- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,431,243

Một Cõi Đi Về Cho Trịnh Công Sơn?

23 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 90945)

trinhcongsonTin từ quê hương cho biết tin vui cuối cùng nguyên văn, “các vị lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Huế đã hứa cấp... khoảng một ngàn mét vuông đất để xây dựng Khu lưu niệm” Trịnh Công Sơn.

Tin cũng cho biết Nhà Nước, cũng như thân nhân Trịnh Công Sơn, không dính líu gì đến việc xây dựng và nội dung trưng bày khu lưu niệm này. Đất chỉ được cấp theo yêu cầu của “những người bạn và những người mến mộ âm nhạc Trịnh Công Sơn” thôi. Không nghe nói cả nước và cả thế giới có được mấy người mến mộ âm nhạc Trịnh Công Sơn?

Ơn trả nghĩa đền cho Trịnh Công Sơn đã có công gây ra số người mến mộ đó, và cũng là mến mộ đất nước Việt Nam, là một ngàn mét vuông đất.

Một ngàn mét vuông? Nếu diện tích đất này mà nằm lọt giữa Hà Nội hay TP HCM nơi mà đất đai được tính bằng số cây vàng cho từng mét vuông thì quả tình một ngàn mét vuông chính quyền ban cho kể cũng nhiều vô kể. Chỉ có một điều là khoảnh đất này nằm lọt thỏm giữa núi rừng trong khu vực Dòng Thiên An cách trung tâm thành phố khá xa. Chọn nơi này làm cõi đi về cho Sơn để Sơn vui với tiếng khỉ ho cò gáy, tiếng chim chóc hay tiếng heo bò gà vịt từ khu chăn nuôi của Dòng Thiên An ngày xưa vọng sang thì cũng được thôi. Có còn hơn không.

Nhưng một ngàn mét vuông để xây “... một khu nhà lưu niệm với phòng trưng bày hình ảnh tư liệu hiện vật, phòng hội họp, nghe nhạc tối thiểu vài trăm người, thư viện, quầy giải khát, điểm tâm, sân vườn có thể chứa được 500 người ...” như ước nguyện của những bạn bè và người ái mộ Sơn thì có được không? Bởi lý, một miếng đất giả dụ một bề 20 mét và một bề 50 mét, thì quả là dư thừa để xây một ngôi mộ, một bảo tháp hay kim tỉnh, hoặc đủ để cất một quán cà phê bún bò bèo ram ít ướt, hoặc một dãy chuồng gà, chuồng thỏ, chuồng heo hay một chuồng bò chuồng trâu chứa mươi mười lăm con như khu nhà bếp và chăn nuôi ngày trước của Dòng Thiên An gần đó là nhiều. 

Nghe kỷ lại những bài như Cát Bụi, Một Cõi Đi Về, hay ngay cả Cho Một Người Vừa Nằm Xuống... hẳn thấy Sơn không ham chuyện trăm năm bia đá. Nhà lưu niệm nào có thể làm nơi an trú cho một một hạt bụi? Nhà lưu niệm nào bằng con tim của những Việt còn biết yêu nước yêu người?

Nguyễn Du từng băn khoăn ba trăm năm sau còn ai nhớ mình chăng? Trịnh Công Sơn không hỏi câu đó, và thực tình Sơn cũng không cần hỏi câu đó, bởi còn Việt Nam, còn lịch sử Việt Nam, còn ngôn từ Việt Nam, còn nhạc Việt Nam thì còn Trịnh Công Sơn.

Sơn sẽ sống mãi qua những người biết nói với người ngay cả khi yêu thương ngất trời, ngay cả khi hy vọng chứa chan, ngay cả khi cuồng nộ đắng cay tuyệt vọng phẫn hận nhưng chẳng thù đời hay xuôi tay bỏ cuộc, mà vẫn còn muốn nói với nhau những lời êm dịu nên thơ.

Sơn sẽ sống mãi như những câu ca dao, những bài đồng dao, những bài quan họ, những câu hò, câu vè vô danh, không cần tao đàn, nhạc viện, không cần quốc tử giám, không cần hàn lâm viện. Trong thế giới nghệ thuật Việt Nam hiện đại, đặc biệt là âm nhạc và thơ văn, không có một người Việt Nam nào được biết đến, được mến mộ, được yêu thương như Trịnh Công sơn.

