhất đã thay đổi thế giới về cơ bản kể từ Cách mạng Công nghiệp 1.0. Nhưng bây giờ vấn đề là hoàn tác, làm ngược trở lại những gì chúng ta – nhân loại – đã làm !!!

"Gió" không phải là một bài thơ thiên nhiên. Đó không phải là một bài hát "ôi thiên nhiên đẹp làm sao" cũng không phải là một lời than vãn lải nhải kêu đường về "Mẹ trái đất & Trái đất Mẹ ".

Tiêu đề “Gió” chỉ mang lại một ấn tượng mơ hồ về mặt triết học qua ý niệm Ātman trong Upanishad (“những cơn gió, ngươi là một hơi thở dài duy trì sự sống” – từ khúc 43), về vô ngã Anattā của Phật giáo, về mặt vật lý vũ trụ qua khí và hơi trong vũ trụ, bụi và bão và nguồn gốc sinh hóa của sự sống trên trái đất. “

 

3.

Nó không phải là một bài Thơ thiên nhiên, càng không phải là một bài Thơ bình thường, thường lấy kinh nghiệm riêng tư làm nội dung, mà nó nói về cuộc sống một cách chiêm nghiệm, bắt đầu từ hôm nay, suy ngẫm về khởi đầu của cuộc sống, và suy tưởng trong viễn kiến về kết thúc của cuộc sống. Nghĩa là về những gì đang diễn ra sống động trên mặt đất vào thời điểm này trong Thời Gian vô tận, trong thế kỷ hiện tại. Về định mệnh của cuộc sống con người trên trái đất.

Chúng ta đọc từng từ khúc và từ từ thấy rằng qua “GIÓ” Tư Tưởng và Thơ có quan hệ mật thiết với nhau và hai yếu tố này về bản chất tạo thành Thi Ca, và Thi Ca còn nói lên những gì vượt qua cả người làm Thơ (Về Thi Ca & Tư Tưởng Heidegger đã bàn luận và giảng giải rất nhiều trong những sách của ông).

Trong từ khúc 4 chúng ta có chủ đề tình yêu. Tình yêu giữa đôi tình nhân, chàng chăn trâu và nàng khâu vá bầu trời rách đôi, hai người xa cách giữa trời và đất. Giữa cuộc sống nguyên thủy trên mặt đất và bầu trời rách nát, chờ đợi nhau mãi mãi, trong thời gian, trên một cây cầu đá mà vô số con hạc đã xây nên bằng từng viên đá, năm này qua năm khác. Một bức tranh đẹp về Tình Yêu vĩnh cửu, vượt xa thời gian của một đời người, vượt qua mọi thời đại. Hiếm khi người đọc tìm thấy những câu thơ trữ tình như thế trong thơ ca đương đại của bất kỳ thời điểm nào:

 

 4


“Gió của mộng, mộng là đời

Sống không thể được trong đời trần gian,

Đêm nay gió hú sâu vang

Xuyên đại dương đá qua ngang. Mưa về.

Mưa như đã đợi từ khi Đợi luôn luôn mà không hề nghĩ ngưng.

Như hai người đợi nhau hằng

Nàng may vá trời và chàng chăn trâu

Trên cầu đá gặp lại nhau,

Từng hòn đá đặt lên nhau chất chồng

Bởi vô số hạc trên không,

Quên nhau, hai quả tim không bao giờ”

 

Người ta có thể cho rằng đó là lãng mạn, với hậu ý ngầm nói thời bây giờ là hậu hiện đại, lãng mạn đã qua lâu rồi, v.v… Tuy nhiên, một tuyên bố như vậy không có giá trị gì ở đây khi ta đọc các từ khúc tiếp theo. Trễ nhất là đến lúc đó người ta sẽ nhận ra rằng đây không phải là thơ lãng mạn hay bí hiểm kín mít, không phải thơ-aha, thơ tự sự hay bất cứ thứ gì khác (thơ-aha là tất cả những bài thơ của các nhà thơ hiện đại cho người đọc một kinh nghiệm „aha“, những người đọc (hay nghe) muốn và phải hiểu ngay bài thơ, như vừa vội ăn xong đồ fastfood).

