- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

MỘT NỮ LƯU XỨ HUẾ VỚI TRUYỆN KIỀU

05 Tháng Bảy 20227:53 CH(Xem: 30585)
bia-doc kieu

MỘT NỮ LƯU XỨ HUẾ VỚI TRUYỆN KIỀU

Hoàng Thị Bích Hà



Truyện Kiều ra đời đã hơn hai thế kỷ của đại thi hào Nguyễn Du đã làm say mê bao trái tim người đọc nhiều thế hệ kể cả trong và ngoài nước. Đã có rất nhiều cây bút phê bình, thưởng lãm hướng đến áng thơ tuyệt tác này. Hãy cùng khám phá tác phẩm vừa mới xuất bản của một nữ lưu xứ Huế – Ninh Giang Thu Cúc – viết về Truyện Kiều có tựa đề Đọc Kiều thương khách viễn phương NXB Văn hóa văn nghệ quý II năm 2019.




Bút danh Ninh Giang Thu Cúc có lẽ đã quen thuộc với bạn đọc miền Nam từ những năm đầu của thập kỷ sáu mươi thuộc thế kỷ XX. Miền đất Sông Hương Núi Ngự đã góp phần nuôi dưỡng hồn thơ, mạch văn của tác giả sinh ra ở đất đất Quy Nhơn, Bình Định. Chị xuất giá theo chồng về Huế, đây là nơi để chị cống hiến hết mình với lao động nghệ thuật, nghiên cứu, biên khảo và sáng tác. Những trang viết của chị đầy lòng nhân ái, khiêm cung của người phụ nữ Huế cùng với tinh thần từ bi của người thấm nhuần triết lý Phật giáo. Chúng tôi gọi chị là “Con nhà Phật”.

Với số lượng tác phẩm đã xuất bản rất phong phú về nhiều thể loại, là những con số biết nói minh chứng cho sự nghiệp cầm bút bằng tất cả lòng nhiệt tình, sự đam mê cháy bỏng với văn chương trong sáu mươi năm cầm bút. Ngay cả khi có vấn đề về sức khỏe như thời điểm hiện tại chị vẫn lao động sáng tạo không ngừng nghỉ. Những bài viết của chị sâu sắc và ý nghĩa, thấm đẫm tình người giàu giá trị nhân văn. Viết – suy cho cùng là một hình thức trao đi sốt sắng chân tình, không vụ lợi. Đằng sau những con chữ “rút ruột như tằm nhả tơ” ấy là cả một tấm lòng bao dung, sẻ chia dành cho đời, cho người với tất cả chân tình, thiết tha ẩn trong sự giản dị, khiêm nhường. Các sáng tác của chị giàu chất trữ tình trong thơ, phong phú súc tích dày dặn trong truyện, tiểu luận phê bình, ngọt ngào tinh tế khi viết tản văn. Những bài thơ viết về các danh nhân lịch sử đã làm cho người đọc bồi hồi xúc động vì tình cảm, sự ngưỡng mộ, biết ơn của hậu thế dành cho các bậc tiền bối. Đặc biệt, những nhận định văn học của chị về Truyện Kiều rất đáng suy ngẫm.

Truyện Kiều ra đời đã hơn hai thế kỷ của đại thi hào Nguyễn Du đã làm say mê bao trái tim người đọc nhiều thế hệ kể cả trong và ngoài nước. Đã có rất nhiều cây bút phê bình, thưởng lãm hướng đến áng thơ tuyệt tác này. Hãy cùng khám phá tác phẩm vừa mới xuất bản của một nữ lưu xứ Huế viết về Truyện Kiều có tựa đề: Đọc Kiều thương khách viễn phương, NXB Văn hóa văn nghệ quý II năm 2019.

Tác phẩm với giọng văn giản dị, dề hiểu rất lôi cuốn, trình bày khúc chiết, mạch lạc, những nhận định rất đáng suy ngẫm với tình thần cầu thị. Đặc biệt đối với truyện Kiều: “Đã từng học và đọc Truyện Kiều đến thuộc lòng bằng tất cả niềm yêu quý với tác phẩm và sự trân quý dành cho đại thi hào Nguyễn Du” .

