- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ĐỂ TRÁI TIM THƯƠNG CẢM CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU THẤM SÂU VÀO ĐỜI SỐNG HIỆN TẠI (*)

24 Tháng Năm 20234:02 CH(Xem: 28959)
Nguyễn Đình Chiểu

Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu
(Hoạ sỹ Hoàng Hiệp -bút danh Thanh Xuân
vẽ năm 1982)



ĐỂ TRÁI TIM THƯƠNG CẢM CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

        THẤM SÂU VÀO ĐỜI SỐNG HIỆN TẠI (*)

Mai An Nguyễn Anh Tuấn


Tóm tắt: Chủ nghĩa cảm thương trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu là sản phẩm đặc biệt của một trái tim lớn trong thời “khổ nhục và vĩ đại”, trở thành giá trị quý báu nhất trong Di sản tinh thần của ông, đã được tìm hiểu, khai thác và đưa vào cuộc sống lâu nay ra sao? Cơ sở nào để xây dựng tác phẩm Điện ảnh về cuộc đời Đồ Chiểu và xây dựng Không gian văn hóa xứng đáng tầm quốc gia mang tên Nguyễn Đình Chiểu tại Bến Tre?

Từ khóa: Nguyễn Đình Chiểu, lòng thương cảm, yêu nước, thương dân, tình yêu lớn.



I.
Trong số những nhà thơ lớn Việt Nam các thời Cổ - Trung - Cận đại, tình cảm đặc biệt nhất của tôi với tư cách một người làm phim truyện, là dành cho Thi sĩ-Nhà giáo-Thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu. Bởi theo tôi, giá trị lớn nhất, sức hấp dẫn kỳ lạ nhất trong văn chương Nguyễn Đình Chiểu, chính là trái tim thương cảm của ông đối với Dân, đối với những nghĩa sĩ đã xả thân cho Tổ quốc, và đặc biệt với phụ nữ, trẻ em - những nhóm người yếu thế nhất trong xã hội, nạn nhân đầu tiên của chiến tranh, loạn lạc…

Cái tình cảm đặc biệt đó bắt đầu từ một giờ giảng văn PTTH, trong một lớp học giữa ngày đông sương muối Tây Bắc: khi giảng bài thơ Chạy Tây của Nguyễn Đình Chiểu, tới hai câu thực: Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy/ Mất ổ bầy chim dáo dát bay, tôi đã hỏi các em: “Hai câu thơ này miêu tả âm thanh hay hình ảnh? Có điều gì đặc biệt ở đây?” Sau một lúc khá lâu lặng đi bởi bất ngờ, xúc động, mấy cô cậu giơ tay hăng hái phát biểu; rồi tôi đã tổng kết lại trong trạng thái cảm xúc căng thẳng của thầy lẫn trò: đó là những hình ảnh của âm thanh, của tấm lòng và trí tưởng tượng của nhà thơ. Nhưng đó cũng là những hình ảnh cụ thể, có thực trong cuộc sống. Điều đặc biệt là: những hình ảnh chân thực và đau xót này lại do một nhà thơ mù miêu tả. Những âm thanh buồn thảm đã vang vọng trong tâm hồn ông; chính con người mang trong lòng bao nỗi đau thời đại và nhân thế cũng là con người biết lắng nghe cả những tiếng động nhỏ bé trong cuộc đời bằng tất cả trái tim thương cảm, giữa những tiếng động vỡ đất xé trời của cuộc xâm lược tàn bạo…

Tôi đã hình dung ra những lời đối thoại, những cảnh phim về Nguyễn Đình Chiểu, trăn trở với chúng suốt mấy chục năm qua, cho tới tận hôm nay khi được tin: Nguyễn Đình Chiểu đã trở thành người Việt Nam thứ 6 được UNESCO kỷ niệm như một nhân vật văn hóa thế giới. Và như thế, có nghĩa là: lý tưởng, sứ mệnh của UNESCO cũng tương thông với Tình nghĩa như là căn cốt của tâm hồn, tính cách, văn hóa Việt Nam - cái giá trị mà Việt Nam có thể mang ra thế giới, mà Nguyễn Đình Chiểu với trái tim thương cảm lớn của ông là một trong những đại diện xứng đáng.