Đây là về tình yêu như một yếu tố hiện sinh cơ bản của thân phận con người.

 

4.

 

Từ khúc 7 cho chúng ta bức tranh về sự mất của con người thời đại, về tình trạng trên mặt đất. Con người đang chạy trốn, họ rời xa và lạc mất nhau, (hình như) chẳng vì lý do gì, không chạm đất trần gian, vì hiện nay đã trở nên mất gốc rễ ..., họ như những cơn gió thoáng qua. Chúng ta không biết họ đi đâu, cũng không biết họ đang ở đâu. Đây cũng là một yếu tố của thân phận con người mà bài thơ hướng tới. Và thậm chí trong tình trạng vô vọng như vậy, họ không thể cho nhau bất cứ thứ gì. Cho đi – sự đồng cảm, mối quan hệ giữa các cá nhân, qua đó con người chúng ta mới có thể trở thành con người (nhưng có lẽ cũng sự việc giết nhau) – đã trở nên quá nhiều vì cuộc đấu tranh sinh tồn trên trái đất quá đông dân cư không còn cho phép điều đó nữa. Hay cho đi, dù nhỏ hay to, dù nhiều hay ít, chẳng còn nghĩa lý gì vì lòng đã nguội lạnh (gọi đây là lãng mạn thì thật là thiếu sót, thiển cận), trễ nhất là khi cuộc sống hậu hiện đại ở thế kỷ 21 đã bị máy móc hóa phần lớn, ở thời kỳ đầu của kỷ nguyên của thông minh nhân tạo. Từ lâu con người của hậu hiện đại đã phải xấu hổ khi có cảm xúc, thậm chí là thể hiện chúng, một cách công khai hoặc trong những câu thơ:

 

7

Qua sân Sầu Não không người

Gió lùa, Lá rủ nhau rời nơi đây

Cùng nhau trốn chạy, nào hay

Mất người mà cũng mất ngay chính mình,

Mặt đất, mặt đá không tình

Không căn cơ: chỉ sự tình ra đi.

Cái “Đi Đâu” giờ làm gì,

Ở đâu và cái “Đâu” đi chốn nào?

Cho nhau một chút, là bao,

Hay nhiều quá, hay tầm phào nghĩa chi?

 

Ở trạng thái này, lời của anh, lời của thi sĩ qua lời nói của những câu Thơ, một khi được gửi đến đồng loại của mình, không thể đến được trái tim và khối óc của họ. Họ mặc kệ nó, không để nó ảnh hưởng đến họ. Lời của anh không dính dáng gì đến họ. Người làm Thơ trải nghiệm cái không của họ, cái không đồng thời tiêu biểu cho trạng thái hư vô của thời đại chúng ta. Trong sự phủ định ba lần này có ẩn chứa một sự thất vọng sâu sắc, sự cay đắng và sau cùng là sự tuyệt vọng chung cục. Sự bi thảm được thể hiện trong bài Thơ từ từ hình thành (từ khúc 10):

 

10

...

Một lời ta gửi xưa kia

Các người không biết, không chia sẻ gì,

Không dính dáng, bận tâm chi!

Ta thấy, chấp nhận khắc ghi trong lòng:

Rằng không thì cũng là không.

Không lời, không sự, hư không; ngập bờ.

Nhưng ta vào Đợi từng giờ

Hoài nghi, hy vọng, lo và não đen

 

Trong cát và bụi xoáy cuồng, bao bọc trong những cánh buồm rách nát của xác tàu đắm của chúng ta, với nỗi buồn đè nặng nghẹt thở, thi sĩ còn muốn “trao tay ít nhất một người trong chúng ta, tin tưởng vào việc hoàn toàn nghe ra Lời Thơ, mà nó (chỉ còn) xảy ra trong trí tưởng tượng của anh …”. Nỗi đau của anh không chỉ mang theo chính anh, vì nó đã lấp đầy anh, mà chính anh cũng còn chịu đựng nỗi đau của chúng ta (từ khúc 12):

 

12

...

Cát và bụi còn thừa ra,

Cuộn tung trong cánh buồm đà rách tan

Của chiếc tàu đắm điêu tàn

Là ta, giữ bởi muôn vàn buồn đau

Không còn cảm thụ được đâu.