Trong khung cảnh văn hóa Tam giáo, Nguyễn Du đã nâng ngôn từ Việt mà đặc thù là tiếng Nôm, đã nâng thi ca Việt mà đặc thù là Lục Bát, lên hàng phổ biến, đã chứng tỏ không có ý nghĩ nào hay tư tưởng nào dù cao siêu uyên áo thâm diệu đến đâu mà tiếng Việt không diễn đạt được, mà chữ Nôm không viết được. Trịnh Công Sơn là người tiếp nối con đường hoàn thiện ngôn từ Việt đó của Nguyễn Du, không chỉ bằng lời mà còn bằng nhạc. Không những hoàn thiện mà còn, nói theo ngôn từ thời thượng, hiện đại hóa hay đổi mới tiếng Việt nữa.

Cũng buồn cũng vui, cũng thất tình lục dục nhưng tiếng nói của Trịnh Công Sơn là tiếng nói của thế hệ suy tư ở ngoài đường, thế hệ đem tâm tình viết lịch sử, thế hệ xuống đường và đem cả bàn thờ xuống đường để đặt lại vấn đề về ý nghĩa lịch sử, về lý tưởng đời người, lý tưởng quốc gia và tình nhân loại. Đây là thế hệ nhìn thẳng vào mắt những người công an cảnh sát dẹp biểu tình, những người lính ra trận, những thanh niên trốn quân dịch, những con ông cháu cha êm ấm nhờ phúc nhà, những người lính đồng minh đang tưởng mình là kẻ thế thiên hành đạo... để thầm nói với họ rằng: Tôi nổi loạn và chúng ta hiện hữu. Thế hệ của Quảng Đức, Quách Thị Trang, Mai Tuyết An, Nhất Chi Mai... Cái thế hệ chỉ sáu tháng vùng lên là đủ làm nghiên ngửa một chính quyền đã thoát hiểm và đứng vững suốt chín năm sóng gió. Đó là một sự thật, hiển nhiên như quê hương Việt Nam, như cuộc chiến cam go dành tự chủ tự quyết, như ước vọng thanh bình đòi đoạn mong manh dai dẳng trong lòng người Việt suốt bao thế hệ.

Cho nên, có làm gì cho Sơn, có nghĩ đến gì cho Sơn, thì cũng là làm cho và nghĩ đến những người còn sống. Khu nhà lưu niệm Trịnh Công Sơn là một cách làm, cách nghĩ đó. Vì tâm tình những thế hệ quá khứ, vì tâm tư của thế hệ hiện tại và vì tiền đồ của những thế hệ tương lai.

Vấn đề còn lại là quyết tâm và vận dụng phương tiện. Liệu cơm gắp mắm, với một ngàn mét vuông và không được một tài trợ chính thức nào, bạn bè và người mến mộ Sơn có thể làm một kim tỉnh, một bảo tháp theo mô hình Chùa Một Cột, một tượng đồng lớn theo mô hình Le Penseur của Rodin, một tháp bút, một tháp hoa sen như ở quảng trường Duy Tân hay một bức tường hoa cương như bia mộ đen ở Washington...bạn bè và những người mến mộ Sơn không thiếu nhân tài để sáng tạo một mô hình độc sáng, không chỉ để tưởng niệm Sơn mà để cho tất cả những người làm thơ, văn, họa, nhạc hiện đại nổi tiếng của Huế, của miền Trung, của Việt Nam... Cho Sơn khỏi “nằm” trơ trọi trên non một mình giữa nơi sơn lâm. Không sao cả. Bởi thiên tài nào mà chẳng cô đơn. Ngày nào đây, có duyên may được cấp phát thêm mặt bằng thì lúc đó hãy tính mở rộng thành một khu lưu niệm đúng nghĩa. Không ai xây Roma xong một ngày. Chùa Một Cột hay tháp Thiên Mụ tự những ngày đầu có lẽ cũng chơ vơ lạc lõng và cũng chẳng mấy ai nghĩ một ngày nào đây đã trở thành những ngọn hải đăng tâm linh của Việt Nam như hôm nay.

Bạn bè và những người mến mộ Sơn cũng có thể xung phong xin lại khu vườn chơi hoang phế dưới chân núi Ngự Bình và biến nơi đó thành Lâm Viên Trịnh Công Sơn hay Đạo Tràng Trịnh Công Sơn, còn hơn là để làm nơi xả rác cho người và trâu bò.

Gia đình thân nhân Trịnh Công Sơn hình như không đến nỗi nào, bạn bè và những người mến mộ Sơn cũng có thể gây quỹ bằng cách thương thuyết với họ để khai thác bản quyền của tất cả tác phẩm của Sơn còn giữ được. Hoàn thành trung tâm còn dư thì dùng tiền đó tổ chức những giải thưởng, những học bổng Trịnh Công Sơn. Phạm Duy, Hữu Loan làm được, Trịnh Công Sơn tại sao không?