Suốt gần một thế kỷ nay, hầu như trong tất cả các công trình, bài nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu, điều tinh túy và quý giá nhất được coi trọng hàng đầu từ cuộc đời và thơ văn của cụ chính là một Lòng thương cảm lớn; bởi điều đó chắc chắn đã giúp cho “Đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu sáng rực trong lúc Việt Nam bị rơi vào cảnh trầm luân khổ nhục” và khiến một nhà thơ mù có “đủ can trường để luôn luôn ở tại mũi nhọn của cuộc chiến đấu cứu nước” [7, tr.11]. Biết bao sự cảm thụ đầy rung động và lời đánh giá đẹp đẽ nhất về tâm hồn nhà thơ xuất phát từ Lòng Thương cảm lớn này, như nhà thơ Bùi Giáng: Lục Vân Tiên “luôn luôn cảm động lòng người trong cái phần trong sáng nhất của tâm tình đạo lý, dào dạt sâu thẳm nhất của tâm tình yêu thương, và của tâm tình người thiết tha theo lý tưởng” [6, tr.171]; hoặc như nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương: “Con người tương thân tương ái, thấm đẫm tình cảm cộng đồng và hành động ân oán rách ròi ở Lục Vân Tiên”[16, tr.287], “Nguyễn Đình Chiểu khóc những người nghĩa binh bằng tiếng khóc gan ruột của quan hệ máu chảy ruột mềm… tình cảm thắm thiết giữa những người đồng bào, mối cộng thông giữa người mất người còn vì nghĩa lớn… Những bản hòa thanh viết nên từ máu và nước mắt” [16, tr.288]; v.v.

Có thể khẳng định, lòng thương cảm của Đồ Chiểu có gốc gác sâu xa từ nguồn “Thương người như thể thương thân” của một dân tộc trải qua hàng ngàn năm sinh tồn trong những hoàn cảnh khốc liệt, đã âm thầm chảy cho tới giai đoạn mà cá nhân được thức tỉnh trong chủ nghĩa nhân văn đạt tới đỉnh cao ở văn học thế kỷ XVIII - giữa XIX, và được kết tinh rõ nét trong chủ nghĩa cảm thương, như nhận định của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử: “Từ Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn đến Văn chiêu hồn, Sơ kính tân trang, Tự tình khúc… đều thể hiện một tinh thần cảm thương cho số phận con người, than tiếc những giá trị bị hủy hoại oan uổng” [13, tr.210]. Từ đó, nhà nghiên cứu đã khái quát những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa cảm thương như sau: “Chủ nghĩa cảm thương là hiện tượng văn học có tính chất quốc tế. Nó xuất hiện ở Châu Âu vào nửa sau thế kỉ XVIII vào thời kỳ xã hội phong kiến khủng hoảng trầm trọng và chủ nghĩa tư bản phát triển rầm rộ làm cho đông đảo nông dân và thợ thủ công bị phá sản. Sự sụp đổ của xã hội cũ, sự lạnh lùng, tàn bạo của quan hệ đồng tiền đã làm huỷ diệt bao nhiêu giá trị và gợi lên tâm trạng xót thương bi lụy đồng cảm với những số phận bị hẩm hiu và lên án đồng tiền, lên án bọn ăn bám độc ác, tàn nhẫn. Chủ nghĩa tình cảm đề cao những giá trị của con người phổ biến, từ đó đề cao tư tưởng dân chủ và vì thế mà càng đau xót hơn cho số phận con người bất kể giàu nghèo. Họ thường miêu tả những tình yêu bất hạnh của những con người khác đẳng cấp để lên án bất công, chia rẽ xã hội và đề cao giá trị con người” [13, tr.211].