Theo chị “Truyện Kiều là một sáng tác vĩ đại của Nguyễn Tiên Điền chứ không phải là tác phẩm chuyển thể từ tiểu thuyết văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân có tên gọi là Kim Vân Kiều Truyện. Nguyễn Du chỉ mượn nhân vật, bối cảnh, tình tiết của đất nước Trung Hoa, triều đại nhà Minh để chuyển tải nỗi niềm chìm đắm đau thương tranh giành đoạt lợi tương tàn tương sát của xã hội Việt Nam thời Lê mạt”. Cuốn sách là một ấn phẩm nhỏ xinh dày 280 trang với hai phần trình bày:

Phần 1- Lời ngỏ và những bài viết về Truyện Kiều và sáu bài thơ vịnh các nhân vật trong Truyện Kiều cùng lời kết cho tác phẩm.

Phần 2 : Phần phụ lục “Mấy dòng sử thi” với những bài thơ vịnh về một số danh nhân lịch sử đã có công trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước của dân tộc.

Qua tác phẩm chúng ta thấy tác giả Ninh Giang Thu Cúc tỏ ra rất am tường văn học sử, bối cảnh thời cuộc tác phẩm ra đời, am hiểu lịch sử và văn học qua các thời kỳ. Vì vậy, chị có cái nhìn thấu đáo khi viết về tác giả tác phẩm nói chung và truyện Kiều nói riêng.

Chị đã lao động tận tụy và nghiêm túc để “rút sợi tơ lòng“ cống hiến cho độc giả những nhận định văn học chửng chạc và tâm huyết của một người cầm bút đầy trách nhiệm.

“Tôi đã đến với Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Tiên Điền bằng tất cả niềm quý kính” . Chị đã đọc Kiều suốt bao năm tháng với tấm lòng ngưỡng mộ thi tài. Chị “Muốn làm một cái gì đó để bày tỏ lòng ngưỡng mộ như một nén hương lòng dâng lên người thiên cổ đã để lại cho đời thiên tuyệt bút”.

Bằng những dòng tóm tắt hàm súc, đủ ý chị viết về tác gia: “Nguyễn Du là con trai thứ bảy của xuân quận công Nguyễn Nghiễm và phu nhân Trần Thị Tần – Người phụ nữ mỹ miều xứ Kinh Bắc. Cậu ấm Du sống trong nhung lụa nhưng hạnh phúc không mỉm cười lâu hơn với cậu, vừa lên mười tuổi, nỗi bất hạnh lớn ập đến là thân sinh Nguyễn Nghiễm qua đời và hai năm sau phu nhân Trần Thị Tần cũng theo chồng về thiên cổ, bỏ lại bốn anh em Nguyễn Du côi cút, đành nương tựa vào người anh cả khác mẹ là tả Thị Lang bộ hình kiêm hợp trấn xứ Sơn Tây. Hoạn lộ của người anh Nguyễn Khản gập ghềnh biến động. Tuy vậy Nguyễn Du vẫn được anh cho ăn học tử tế, thi đậu tam trường (tú tài). Nguyễn Du có mối tình đầu với cô thôn nữ đẹp như trăng mười sáu và có giọng hát trong veo như sương mai. Họ yêu nhau nồng nàn”. Những dòng thơ viết khi Kim Kiều hò hẹn:

“Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi
Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song”

Cũng chính là nói về mối tình đầu của Nguyễn Du và cô thôn nữ.

Chị cho rằng 3254 câu lục bát mượt như nhung và thơm hương ngọc lan dịu nhẹ toàn tập là từng khúc ruột mang thương tích trầm kha, nhức nhối của thời đại, của mỗi cá nhân tất nhiên có cả tác gia Truyện Kiều.

Nguyễn Du sinh ra cuối thế kỷ XVIII – thời cuộc đầy biến động. Ông sớm nổi trôi chiêm nghiệm những thăng trầm giông bão của xã hội và cuộc đời riêng. Trải qua những mất mát tang thương của tan vỡ, đổi thay và ly loạn.