Những gì ta sẽ trao vào tay em,

Với niềm tin thẳm trong tim

Là lời được nhận với tim hoàn toàn,

Nhưng đó: tưởng tượng vô vàn,

Mà trong tưởng tượng không màng nghĩ ra

Nỗi buồn không mang riêng ta

Nỗi buồn của em, cũng là ta mang

 

Chúng ta không có khả năng chịu đựng Nỗi Buồn.

Chúng ta nhớ câu Thơ trong tác phẩm "In Lieblicher Blaue" của Hölderlin: "Đầy công lao, nhưng đầy chất thơ, / con người cư ngụ trên trái đất này". Ông viết nó vào thời điểm cuộc Cách mạng Công nghiệp 1.0 bắt đầu. Câu Thơ này bây giờ có thể minh họa bi kịch hiện sinh của con người trong giai đoạn Cách mạng Công nghiệp 4.0 hiện nay. Chúng ta không còn sống một cách thơ mộng trên trái đất nô lệ (đã) bị bóc lột. Chúng ta không còn là "một cuộc hội thoại và không còn khả năng "nghe thấy từ nhau" (bài Thơ "Lễ Hội Hòa Bình" của Hölderlin).

Có phải người ta không còn khả năng lắng nghe ý kiến của nhau nữa - chẳng hạn được thể hiện qua việc phớt lờ cảnh báo về sự tuyệt chủng - một thảm kịch mà rõ ràng là không ai nhìn thấy và/hoặc cảm nhận được. Hay thảm kịch chính là sự phát triển của tinh thần con người chắc chắn đã mang lại tình trạng mà chúng ta hiện đang có trên trái đất và đang đẩy nó "tiến tới, tiến lên" hơn nữa, trở thành một tiến trình hội tụ về hư vô không thể tránh khỏi. Đây là số phận của con người.

Có vẻ như những câu Thơ của Hölderlin giải thích bài Thơ „WINDE" nơi đây một cách đặc biệt. Hay ngược lại chúng ta có thể nói thẳng rằng ở đây anh đã tiếp tục truyền thống Thi Ca Đức – ít nhất là trong phong cách và thể điệu của Tư Tưởng và Thi Ca theo Hölderlin. Điều này thật kỳ lạ, bởi vì tác giả viết bài Thơ này trong ngôn ngữ Đức bên cạnh tác phẩm phong phú của mình trong tiếng Việt (là tiếng mẹ đẻ): và trớ trêu thay anh lại tiếp tục truyền thống Thi Ca Đức vào trong thế kỷ 21, vào Thời Mạt Thế, khi dường như không còn ai viết những bài Thơ như vậy nữa, ít nhất là ở Đức, bất chấp sự lỗi thời hoàn toàn (và có lẽ mặc cảm lỗi thời là lý do chính?).

 

“Ta là nhiều, nhưng có nhiều thì không”.

 

Những gì được nói ở đây được hiểu như thế nào? Vâng, con người chúng ta đã trở nên đông đúc trên trái đất do gia tăng dân số. Và sẽ có nhiều hơn nữa. Đó là một thực tế rõ ràng. Tuy nhiên, “chúng ta không có nhiều”: chúng ta có rất nhiều sự vật, sự việc, sự kiện, diễn biến, chuyện thông minh sáng suốt ... chung quanh mình và với mình. Tuy nhiên, chúng ta không có Thần Tinh Huệ, không có giá trị, không có tinh thần, không có đầu óc, không có đời sống linh hồn, không có tình yêu ... nữa bởi vì tất cả những "thứ" này đã được thay thế bằng những thứ mới hơn. Và những cái mới này đều bắt nguồn từ những vật chất kỹ thuật tầm thường vô hồn, đối lập với những giá trị thiết yếu của con người trước đó, “từ cái ít ỏi còn sót lại, hiếm hoi như ngọn cỏ mùa thu trên mặt đất, nơi sự biến đổi chôn vùi, từ cát bụi trở thành cát bụi“. Đây là sự biến đổi làm nền tảng cho quá trình phát triển và thúc đẩy lịch sử nhân loại một cách bền bỉ (từ khúc 19).