Nhưng ở giai đoạn lịch sử mà Nguyễn Đình Chiểu sống - thời “khổ nhục và vĩ đại” (Phạm Văn Đồng), chủ nghĩa cảm thương như là sản phẩm văn hóa tất yếu và độc đáo của chủ nghĩa nhân văn đạt tới đỉnh cao ở thế kỷ trước giờ đã được chuyển hóa, đồng thời tích tụ thêm năng lượng và giá trị mới mẻ. Thực tế lịch sử và sáng tác của nhà thơ mù đã tạo cơ sở cho các nhà nghiên cứu đi tới khẳng định một chân lý nghệ thuật thời đại: con người nghệ sỹ và con người hiệp sỹ trong Nguyễn Đình Chiểu lớn hơn con người nho giáo mà ông đã/ đang mang trong thân thế mình cùng các lý tưởng nhân văn kế tục từ thế kỷ trước, rồi được cháy bùng thành lòng yêu nước thương nòi tới độ bi tráng, thống thiết trong trái tim của một nhà văn lớn.

Khi so sánh Nguyễn Đình Chiểu với thi hào Ý Dante, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hoàn đã viết: “Nguyễn Đình Chiểu trở thành người phát ngôn cho tinh thần yêu nước, cho ý thức dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX” [8, tr.149]. Đó cũng là thời kỳ lịch sử đặc biệt mà “Nguyễn Đình Chiểu đã gánh trọn, đã sống hết tấn bi kịch của dân tộc, của quê hương, trong đời sống cũng như trong thơ ca” [9, tr.14]. Bối cảnh lịch sử đó, với sứ mệnh cao cả đã đến với Đồ Chiểu, trong mối quan hệ mật thiết của người trí thức với nhân dân - như nhận định chân xác của nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh: “Rõ ràng quần chúng lao động và đạo sĩ đều là tôn sư, đều là nguồn sống, sức mạnh và ánh sáng của người trí thức…”[3. tr.40] - “nhà thơ mù sáng suốt nhất trong những nhà thơ đương thời… ông đồ Chiểu giỏi nhất trong các ông đồ, ở trong tác phẩm của mình, đã phá vỡ bức tường ngăn cách xã hội và tạo ra không những một mối giao cảm đằm thắm mà còn là sự giao hòa rộng rãi giữa các hạng người, dưới ánh sáng của Đạo Người thực chất là lẽ sống của cộng đồng và hạnh phúc tập thể của nhân dân”[3, tr.41], và điều đó diễn ra “trong thời kỳ phương Đông đang tự ý thức mạnh mẽ, đang tự phê phán sôi nổi trong cuộc “đối thoại ”quyết liệt” bằng súng đạn với kẻ thù xâm lược phương Tây” [3, tr.43].

Nhà nghiên cứu Bùi Thanh Ba khi phân tích bản chất chữ Nhân trong sáng tác của nhà nho Nguyễn Đình Chiểu đã chỉ ra rằng, Thuyết ngũ hành mà Nguyễn Đình Chiểu áp dụng, làm kim chỉ nam cho sáng tác Ngư tiều vấn đáp y thuật không chỉ xuất phát từ kinh nghiệm quan sát của nhân dân, mà còn xuất phát từ trái tim của quảng đại quần chúng lao khổ - giới nhân sinh mà ông luôn cảm thương tận đáy lòng: “Ông cực lực lên án bọn dùng tà thuật mê hoặc lòng dân… Trong tư tưởng Nguyễn Đình Chiểu, nước với dân là một… Vì thương dân tha thiết, nên tình cảm của ông cũng dào dạt như sóng biển… Nguyễn Đình Chiểu thương dân và tự đặt cho mình nhiệm vụ cứu lấy dân trong cơn nguy biến” [1, tr.162].