Khi ông theo gương cha đem trí lực phụng sự nhà Lê với một chức quan nhỏ thời Lê mạt. Lê triều sụp đổ, ông làm thân bèo dạt mây trôi vì biến thiên của lịch sử khi thì ở quê vợ Thái Bình khi “lẳng lặng phiêu bồng sương khói khắp miền non lĩnh Sông Lam đằng đẳng mười năm ngỏ hầu tìm quên thế sự. Vì vậy có nhiều ức đoán của các nhà nghiên cứu là Đoạn Trường Tân Thanh ra đời trong giai đoạn này. Những ức đoán, khẳng định, phủ quyết về sự ra đời của tác phẩm vẫn còn là một bí ẩn…”.

Ninh Giang Thu Cúc đưa ra những nhận định phủ quyết tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh không thể ra đời trong giai đoạn này: “Những tháng năm bất đắc dĩ phải chơi trò tiêu dao vui thú yên hà ở độ tuổi ngoài ba mươi (36), liệu có hội đủ chất liệu, sự trải nghiệm qua những trò đời đen bạc để viết nên “những điều trông thấy” Dẫu có ít nhiều trải nghiệm nhưng chưa đủ độ chín muồi của dâu bể cuộc đời để viết nên Đoạn Trường Tân Thanh! Chỉ có thể sau khi được nhà Nguyễn mời ra làm quan khi tuổi đã xế chiều với tâm trạng “hàng thần lơ láo”, “khủng hoảng tâm lý, ốm đau bệnh tật”. “ Ba xuân mang bệnh nghèo không thuốc”, rồi chứng kiến những bất cập, mặt trái, hệ lụy của đời sống quan trường “không bệnh mà vẫn phải lom khom” những thương ghét , đố kị dèm pha của người đời ở đâu cũng có, thời nào cũng không tránh khỏi.

Khi đi sứ Trung Hoa, ông đã tìm thăm những di tích lịch sử để khóc thương, quý trọng những nhân vật lịch sử của đất nước Trung Hoa. Cảm thương số phận nhi nữ tài hoa bạc mệnh (“Độc Tiểu Thanh ký”- Nguyễn Du). Tất cả những trải nghiệm thăng trầm của chính cuộc đời mình cùng với những biến cố của thế sự trong và ngoài nước, ông đã tích lũy vốn sống, cảm xúc qua bao nỗi đoạn trường đầy chiêm nghiệm suy tư dồn nén để chắt lọc, lắng đọng, bật ra những trang thơ còn mãi với thời gian. Đi qua hai thế kỷ Truyện Kiều của Nguyễn Du là tiếng nói nhân văn của một tâm hồn nghệ sỹ lớn với tài năng sáng tạo phi thường từ “những điều trông thấy ” Nguyễn Du mới có kiệt tác truyện Kiều để lại một gia tài văn học đồ sộ cho hậu thế.

Vì vậy Truyện Kiều ra đời trong khoảng 1814 là ý kiến đầy thuyết phục. Ninh Giang Thu Cúc đã tìm đọc nhiều tư liệu để mong hé lộ phần nào về thời điểm ra đời của tác phẩm Truyện Kiều: Hoàng Xuân Hãn cho rằng Đoạn trường tân thanh được viết khoảng năm 1814 – 1820 (Theo nguồn gốc văn Kiều – Hoàng Xuân Hãn trang 30 – Hai trăm năm nghiên cứu bàn luận truyện Kiều – Lê Xuân Lít). Tác giả Lê Quế cũng cho rằng Truyện Kiều được viết vào năm 1814 (So sánh dị bản Truyện Kiều , NXB Văn Học 2006) .

Nguyễn Du đã ký thác nỗi niềm của mình hay nói cách khác là chân dung của Nguyễn Du được thể hiện qua bốn nhân vật trong truyện: “Bốn gương mặt, bốn tính cách và những bi kịch của mỗi người cộng lại thành chân dung của Nguyễn Du”: số phận tài hoa mà bị nhiều khổ ải, lên thác xuống ghềnh qua nhân vật Thúy Kiều, hình ảnh một công tử lịch lãm, phong vận thông minh hơn người qua nhân vật Kim Trọng, Tứ Vô Lượng Tâm của nhà Phật qua nhân vật khách viễn phương, thể hiện chí làm trai qua nhân vật Từ Hải. Và, mối tình thuở xuân xanh với cô thôn nữ được tái hiện qua mối tình Kim Kiều.

Tác phẩm Kiều thương khách viễn phương là những dòng cảm xúc rất chân thành của tác giả Ninh Giang Thu Cúc với Truyện Kiều mà hơn hết là đại thi hào Nguyễn Du người đã “tái sinh lại các nhân vật bất tử, điển hình là Thúy Kiều – người phụ nữ tài sắc vẹn toàn…” phải chịu nhiều đày ải trầm luân của kiếp người. Ninh Giang Thu Cúc thương cho nàng Kiều tài hoa bạc mệnh bao nhiêu thì có cái nhìn nghiêm khắc với các nhân vật phản diện bấy nhiêu.

Nói về Hoạn Thư và mối nhân duyên của Hoạn Thư – Thúc Sinh. Tác giả đưa ra những luận điểm, dẫn chứng để phân tích và kết luận là Hoạn thư không phải ghen vì yêu. Bởi vì cuộc hôn nhân này không “Duyên đằng thuận nẻo gió đưa” khi mà không môn đăng hộ đối theo quan điểm thời bấy giờ. Lấy chồng rồi Hoạn Thư không về nhà chồng làm vợ hiền dâu thảo mà vẫn ở trong phủ đệ của nhà mình. Vợ chồng gì mà cả năm mới gặp nhau một lần. Đối với Hoạn Thư, Thúc sinh sợ nhiều hơn yêu. Hoạn Thư luôn tỏ ra thế bề trên đối với Thúc Sinh mặc dù xã hội phong kiến luôn trọng nam khinh nữ. Tác giả Ninh Giang Thu Cúc đặt vấn đề “Không yêu sao lại ghen? Và lý giải ghen để chứng tỏ uy quyền, ghen để thỏa mãn sự chiếm hữu”. Mẹ của Hoạn Thư và Hoạn Thư thay nhau hành hạ Thúy Kiều:

“Trúc côn ra sức đập vào
Thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh”

Và: “Làm cho cho mệt cho mê
Làm cho đau đớn ê chề cho coi”

Nguyễn Du viết: “Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm” nhưng theo Ninh Giang Thu Cúc giọt khóc thầm ấy không chân tình. Gã vẫn chẳng việc gì, tan tiệc vào chung phòng với vợ để Kiều “tựa bóng đèn chong canh dài”. Theo cái nhìn nhân ái của trái tim nữ giới chị cho rằng cả hai người phụ nữ đó đều đáng thương, đều là nạn nhân của kẻ chơi bời, nói ngông, ba hoa: “Trăm điều hãy cứ trông vào một ta” nhưng khi tai họa đến Thúc Sinh phủi tay: “Liệu mà cao chạy xa bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi”. Tinh chất phi trượng phu càng bộc lộ khi được Kiều gọi đến để báo ân, báo oán “Mặt như chàm đổ mình dường dẻ run”

Hoạn Thư là nhân vật phản diện, kẻ đã góp phần làm “cánh hoa Kiều” tan tác hơn, mà Ninh Giang Thu Cúc vẫn có cái nhìn độ lượng: “Sau khi lòng tự tôn đã thỏa, cơn tam bành lục tặc đã được vỗ về yên giấc thì lòng nhân hậu, thiên lương của người đàn bà đã trở về…”. Hoạn Thư cho Kiều ra chép kinh ở quan âm các, giúp đỡ tư trang cho Kiều hộ thân ngầm mở cửa cho Kiều thoát khỏi vòng kiểm soát của nhà họ Hoạn. Đó cũng là “mầm thiện” mà Nguyễn Du đem đến cho Hoạn Thư. Thúc Sinh hèn nhát, bất tài, ăn chơi giá áo túi cơm, động đến việc gì là co vòi thất thủ. Thúc Sinh luôn là người có lợi. Thay vì trách phạt kẻ bạc tình thì được Kiều tặng ”Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân? Tạ lòng để xứng báo ân gọi là“ vừa được chiêm ngưỡng “dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” hơn một năm trời, khi bị lộ, vợ cũng chỉ hành hạ người làm bé. Thúc Sinh chẳng bị gì. Theo Ninh Giang Thu Cúc “Bản chất nhân hậu bao dung luôn là tố chất của đàn bà”.

“Một vài thằng con con sau chân ngựa của Kim Trọng” 

Theo Ninh Giang Thu Cúc trẻ em phải chăm sóc nuôi dạy ăn học, vậy mà chỉ để sai vặt; hầu hạ cho người lớn như pha trà, đấm bóp, ôm tráp, mang vác những vật dụng phục vụ, chạy theo chân ngựa cậu chủ. Ninh Giang Thu Cúc còn nghĩ là chúng đói bụng và khát nước nữa đấy! Thật là một tấm lòng nhân hậu của một nữ giới cầm bút giàu lòng trắc ẩn.

Nói đến tình chị duyên em hay sự hi sinh thầm lặng của Thúy Vân theo đề nghị của chị mình để chắp mối tơ duyên với chàng Kim. Trong khi một số người trước đây cho rằng Thúy Vân hời hợt vô cảm trước biến cố của gia đình. Ninh Giang Thu Cúc tỏ ra không đồng tình với nhà thơ Vương Trọng: “Nhà có chuyện coi như người ngoại cuộc/ Vẫn ăn no ngủ kỹ như không”. Mặc dù “Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai” nhưng Kim Trọng và Thúy Kiều đã chọn nhau ngay cuộc gặp gỡ đầu tiên, rồi hai người đã thề non hẹn biển.

“Sánh vai về chốn thư hiên
Góp lời phong nguyêt nặng nguyền non song”

Nhận người yêu của chị giao cho: “Tôi chắc Thúy Vân cũng chẳng sung sướng gì khi phải chấp nhận một biện pháp tình thế do Thúy Kiều áp đặt”. Kiều bán mình chuộc cha thì Thúy Vân cũng là vật thế thân cho Kim Trọng. Thúy Vân và Kim Trọng không yêu nhau. Hôn nhân mà không dựa trên nền tảng của tình yêu mới thấy khổ tâm biết chừng nào!

“Giấu đầy đêm những khát khao
Kiều ơi em đợi kiếp nào để yêu”
(Trương Nam Hương)

“Lấy người yêu chị làm chồng
Đời em thể thắt một vòng oan khiên”
(Trương Nam Hương)

Ninh Giang Thu Cúc yêu mến và cảm tạ đức hi sinh của Kiều đã đành, tác giả vẫn dành sự quý mến vì đức hi sinh thầm lặng cho đạo nghĩa của Thúy Vân.

Nói về quan chức và Vương đạo (trang 66)

Ninh Giang Thu Cúc chỉ ra rằng trong xã hội quân chủ thời thịnh trị; mọi người thượng tôn pháp luật. Với quan niệm “Sĩ nông công thương” thì trí thức vẫn được đặt lên hàng đầu. Bởi vì họ chăm lo học hành đỗ đạt làm quan phụng sự đất nước, chăm lo hạnh phúc của muôn dân, góp phần làm cho xã hội yên bình. Khi rũ áo từ quan hay hưu quan thì mở trường dạy học truyền con chữ cho thế hệ mai sau.

Các bậc sỹ phu thanh liêm quả là đáng kính, nhưng ở nước ta thời loạn thì sao? Có thể “thượng bất chính hạ tác loạn” vì vậy từ vua quan quân, đâu đâu cũng có tham nhũng bất công. Công lý ở đâu khi chỉ vì lời vu oan giá họa của thằng bán tơ mà đẩy một gia đình thiện lương tan nát. Đồng tiền lên ngôi đổi trắng thay đen “Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền” mọi việc đều có thể giải quyết được nếu có tiền “Tiền lưng đã có việc gì chẳng xong”. Một xã hội từ những kẻ quyền cao chức trọng như quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến không chiêu hàng được Từ Hải một cách đường đường chính chính mà phải dùng mưu ma chước quỷ. Những cửa hàng buôn phấn bán người mọc lên như nấm thì làm gì có “Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Theo Ninh Giang Thu Cúc đây là cụm từ giao đãi, ngụy trang cho sự an toàn của tác phẩm “viết là phải lách” là nỗi khổ tâm của người cầm bút chân chính từ xưa cho đến nay.

Cuối bài chị có câu cảm thán: “Ôi vương đạo biết tìm đâu ?” Đó là điều rất đáng suy ngẫm. Bằng vốn sống trên sáu mươi năm cầm bút và chứng kiến bao biến thiên của lịch sử và thực tế xảy ra trong cuộc sống thường ngày thì tác giả vẫn khẳng định “Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh… tồn tại trong mọi thời đại”. Chúng tôi là kẻ sinh sau đẻ muộn so với tuổi đời của chị, vốn sống chúng tôi chưa nhiều nhưng tôi vẫn khẳng định đó là một đúc kết hoàn toàn có cơ sở.

“Vài vết xước nhỏ trong khối ngọc lớn: Truyện Kiều”

Tác giả nêu ra việc Kiều đã được sư bà Giác Duyên đưa về thảo am:

“Một nhà chung chạ sớm trưa
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng”

Bối cảnh sống chung của sư bà Giác Duyên và Kiều rất yên vui thanh tịnh sao Nguyễn Tiên Điền lại hạ bút bằng từ “chung chạ” e không hợp với văn cảnh chăng? Bởi người ta thường hiểu nghĩa chung chạ dành cho trường hợp xấu, bất minh, thiếu rạch ròi… Theo ngôn ngữ hiện đại thì chị thắc mắc như vậy là hoàn toàn có lý (Xem từ điển Tiếng Việt hiện nay) Nhưng chúng tôi đồng ý với Doãn lê là “Ngôn ngữ là một thực thể linh động, ý nghĩa có thể thay đổi theo thời gian và không gian”. Từ trong những áng văn thơ cổ có một số từ nay đã biến nghĩa. Ví dụ trong cuốn Nhà văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan viết năm 1941 (Hội Nhà văn xuất bản quý IV năm 2000) bài viết về Phạm Quỳnh trang 135;136 “Ông thường dùng bốn chữ nho đi liền một hơi trong một câu: Ví dụ “Vũ hám phong trần” thì nói nôm ngay là “Mưa dập gió lay” có phải vừa thông thường vừa dễ nghe hơn không. Đó là những điều khuyết điểm mà đối với một văn gia nào, người ta cũng có thể tìm ra được. Nó là cái tật của người có duyên nợ với văn chương không lấy gì làm quan hệ”. Vũ Ngọc Phan dùng từ “quan hệ” thì lẽ ra phải dùng từ quan trọng mới đúng theo ngôn ngữ hiện nay. Không chỉ Vũ Ngọc Phan mà tôi còn thấy các nhà nhà văn, thơ đầu thế kỷ hai mươi vẫn dùng với nghĩa như là từ “quan trọng” hiện nay vậy. Như vậy chưa đầy một thế kỷ kể từ khi chữ quốc ngữ ra đời, nay có nhiều từ đã biến nghĩa, được thay thế bằng từ khác có sức biểu đạt chính xác hơn. Vì vậy Truyện Kiều viết cách thời đại chúng ta hơn hai trăm năm thì từ “Chung chạ” có thể vẫn được xem là nghĩa tốt hoặc nghĩa trung tính, tốt xấu tùy ngữ cảnh. Với tài trí như cụ Nguyễn thì không thể có sự thiếu cân nhắc trong việc dùng từ được. Vì vậy tôi cũng đồng ý với ý kiến Doãn Lê là trong lúc chờ đợi các nhà nghiên cứu chúng ta tạm hiểu “chung chạ” theo nghĩa trung tính.

Sự “bề trên” của Hoạn Thư đối với Thúc Sinh cũng không đúng trong xã hội thời ấy. Theo tinh thần nho giáo thì bối cảnh xã hội lúc bấy giờ chị đưa ra thắc mắc ấy là đúng. Nhưng có lẽ “Nguyễn Du đã muốn người Phụ nữ thoát khỏi chế độ gia trưởng phong kiến” (GS Hà Huy Giáp) trọng nam khinh nữ chăng? Thời đó “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” chứ làm gì có chuyện “Cọc đi tìm trâu” Thúy Kiều: “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Quả thật đây là quan niệm mới đầy tính hiện đại. Trai gái yêu nhau, ai tỏ tình trước đều được cả. Câu “tam tòng tứ đức” đã đến lúc không còn phù hợp nữa. Phải chăng Nguyễn Du muồn đòi quyền bình đẳng cho nữ giới. Cuộc hôn phối của Hoạn Thư và Thúc Sinh không môn đăng hộ đối. Hoạn Thư là con của một vị quan quyền còn Thúc Sinh xuất thân tầng lớp buôn bán. Tầng lớp này theo quan niệm “sỹ nông công thương” thì được đặt cuối cùng. Lái buôn muốn quan hệ móc nối với các vị có chức có quyền để dễ dàng trong các phi vụ làm ăn… Đó là mục đích và sự lợi dụng lẫn nhau thời nào cũng có. Hoạn Thư lấy chồng không theo chồng như mọi cô dâu khác. Khi gia đình chồng có tang cũng không về chịu tang: “Tiểu thư trông mặt hỏi tra? Mới về có việc chi mà động dong”, “Sinh rằng hiếu phục vừa xong/ Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên” Rồi Hoạn Thư ban cho thúc sinh lời khen: “Khen rằng hiếu tử đã nên” .Thúc sinh buôn bán làm ăn xa, lại chơi bời vụng trộm bên ngoài . Vậy đối với Hoạn Thư Thúc Sinh xuất thân tầng lớp dưới lại không đáng mặt đàn ông cho lắm. Gã còn có lỗi lớn với vợ nữa nên trước uy thế của gia đình vợ, Thúc Sinh không khỏi sợ hãi…

Ở trang 95 Ninh Giang Thu Cúc nêu: “Một cuộc ân oán mang tính thù hận cá nhân, có gì mà Từ Hải phải quan trọng hóa sự việc và phung phí nhân lực đến vậy: Ba quân chỉ ngọn cờ đào? Đạo ra Vô Tích đạo vào Lâm Truy”. Chúng tôi xin đồng ý với chị.

Còn nhiều điều hấp dẫn trong cuốn sách với những bài phân tích lý thú, sáu bài thơ vịnh về các nhân vật trong truyện Kiều… và những thắc mắc khác. Kính mời bạn đọc hãy đến với Đọc kiều thương khách phương xa của tác giả Ninh Giang Thu Cúc.

Trở lại với chủ đề chính về tác giả Truyện Kiều “Nguyễn Du đã đưa ngôn ngữ Việt nam đến chỗ tuyệt đỉnh siêu việt và tiếng nói việt Nam chính là trường sở linh nghiệm nhất của dân tộc tính, Việt tính. Nguyễn Du không chỉ là một bậc đại thi hào mà còn là một bậc đại hiền triết”. Nguyễn Du xứng đáng là “một trong ba nhà thơ vĩ đại nhất của nhân loại cùng với Hoelderlin và Walt Whitman là ba thiên tài lớn nhất của nền thi ca nhân loại trong hai ngàn năm hoang vu trên mặt đất” (Phạm Công Thiện – Nguyễn Du đại thi hào dân tộc)

Nguyễn Du và truyện Kiều vẫn mãi là ma lực huyền diệu và bí ẩn, hấp dẫn người đọc và nghiên cứu. Càng đi sâu khám phá càng phát hiện ra những điều mới lạ và thú vị. Theo Phạm Công Thiện thì chúng ta “chỉ thấy được sự vĩ đại phi thường của Nguyễn Du khi nào chúng ta đã có khả năng đi vào nơi sâu thẳm của của văn chương và văn hóa thế giới”. Đó là điều mà người đọc và nghiên cứu không ngừng khát khao vươn tới. Chúng ta trân trọng những đóng góp tâm huyết của tác giả Ninh Giang Thu Cúc, gợi mở thêm một hướng tiếp cận tác phẩm giữa người đọc với Truyện Kiều.

Xin cảm ơn chị với “giọt nước mắt muộn màng” của hậu thế dành cho thiên tài Nguyễn Du, góp phần kích thích niềm say mê khai thác thưởng lãm Truyện Kiều của độc giả nhiều thế hệ.

Thành Phố Huế ngày 13/9/2019

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 838)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 646)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1406)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1461)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1254)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1143)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3292)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2100)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3137)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2622)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9917)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16755)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15750)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16182)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1460)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3292)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3137)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3057)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1254)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5258)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7261)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6612)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 838)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 646)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1406)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2622)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2400)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2247)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2448)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2458)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1143)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13601)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29707)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35731)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10825)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12689)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2100)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3137)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3302)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3590)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4136)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7824)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7138)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9958)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.