 

Dần dần người đọc thấy ở đây là mỗi từ khúc về cơ bản là “bàn về một đề tài”, nhưng có một sợi chỉ xuyên suốt tất cả các từ khúc từ đầu đến cuối bài Thơ, nối liền các từ khúc với nhau. Sự tồn tại vĩnh cửu của tình yêu (từ khúc 4) được đề cập đến và câu hỏi lại được đặt ra “Phận người có tính cách Thơ?” và Lời Thơ gặp lại nhau ở từ khúc 35, trong đó một Lời xóa tan tất cả đã được tuyên ra: “Chúng ta đều là cái bình chứa vô thường. Chỉ Lời còn lại”. Câu Thơ cuối cùng đã được xoay ngược lại ở đây để làm rõ rằng tình yêu và con người là hiện sinh, cả hai đều phụ thuộc lẫn nhau và chỉ như thế phận người (mới) có tính cách Thơ, mặc dù thế, cả hai chỉ là những yếu tố nhất thời của sự phù du. Lời là di sản duy nhất của con người. Như thế điều đáng để nghi ngờ, cũng trong nghĩa tôn giáo, là câu nói "Ngay từ khởi đầu đã là Lời“. Thi sĩ viết trong từ khúc 39:

 

“Nữ vương giữ Đất thường hằng

Giờ đây vắng mặt, theo nàng là Thơ”

Điều đó nghĩa là gì? Liên hệ với từ khúc 35, người ta có thể nhận ra rằng phận người trên trái đất đã là thơ mộng, nhưng nay không còn như vậy nữa. Và sau phần giải thích về thiên nhiên (điểm 2) thì „sự vắng mặt của nữ vương bảo tồn gìn giữ trái đất“ nghĩa là gì, điều này đã trở nên rõ ràng: nếu vị thánh nữ bảo trợ này, vâng, nữ vương ấy cũng là một vị thánh bảo trợ theo nghĩa phi tôn giáo, không còn có mặt trên trần gian nữa, thì Thơ cũng không thể còn ở đó nữa. Những gì tiếp tục lưu hành ở đó, được dán nhãn là thơ, sẽ không còn là Thi Ca nữa. Cái thơ-không-Thi-Ca này, ít nhiều mang tính chất riêng tư của nhà văn, ít hay nhiều nhạy cảm, chủ yếu là trình bày diễn tả tâm trạng của người ấy, trong thời đại hôm nay chỉ còn là những giai điệu rời rạc và không định hướng của một bản nhạc đã cạn kiệt dần trong đêm.

Đây là một lời xác định chính yếu, một Lời của Thi Ca, một sự việc còn phải được suy tưởng và chiêm nghiệm sâu hơn. Điều này chạm đến câu hỏi về Thi Ca.

 

5.


Người đọc nhạy cảm sẽ từ từ cảm nhận được nỗi sầu đã lung linh ngay từ đầu, qua từng từ khúc càng trở nên rõ ràng, hữu hình và cảm thụ được qua những hình ảnh, ngôn từ, những câu Thơ như “rồi sớm đây sẽ là kỷ niệm chia tay”, „ dấu chân của một thời xa xưa, của những thời đại đã qua đi lâu rồi…” đến “như trái dừa khô trên bãi cát cháy nắng, cuộc hiện sinh đơn giản ở đó”, “…vài phút ngắn ngủi mà đã cho thấy niềm biệt ly“. Nỗi sầu ấy càng trở nên ngạt thở và lên đến đỉnh điểm ở câu thơ

 

“Một lần hay biết bao lần

Ngươi về Mạt Đất, cõi trần không quên,

Như bất cứ ai qua miền

Trần gian mà có thể quên Đất này”

(từ khúc 41).

 

Câu Thơ thoạt nghe như lời báo trước cái chết, cái chết của chính thi sĩ, nhưng cũng là cái chết của chính mỗi chúng ta, và có lẽ làm rõ hơn cảm giác cận kề cái chết, một cảm giác cuối cùng trước khi biến mất, nếu người ta còn có thể cảm nhận một cách có ý thức vào giây phút ấy.