Chuyên gia hàng đầu về văn học trung - cận đại Nguyễn Đình Chú, từ giá trị bất hủ của Tình thương trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã liên hệ tới giá trị Tình thương trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu và khẳng định: “Thơ văn Đồ Chiểu đã khai thác khả năng cuộc sống và đáp ứng yêu cầu của cuộc sống ở mức độ xuất sắc nhất” - những yêu cầu cuộc sống đó, là “cần tố cáo kich động lòng căm thù đối với kẻ thù cướp nước và bán nước… cần nói lên cảnh ngộ đau thương tang tóc của quần chúng, của dân tộc… cần ca ngợi biểu dương những người hy sinh anh dũng cứu nước… cần nuôi dưỡng niềm tin cho quần chúng trong lúc khó khăn tạm thời… cần xây dựng “đạo người” [2, tr.56]. Giáo sư đánh giá cao Đồ Chiểu ở “khả năng đón nhận tư tưởng nhân dân sâu sắc”, và vì vậy “trở thành nhà tư tưởng của nhân dân thực sự”, đồng thời kết tinh thành một tài năng nghệ thuật có sức mạnh phi thường của trái tim “đủ sức dựng tượng người nông dân nghĩa quân lên sừng sững” như nhân vật của thời đại, đã “thể hiện được mối quan hệ đẹp đẽ nhất giữa anh hùng và quần chúng” [2, tr.60].

Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng nhận định: “Căn bản đạo lý và tình thương vẫn là trụ cột cho sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu” [14, tr.184]; và với mảng văn tế - thơ điếu Nguyễn Đình Chiểu, ông gọi đó là “khí giới cuối cùng và duy nhất”, cũng đồng thời là sản phẩm của “một tâm hồn nồng cháy, ngọn bút sắc sảo… chao lộn trong tình cảm đau thương, bi hùng trước hận vong quốc” [14, tr.177].

Tình yêu lớn với con người của Nguyễn Đình Chiểu bộc lộ trong nỗi xót thương, niềm thương cảm, lòng phẫn nộ, chỗ nào cũng chân thành, bi thiết, nồng hậu, thấm trực tiếp và lắng sâu trong lòng người, và đó cũng là đặc sắc nghệ thuật lớn nhất của thơ văn Đồ Chiểu. Trong tiểu luận “Triết lý giáo dục dân gian trong nói thơ Lục Vân Tiên”, nhà nghiên cứu Võ Quốc Việt có nhận xét chí lý: “Nói thơ Lục Vân Tiên… là sự gặp gỡ giữa sinh hoạt văn nghệ của người bình dân và tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu. Cũng có thể nói, đó là sự gặp gỡ giữa tư tưởng nhân bản Nguyễn Đình Chiểu với “Dân gian tính-minh triết Việt”… Khởi đi từ cuộc sống con người phương Nam, Nguyễn Đình Chiểu kết tinh thành ngôn từ nghệ thuật” [15].

Với trữ lượng tình thương bao la như thế, tác phẩm Lục Vân Tiên đã đi vào tục ngữ, ca dao dân ca, trở thành một loại hình diễn xướng đặc biệt như “Nói thơ Vân Tiên”, “Hát dặm (giặm) Vân Tiên”, “Thơ hậu Vân Tiên”, “Thơ nhại Vân Tiên”, từng được chuyển thể thành nhiều loại hình nghệ thuật khác như: tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống về Lục Vân Tiên, tuồng Lục Vân Tiên, phim Lục Vân Tiên, nhạc kịch về Lục Vân Tiên, v.v, nghĩa là một "trường văn hóa" về Lục Vân Tiên mà ngoài Truyện Kiều ra, ít tác phẩm nào có được [10]. Lục Vân Tiên còn là tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra nhiều thứ tiếng: tiếng Pháp (ít nhất 7 bản), tiếng Nhật, tiếng Anh, tiếng Triều Tiên…