Có thể ngoại giao với chính quyền cho phép đấu thầu một hai kỳ xổ số để gây quỹ không? Rồi các chùa, nhất là chùa Huế. Các chùa làm sao quên được một người mà lời nhạc nhiều khi đã trở thành pháp khí, trở thành những tiếng chuông tiếng mõ có tác dụng khai ngộ an tâm không kém gì kinh kệ đúng nghĩa. Có thể vận động các chùa tiếp tay xây dựng trung tâm Trịnh Công Sơn không? Tạo điều kiện cho sinh viên học sinh và các nhóm ái mộ Trịnh Công Sơn tham gia việc gây quỹ xây dựng trung tâm tưởng niệm này. Mỗi người một viên gạch, người yêu thương Sơn, nhớ Sơn trong nước ngoài nước, không ít đâu. 

Trịnh Công Sơn chết đã năm năm rồi, ngoài cái vườn chơi Bình Qưới ở ngoại ô TP HCM, hình như chưa có một tượng đá, một công viên, một tên đường, một khu bảo tàng... nào chính thức dành cho Sơn. Đặc biệt là nơi chính quê hương chôn nhau cắt rốn của Sơn. Trong khi đó, tên tuổi của những người như Trương vĩnh Ký, Alexandre de Rhodes, Nguyễn trường Tộ, Paulus Của... xuất hiện khắp nơi, được tưởng niệm thường xuyên. Biết đâu mai đây lại sẽ có cả Trần Lục, Nguyễn Thân tham dự nữa. Điều đó có công bằng hợp lý cho một người như Sơn không?

Tưởng niệm Sơn không phải vì Sơn là người Huế, mà vì Sơn là người Việt Nam. Không phải Sơn là người Việt Nam mà vì Sơn là người Á châu. Không phải Sơn là người Á châu mà vì Sơn là người. Không “Ngụy”, không “cách mạng”, mà cũng chẳng “cách mạng 30”, dù Bùi Giáng đã dạy cho Sơn một bài học thực tế, thực tế như con cá sống vì nước. Bài học còn hai con mắt khóc người một con. Khóc một con mắt thôi vì dù thương yêu mấy đi nữa, khổ đau vì chia lìa mất mát mấy đi nữa thì cũng chỉ thương bằng một mắt, cũng chỉ khóc bằng một mắt thôi, phải để dành con mắt kia mà sống, ngay cả sống còn, sống sót. Con mắt còn lại đó lỡ kẹt phải bỏ nước ra đi thì để nhìn ghe vượt biên, không ra đi mà ở lại thì để nhìn công an khu vực, để đọc hộ khẩu và bảng hiệu cửa hàng nhu yếu phẩm. Trước, trong và sau cuộc đổi đời, Sơn đã khóc, đã cười và đã sống, sống như một người, sống ra người. Hay nói như Nietzsche, ecce homo! Chừng đó cũng đủ để nhớ Sơn rồi, không phải nhớ cho Sơn mà nhớ cho chính mình, những người còn đang trả nợ đời.

Và đã nhớ thì gắng cho ra nhớ, đã tưởng niệm thì gắng cho ra tưởng niệm, bất cứ nơi đâu, trong tâm, nơi tượng đài, công viên, đường phố, trường ốc, quảng trường, nhịp cầu... đâu đâu cũng có thể mang tên Sơn, nhắc nhớ Sơn, như Sơn đã và đang ở trong lòng nhân thế từ gần nửa thế kỷ qua...

Đời mắc nợ hạt bụi Trịnh Công Sơn nhiều hơn là Sơn mắc nợ cuộc đời.

HOÀNG NGUYÊN NHUẬN

(Trại Đỗ Quyên 14/6/2006)

*

Một vài bài liên hệ xin hoan hỉ đọc thêm:

- 40 Năm Hành Trình Âm Nhạc -Trịnh Công Sơn, Thái Hòa và Tôi của Trần Tuyết Hoa [chuyenluan online số tháng 04/06]

- Trịnh Công Sơn và Tôi của Nguyễn Tú A [chuyenluan online số tháng 04/06]

- Giã Từ Nguyễn Du Thế Kỷ 20 của Hoàng Nguyên Nhuận [ Hoàng Nguyên Nhuận - Phồn Hoa Kinh, Văn Mới, Ca. 2003]

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1300)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4787)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
30 Tháng Ba 20206:04 CH(Xem: 161)
Em hớ hênh thèm một miếng thương / Để anh dáo dát đụng chân giường / Ngoài kia dẫu dịch tràn như sóng / Anh vẫn chết chìm trong mắt em. /
30 Tháng Ba 20205:57 CH(Xem: 117)
tháng hai, tháng ba ta trở về / chiều đi lên đồi nghe mùi của đất bốc lên thoang thoảng / lá vây quanh và mây xanh trên đầu / mớ ký ức vẽ hình vòng cung /
28 Tháng Ba 20206:12 CH(Xem: 534)
Ban đầu, ông thấy người gai gai, sốt, chán ăn. Bụng bảo dạ, nhẽ mình lao động hơi quá sức. Chả là vừa tập Gym hồi đêm về sáng trên máy bay với Hải Yến xong, thì tối hôm đó lại về sân hàng chiếu ở Times city thi đấu cả đêm. Bắt buộc phải cả đêm, bởi nếu không thì khó mà sống với phòng nhì đang kỳ lửa nồng được. Dù ông biết thân trước khi lâm trận, đã viện đến bao nhiêu sự trợ giúp, ngay cả từ lúc mới xuống sân bay kia. Thế nên đêm đầu về nhà cũng làm cho em Thuận mãn nguyện. Những đêm sau thì phải cố, cũng qua bài. Gặp mặt Hội 3G, tay bắt mặt mừng ôm hôn thắm thiết, mừng công trình rực rỡ để đời đã hoàn thành. Mừng cú tuyệt tác one in hole trên chín tầng mây, thật là độc nhất vô nhị! Nhưng mấy hôm tiếp theo đi họp hành, tiệc tùng chiêu đãi nhiều thấy mệt mỏi. Càng ngày càng thấy người ốm tệ. Sốt, ho, khó thở... Hay là nhiễm cúm virus corona? Em Thuận hoảng hốt vội gọi xe đưa vào viện khám. Xe đưa ông Nam vừa đi thì cũng có xe khác đến đưa ngay cả hai mẹ con đi cách ly chống dịch.
26 Tháng Ba 202010:54 CH(Xem: 318)
Raymond Clevie Carver Jr. sinh ngày 25 tháng Năm, 1938, là tác giả Hoa Kỳ chuyên về truyện ngắn và thơ; người được xem như một trong những nhà văn lớn của nước Mỹ. Các tác phẩm chính của Carver gồm có: Will You Please Be Quiet, Please? (1976), Furious Seasons and other stories (1977), What We Talk About When We Talk About Love (1981), Cathedral (1983), Elephant (1988), Where I'm Calling From: New & Selected Stories (1988), Short Cuts: Selected Stories (1993), Collected Stories (2009).
25 Tháng Ba 202010:33 CH(Xem: 351)
Ơi bạn ta / Trong mỗi căn phòng cách ly / Hãy quán chiếu về sự chết / Hãy mở cánh cửa thâm u đã từng khóa chặt / Hãy mĩm cười về phía biển xanh / Sóng vẫn chập chùng pháp âm vô lượng nghĩa.
25 Tháng Ba 20209:32 CH(Xem: 392)
Lúc này, bên những vết tích còn lại của bản Thái hoang tàn, Cư có cảm tưởng lạc vào nơi từng ghi dấu sự tích kể về cô gái con tạo bản đã héo hon mà chết vì mong nhớ người yêu; nhưng mọi người không sao đem nổi xác nàng ra khỏi nhà, bởi hồn nàng quyết không chịu rời đi. Bản bị hồn ma ám, không ai dám ở. Còn chàng trai nghèo thất tình, khi trở về đã ôm ấp nàng suốt bảy ngày đêm mà không biết đó là thi thể giá lạnh, giữa cái bản vắng tanh...
25 Tháng Ba 20209:25 CH(Xem: 457)
Đêm đêm, nhất là những đêm trăng sáng, thỉnh thoảng có những “sinh hoạt” gì đó tôi cũng chẳng biết. Và thỉnh thoảng, có những đoàn quân rất đông người với bao nhiêu là súng ống đạn dược, kéo về trong một đêm, rồi sáng sớm hôm sau họ lại lên đường. Chắc là đánh nhau ở đâu đó. Tôi nghe loáng thoáng cha mẹ tôi nói là bộ đội chủ lực gì gì đó.
25 Tháng Ba 20209:18 CH(Xem: 303)
bao nhiêu năm ngoan cố tìm cái đã mất / giống như tìm an ủi trong tuyệt vọng / thôi thì hôm nay / hài lòng trong một phút dối lòng