 

Bên cạnh nỗi sầu nặng nề, tình yêu của thi sĩ lúc này có thể được nhìn thấy và cảm nhận. Ai cũng yêu cuộc sống của mình, nhưng thi sĩ yêu cuộc sống. Và anh đã yêu cuộc sống vô cùng qua bài Thơ của anh, qua từng từ khúc, lập đi lập lại qua những câu Thơ của anh mà đằng sau đó chúng ta thấy và/hoặc cảm nhận được tình yêu cuộc sống lớn lao. Hiếm thấy trong thi ca thế giới những diễn tả buồn rầu của tình yêu cuộc sống như trong những câu Thơ này, đưa người đọc sau khi đọc câu Thơ gần như dừng lại, để được tự do, tự nhiên trong cảm nhận ... và cảm thấy một nỗi buồn vốn vẫn còn lại từ xa xưa.

 

6.

Từ khúc 45, gần cuối bài Thơ, một câu hỏi được đặt ra:

...

“Cuộc đời phải rút, khi đối đầu Thi Ca?

Hay Thi Ca phải lui ra

Trước cuộc sống? Không, đời chúng ta không là”

 

Câu hỏi có tầm quan trọng chính yếu, không chỉ đối với thi sĩ, mà còn đối với nghệ thuật và trên hết là đối với nghệ sĩ, bất kể nghệ thuật nào. Một ví dụ rõ ràng chúng ta thấy được trong cuộc đời bi thảm của van Gogh. Chẳng phải anh đã bỏ cuộc sống của mình cho hội họa, không quan tâm đến bản thân, sức khỏe, thành công, thậm chí cả một người phụ nữ cũng không ... mà chỉ quan tâm đến nghệ thuật của mình, bức họa của mình? Hay Hölderlin, người trong suốt cuộc đời trần gian của mình, mặc dù đã trải nghiệm tình yêu (Diotima - Susette Gontard), nhưng cuối cùng không có cuộc sống, đã phấn đấu giằng co rất nhiều cho những bài Thơ của mình đến nỗi chúng đạt đến một độ sâu mà có lẽ khó đạt được lại trong Thi Ca, đặc biệt là trong cảnh thơ hôm nay. Hay Pessoa, người đã từ bỏ tình yêu và cuộc sống với Ofelia Queiroz yêu dấu của mình, và không chỉ thế, mà còn từ bỏ triệt để mọi thứ thuộc về cuộc sống bình thường (ngoài rượu), chỉ để tập trung sức lực, toàn bộ con người mình vào Thi Ca ("Để đạt độ lớn, hãy là hoàn toàn" - Ricardo Reis).

 

Độc giả chúng ta có thể tưởng tượng rằng câu hỏi cực đoan "hoặc - hoặc" này luôn được đặt ra, kể từ khi nghệ thuật và các nghệ sĩ xuất hiện, bởi vì nó là một câu hỏi chính yếu. Và nó sẽ tiếp tục tồn tại, cũng như câu Thơ tính vấn của Hölderlin:

 

“Và thi nhân để làm gì

Trong thời thống khổ trong kỳ điêu linh?“

 

(„Brot und Wein“ – Bánh và Rượu – NCT dịch).

 

đã gây ra tranh luận qua nhiều thế hệ nghệ sĩ vì câu hỏi cũng có thể hiểu là: “Và nghệ thuật để làm gì/Trong thời thống khổ trong kỳ điêu linh?“.

Thời Gian, trong mỗi thời điểm, tức là luôn luôn, đều điêu linh thống khổ.

Tất nhiên, không phải ai tự gọi mình là nghệ sĩ (tước hiệu này rất được ưa chuộng ở phương tây) cũng đều phải đối mặt với câu hỏi này và phải quyết định. Nhất là ở thời đại chúng ta vốn được xem như là chưa đủ khi một người (chỉ) có một công việc thôi, mà anh/chị ta phải thêm một vài chức danh công việc hay nghề nghiệp khác để tô điểm đánh bóng cho mình bằng chúng.