II. Song, việc đưa những giá trị của Di sản Nguyễn Đình Chiểu - đặc biệt là vẻ đẹp, sức mạnh của “trái tim thương cảm Đồ Chiểu” thấm sâu vào đời sống, thông qua các tác phẩm văn học nghệ thuật & sinh hoạt văn hóa đại chúng trong hơn một thế kỷ qua đã diễn ra một cách đứt quãng, lẻ tẻ, hời hợt, mang tính hình thức lễ lạt, thậm chí không bằng cái thời kỳ mà dân Nam Bộ hát thơ, nói thơ Lục Vân Tiên trước mũi súng quân thù [5, tr.78]. Truyện thơ Lục Vân Tiên đã lên màn ảnh lớn, màn ảnh nhỏ vài lần, nhưng mới chỉ là sự thể nghiệm việc chuyển thể một tác phẩm văn học cổ điển lớn, chưa đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ của những thế hệ  khán giả mới… Chưa hề có một vở diễn sân khấu hoặc một bộ phim ngắn nói về cuộc đời Đồ Chiểu - dù có rất nhiều nhà hát sáng đèn hàng đêm và có cả một Hãng phim mang tên ông trong nhiều năm! Trong hàng mấy thập niên của thời kỳ hòa bình, học sinh phổ thông đã không thẩm thấu nổi vẻ đẹp văn chương cùng vẻ đẹp tâm hồn Đồ Chiểu (như hiện tượng phản ứng tiêu cực của học sinh với bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc một dạo khiến giới nhà giáo dạy văn và phần đông phụ huynh học sinh hết sức đau lòng). Nguyên cớ gì vậy?… Đã tới lúc xã hội đặt vấn đề: Sự cấp thiết phải có những tác phẩm nghệ thuật thực sự, xứng đáng, trong hội họa, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, v.v. về danh nhân văn hóa Nguyễn Đình Chiểu, để những giá trị của Di sản tinh thần Đồ Chiểu có điều kiện ngày một thấm sâu trong lòng thế hệ trẻ.

Từ những luận cứ và động lực tình cảm đó, chúng tôi chính thức bắt tay vào xây dựng Kịch bản điện ảnh (Scenario) vốn đã ấp ủ từ mấy chục năm trước, với tên tạm đặt “Trái tim Đồ Chiểu”. Bộ phim sẽ cố gắng dựng lên hình tượng đầy xúc động của một nhân cách cao đẹp, một tâm hồn chan chứa tình thương, một nhà thơ lớn đã vượt qua số phận để đứng vững trước sóng gió của lịch sử, đã bằng ngòi bút “Đâm mãi thằng gian bút chẳng tà”, bằng trái tim thương ghét rõ ràng, chính tà minh bạch theo chuẩn mực đạo lý Việt Nam. Bộ phim kể lại giai đoạn Đồ Chiểu sống ở Cần Giộc, sau đó về Ba Tri - Bến Tre, tiếp tục dạy học, bốc thuốc và sáng tác thơ văn phục vụ cuộc kháng chiến của nhân dân và sĩ phu chống Pháp xâm lược. Thời kỳ này, tác phẩm Lục Vân Tiên của Cụ đã được truyền bá khắp Nam Kỳ - Lục tỉnh, mà theo Tiến sĩ Pascal Bourdeaux, “quan hệ văn hóa đặc biệt được hình thành giữa nền văn học Pháp, nơi đón nhận những bản dịch của nhà thơ và di cảo của ông” [12].

Tóm tắt truyện phim


Truyện phim bắt đầu bằng cảnh viên võ quan Pháp yêu văn chương Gabriel Aubaret (Ôbarê) sau khi nghe người dân truyền miệng những câu thơ Lục Vân Tiên khắp vùng Lục tỉnh, đã thuyết phục cấp trên được thu thập các bản chép tay chữ Nôm Lục Vân Tiên từ các bản chép tay chữ Nôm để dịch sang tiếng Pháp. Từ chỗ Ôbarê chỉ muốn nhằm giúp bộ máy cai trị Pháp hiểu thêm về đời sống tinh thần của dân Việt mà định ra các phương sách đối phó và thống trị thích hợp, ông ta đã thầm lặng cảm phục nhà thơ mù, tìm mọi cách tiếp cận với Nguyễn Đình Chiểu.

Lúc này, Nguyễn Đình Chiểu đang sống ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Tại đây, ông kết bạn với thầy đồ Lê Tăng Quýnh, Quýnh vì khâm phục tài năng đức độ của bạn, đã vun đắp nhân duyên cho bạn: ông Quýnh ngỏ với cô em gái mình là cô Điền, đẹp người đẹp nết đang tìm chồng “chốn ba quân”. Cô Điền nghe anh, đóng giả nam sang nhà Đồ Chiểu xin thụ giáo. Tiếp xúc với một nhà thơ lỗi lạc, phong độ hào kiệt, cô Điền đã rung động trước tâm hồn yêu dân thương dân của Đồ Chiểu, tự nguyện trao cuộc đời cho ông. Cô Điền đã giúp ông sửa chữa, chép lại những câu thơ, truyện thơ do ông đọc cho, không nhờ tới học trò nữa, đồng thời phụ tá cho ông việc dạy học… Ông vẫn tham gia bàn bạc công việc cứu nước với các bạn hữu như Phan Văn Trị, Hồ Huân Nghiệp, Bùi Hữu Nghĩa, liên hệ mật thiết với Đốc binh Là - người chỉ huy anh dũng trong trận Cần Giuộc, tích cực giúp đỡ nghĩa quân bằng cách huy động lương thực, bàn mưu tính kế diệt giặc. Lãnh binh Trương Định vẫn thường đến hỏi ý kiến và coi ông như người tham mưu cho mình.

Cũng chính Ôbarê là người nhận nhiệm vụ chỉ huy trận đánh tiêu diệt nghĩa quân Cần Giuộc, sau đó ông đã được đọc bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” đầy bi tráng của một nhà thơ ông đang nóng lòng muốn gặp. Và cuộc gặp đó đã được thực hiện; Ôbarê và lính tráng tìm đến nhà Đồ Chiểu giữa khi ông đang bí mật bàn mưu tính kế với Trương Định. Trương Định lẩn vào nhà trong lắng nghe, chuẩn bị tuốt gươm bảo vệ Đồ Chiểu. Ôbarê đã thuyết phục Đồ Chiểu tiếp tục hoàn thiện, nhuận chính Lục Vân Tiên, rời bỏ việc chống lại nhà nước Bảo hộ, hứa sẽ liên hệ cho ông sang Paris để in tác phẩm và tiếp xúc với văn minh Pháp. Một cuộc đối đầu thú vị đầy trí tuệ đã diễn ra, và cuối cùng Ôbarê đành ngậm ngùi trở về, báo cáo lại kết quả; nhưng vẫn hy vọng sẽ thuyết phục được Đồ Chiểu.

1862, khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng bị chiếm đóng, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tỉnh Vĩnh Long (Bến Tre). Họ băng đồng, lội ruộng và dùng ghe xuồng mà di chuyển rất vất vả, vì ông không chịu đi trên trục lộ có bàn tay của người Tây xây đắp. Bà Điền lo bảo quản,vận chuyển sách vở cho chồng trong chuyến "thiên cư" này. Tại đây, ông tiếp tục dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân giữa ngày dịch bệnh tràn lan; đồng thời Cụ vẫn giữ mối liên hệ với những sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và các lực lượng kháng chiến. Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất tiếc thương những đồng bào, bạn bè, nghĩa sĩ đã mất.

Tỉnh trưởng Vĩnh Long Ponchon (Pông-sông) cũng là người yêu văn chương, được biết việc làm của Ôbarê trước đây, bèn cho mời Ôbarê tới bàn về tiếp tục mua chuộc, lôi kéo Đồ Chiểu, qua đó chinh phục được lòng dân chúng. Hai người đã tới nhà Đồ Chiểu, mang theo nhiều quà quý, cả thuốc men chữa bệnh và đồ nghề y tế cho Cụ, ngỏ ý trợ cấp tiền cho Cụ sáng tác, hứa trả lại đất cũ.  Ôbarê còn mang tới khoe, tặng Đồ Chiểu tập Kỷ yếu châu Á trong đó có in Lục Vân Tiên do ông ta dịch sang tiếng Pháp. Nhưng Đồ Chiểu nhất quyết cự tuyệt. Pông-sông hỏi: “Thế Cụ muốn gì?” Đồ Chiểu bảo: “Tôi muốn làm lễ tế các nghĩa sĩ”. Pông-sông gật đầu đồng ý, hứa định ngày tế và cử đại diện tới dự. Nhưng Đồ Chiểu không chờ đợi lời hứa, ông bảo vợ: “Sao lại để cho hắn ta làm chủ lễ cho buổi tế các nghĩa sĩ chống lại hắn, ngã xuống bởi hắn?” Ông đã chủ động cùng vợ con, bè bạn, tổ chức buổi lễ này tại chợ Ba Tri. Bộ phim kết thúc bằng cảnh lễ tế xúc động, hàng trăm người rơi nước mắt trước lời “Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh của cụ do chính cụ đọc, như một lời kêu gọi dân chúng tiếp tục đứng lên chống Pháp xâm lược sau những cuộc tàn sát đẫm máu của họ.

Bộ phim tương lai sẽ cố gắng tái hiện cái bối cảnh lịch sử góp phần tạo nên tâm hồn - nhân cách Đồ Chiểu, bối cảnh đặc biệt mà GS. Trần Ngọc Vương xác định: "Chưa có một giai đoạn nào trong lịch sử Việt Nam mà mật độ những tấm gương hy sinh quên mình vì nghĩa lớn, vì sự tồn vong dân tộc lại dày đặc đến như vậy. Lục Vân Tiên trở thành chứng tích văn học tiêu biểu nhất để lý giải điều đó" [16, tr.286].

Bộ phim “Trái tim Đồ Chiểu” sẽ là một trong những cố gắng của những người làm phim Việt Nam  - con cháu Đồ Chiểu hôm nay, minh chứng thêm cho cái sự thật lớn mà cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: “Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”[16]. Đây là phim thuộc loại phim chân dung danh nhân mà Điện ảnh thế giới đã thực hiện từ một thế kỷ nay, như phim “Găng-đi”, “Lin-côn”, "Diễn văn của nhà vua" (The King's Speech, về vua Anh George VI), v.v. (Điện ảnh nước ta mới chỉ có phim truyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh).

Tác phẩm Điện ảnh “Trái tim Đồ Chiểu” là một bộ phim lịch sử lớn, cần xây dựng một số bối cảnh Nội - Ngoại thất quan trọng của Studio Film để quay phim, như:

- Ngôi nhà của Đồ Chiểu ở Long An

- Nhà cô Điền, vợ tương lai của Đồ Chiểu

- Chùa Tôn Thạnh

- Ngôi nhà của Đồ Chiểu ở Bến Tre

- Doanh trại lính Pháp

- Dinh tỉnh trưởng Ponchon ở Bến Tre

- Một đoạn sông - Bến sông - Cầu tre qua sông

Và những bối cảnh này sẽ làm nhân lõi để phát triển thành một Công viên Văn hóa (hoặc Không gian văn hóa) mang tên Nguyễn Đình Chiểu - nơi tham quan Du lịch hấp dẫn tương lai của tỉnh Bến Tre, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước - theo hình mẫu các Công viên văn hóa nước ngoài tôn vinh các danh nhân như Servantes, Puskin, Gơt, v.v. [11, tr.770]. Bộ phim và Công viên văn hóa này sẽ góp phần không nhỏ tôn vinh giá trị của Di sản Nguyễn Đình Chiểu, mà trong đó, Lòng Thương cảm với Đời, Tình yêu Nước yêu Dân của Cụ mãi mãi là hòn ngọc sáng trong tâm trí nhiều thế hệ người Việt Nam…

(*) Tham luận hội thảo khoa học “Thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa Nguyễn Đình Chiểu – Hướng tiếp cận và thành tựu nghiên cứu mới" do Khoa Văn học và khoa Lịch sử (trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Tp.HCM) phối hợp cùng khoa Ngữ văn (trường Đại học Sư phạm Hà Nội) tổ chức ngày 11/11/2022 tại TP. HCM.

 

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bùi Thanh Ba (2007) “Qua ngư tiều y thuật vấn đáp tìm hiểu thế giới quan Nguyễn Đình Chiểu”, Tác giả trong nhà trường: Nguyễn Đình Chiểu, Nxb Văn học, HN.

[2]. Nguyễn Đình Chú (2007) “Từ lý tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước”, Tác giả trong nhà trường: Nguyễn Đình Chiểu, Sđd.

[3]. Cao Huy Đỉnh (2007) “Đồ Chiểu với sự chuyển mình của văn hóa dân tộc”, Tác giả trong nhà trường: Nguyễn Đình Chiểu, Sđd.

[4]. Phạm Văn Đồng, “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc”, Tạp chí Văn học số 7 năm 1963.

[5]. Nguyễn Thạch Giang (2001) “Vấn đề hiệu đính văn bản”, Nguyễn Đình Chiểu, Truyện Lục Vân Tiên, Nxb Văn hóa -Thông tin (“Truyện thơ Lục Vân Tiên này phổ biến trong dân gian đến mức ở Nam Kỳ không có một người đánh cá hay một người lái đò nào không hát một vài câu thơ ấy khi họ chèo thuyền” - Lời nói đầu bản dịch truyện Lục Vân Tiên của Aubaret 1864).

[6]. Bùi Giáng (1999), “Lục Vân Tiên hay là tấm lòng Cụ Nguyễn Đình Chiểu”, Một vài nhận xét vể Truyện Kiều-Phan Trần-Thúy Vân-Lục Vân Tiên-Chinh Phụ Ngâm-Quan Âm Thị kính-Bà Huyện Thanh Quan, Nxb Hội Nhà văn, HN.

[7]. Trần Văn Giàu (1984) “Nguyễn Đình Chiểu, đạo làm người”, Kỷ yếu Hội nghị KH về Nguyễn Đình Chiểu, Sở Văn hóa thông tin và Hội Văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre.

[8]. Nguyễn Văn Hoàn, “Từ Lục Vân Tiên đến Dương Từ - Hà Mậu”, Tác giả trong nhà trường: Nguyễn Đình Chiểu, Sđd.

[9]. Lê Đình Kỵ (2007) “Nguyễn Đình Chiểu”, Tác giả trong nhà trường: Nguyễn Đình Chiểu, Sđd.

[10]. Tham khảo thêm: Trần Văn Khê, “Tác phẩm Lục Vân Tiên trong nghệ thuật Việt Nam” (https://tranvankhe-tranquanghai.com/2020/11/26/le-quang-thanh-tam-tac-pham-luc-van-tien-trong-nghe-thuat-viet-nam/).

 [11]. Tham khảo thêm: Lư Thị Thanh Lê (2015) “Kinh nghiệm thế giới và triển vọng xây dựng một công viên giải trí theo chủ đề dựa trên Truyện Kiều của Nguyễn Du”, Di sản văn chương Đại thi hào Nguyễn Du - 250 năm nhìn lại, Nxb KHXH, HN; và: Trần Nho Thìn, “Không gian văn hóa Nguyễn Du và du lịch văn hóa” (http://hatinh.edu.vn/tin-tuc-su-kien/hoat-dong-su-kien/trao-doi-khong-gian-van-hoa-nguyen-du-va-du-lich-van-hoa.html).

[12]. Tham khảo thêm: http://www.lethieunhon.vn/2022/06/danh-nhan-nguyen-inh-chieu-trong-mat.html.

[13] Trần Đình Sử (2002) Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục.

[14]. Nguyễn Q. Thắng (1990) “Nguyễn Đình Chiểu và các bài văn tế”, Tiến trình văn nghệ miền Nam (Trong: Văn học VN nơi miền đất mới, Nxb Tổng hợp An Giang).

[15]. Võ Quốc Việt, https://vanvn.vn/triet-ly-giao-duc-dan-gian-trong-noi-tho-luc-van-tien/

[16]. Trần Ngọc Vương (1998) “Những đặc điểm mang tính quy luật của sự vận động văn học - nhìn nhận qua sáng tác của một tác giả”, Văn học Việt Nam - Dòng riêng giữa nguồn chung, Nxb Giáo dục, HN.


Hà Nội,
1/7/2022

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 227)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 220)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 256)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 289)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 473)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 478)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
08 Tháng Hai 20267:36 CH(Xem: 259)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 494)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
07 Tháng Hai 202610:48 CH(Xem: 553)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 384)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
16 Tháng Tám 2025(Xem: 6972)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13925)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12794)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13337)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 227)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 220)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 256)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 473)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 259)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 553)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2619)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2765)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 482)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 548)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3434)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3845)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 289)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 384)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 501)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2790)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9566)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26032)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32376)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32712)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7337)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9711)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2384)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2399)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2477)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2816)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 5019)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4323)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3955)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5074)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.