 

7.

từ khúc 48, ta trực diện với câu Thơ cuối cùng của bài Thơ dài, nghe như một lời xác định khiến ta ngỡ ngàng. Chúng ta trích dẫn câu Thơ ấy ở đây một lần nữa:

“Ôi hơi bụi thành thịt này

Vật chất đã biến thành đây cuộc đời!“ (NCT).

 

Đó là gì? Câu Thơ nói điều gì? Nó có nghĩa là gì ?

Đây trước tiên là một câu tuyên ngôn xác định một cách điềm tỉnh từ khoa học hiện đại - vật lý thiên văn, sinh vật học vũ trụ -. Ở đây, như một câu Thơ trong dòng chảy của bài Thơ, thi sĩ nói một điều mà đối với chúng ta như một sự mặc khải. Bí ẩn vĩ đại của cuộc sống với vô số câu hỏi đặt ra cho con người chúng ta, nhà văn hay không, với sự khó hiểu muôn thuở, bỗng trở nên đơn giản và tầm thường. Từ chuyển động vũ trụ của khí, gió, từ tương tác hóa học của các phân tử, vật chất tự nhiên hình thành, và do vô tình, vật chất phát triển thành sự sống. Vật lý trở thành siêu hình học. Và căn tính phù du (thuật ngữ phật giáo gọi là vô thường) đã chỉ rõ con đường: một ngày nào đó - một nhịp xoay ngắn ngủi của thời gian vũ trụ - siêu hình học của sự sống sẽ lại trở thành vật lý, sinh học, phân tử. Từ xác thịt và dục vọng, từ linh hồn và đau khổ sẽ trở thành than và tro, khí và bụi. Gió trần gian trở thành gió vũ trụ.

Toàn bộ siêu hình của cuộc sống - " Kích thước của vĩnh hằng có thể trải nghiệm được" (từ khúc 47) - được ghi lại ở đây trong sự đơn giản cao nhất của Lời Thơ này.

 

***

 

Trong bài Thơ này, người đọc sẽ thấy nhiều điều được nói đến và nhiều câu hỏi chưa được trả lời hoặc không thể trả lời được thông qua các chủ đề được đề cập trong các từ khúc khác nhau. Trong khuôn khổ của phần giới thiệu khiêm tốn này, chúng tôi không thể đề cập đến tất cả chúng, chỉ một số ở đây hay ở đó. Thông qua các giải thích chi tiết chúng tôi đã thử tiệm cận với những Điều-Đã-Được-Nói trong bài Thơ.

Nhiều Lời Thi Sĩ đã được viết ra, những Lời này đã làm cho tác phẩm này có hình thái của Thi Ca & Tư Tưởng. Như các tia chớp và sấm sét, những Lời Thơ đã có thể giải phóng tâm trí linh hồn và bàn tay của một nghệ sĩ như thế nào thì chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ ràng ở Francis Bacon, họa sĩ có lẽ là quan trọng nhất của thế kỷ 20.

Ý nghĩa của từ “Thi Ca” ở ban đầu của bài viết này giờ đây cũng trở nên rõ ràng hơn trong cùng chân trời với Tư Tưởng.

Những bài Thơ nổi tiếng tiêu biểu của thời cận đại không chỉ có “Le Bateau Ivre” của Arthur Rimbaud, “Les Fleurs Du Mal” của Charles Baudelaire, “Leaves of Grass” của Walt Witman, “The Waste Land” của T.S. Eliot … mà còn có “Winde” của Nguyễn Chí Trung. Bây giờ chúng ta đừng nói về bài Thơ, hãy để nó tự nói với chúng ta.

Đây là câu chuyện khám phá (trở lại) một kích thước lớn của Thi Ca thế giới.

 

Silke-Joyce - 2008

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Chín 20262:41 SA(Xem: 141)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 210)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 325)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 590)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 462)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2649)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1770)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1439)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2536)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 2043)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1880)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11749)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18349)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17373)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 325)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2536)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2656)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 4035)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 590)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 2042)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3834)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3325)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2648)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2545)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2918)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2907)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Chín 2026(Xem: 141)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 462)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1770)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1438)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4696)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14920)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31051)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37830)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12759)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14052)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5305)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7856)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6920)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7337)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8301)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 210)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9914)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9104)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi