- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

VĨNH BIỆT HỌA SĨ RỪNG -NGUYỄN TUẤN KHANH

17 Tháng Sáu 20221:25 SA(Xem: 29926)


PHÂN ƯU
Nhận được tin buồn

ha-si-rng-nguyn-tun-khanh-westminster-ca-obituary

Hoạ sĩ Rừng- Nguyễn Tuấn Khanh
(Viết văn với bút hiệu Kinh Dương Vương, làm thơ với bút hiệu Dung Nham)
Sinh ngày 14 tháng 3 năm 1941 tại Nam Vang, Cam-pu-chia
Tạ thế vào ngày 8 tháng 6 năm  2022 tại Nam California, Hoa Kỳ
HƯỞNG THỌ 81 TUỔI

 Xin chân thành chia buồn cùng Tang Quyến.
 Nguyện cầu Hương Linh họa sĩ Rừng – Nguyễn Tuấn Khanh  sớm tiêu diêu nơi cõi vĩnh hằng.
  
Tạp Chí Hợp-Lưu và Văn Thi Hữu
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

-----------------------------


rung 1



CHỊ YẾN

Truyện ngắn Kinh Dương Vương

 

(Kính tặng Thầy Hà Cẩm Tâm)


Thời Pháp thuộc Liên Bang Đông Dương, cha tôi là công chức ngân khố làm việc ở Nam Vang, thủ đô Cao Miên.Tuy làm việc cho Pháp,ông có cảm tình với Việt Minh. Mỗi sáng trước khi đi làm, ông và anh cả tôi vào buồng, đóng kín cửa hát quốc ca, chào cờ đỏ sao vàng. Bị mật thám Pháp theo dõi, biết trước tình thế, nhân lúc có các vụ cáp Duồn của người Cao Miên, ông cho mẹ và hai anh em tôi-em gái và tôi- về tá túc nhà ông bà ngoại ở làng Tịnh Thới, huyện Cao Lãnh tỉnh Sa Dec - nay là Đồng Tháp.

Ông bị Pháp bắt . Nhờ hiệp định Sơ Bộ 6/3, ký giữa Việt Minh và Pháp, có điều khoản trao trả tù chính trị,ông được thả, nhưng phải trở về nguyên quán tỉnh Phú Thọ, Tonkin, (Bắc Việt Nam).

Trên chuyến tàu lửa Xuyên Việt từ Nam Vang về Tonkin, khi tàu ghé ga Sài gòn, Cochinchine (Nam Việt Nam) ông trốn ở lại, rồi tìm đường về Cao Lãnh với mẹ con tôi. Cao lãnh lúc ấy còn là vùng thuộc Pháp,Việt Minh gọi là vùng tạm chiếm.

Cha tôi là người Bắc. Lúc ấy, để chia rẽ Bắc-Trung-Nam, Pháp vận động phong trào "bài Bắc", người Nam nghe ai nói giọng Bắc họ đánh, nên ông không dám hé môi. Muốn mua thức ăn nước uống, ông chỉ ra dấu, như người câm. Ông tìm được đường về với vợ con .

Vẫn giữ tinh thần chống Pháp, ông đưa gia đình vào sống trong vùng tự do-vùng kháng chiến- lúc ấy là Đồng Tháp Mười, thuộc Khu 9 – Long Châu Sa,tức Vĩnh Long,Châu Đốc SaDec. Gia tài của một gia đình hai vợ chồng ba đứa con chỉ chất đầy một chiếc xuồng. Quan trọng nhất là gạo và mấy lít muối hột . Vào Đồng Tháp Mười, gia đình tôi ghé lại xã Ba Sao. Nhờ một người hảo tâm giúp đỡ, cha tôi cất một vuông nhà bên bờ kinh xán, nửa trên bờ nửa dưới nước, cột kèo bằng tre,lợp đưng -một loại cỏ lác phơi khô-làm nơi trú ngụ và mở quán bán thức ăn sinh sống .Quán có tên là "Đoàn Kết", cha tôi có hỗn danh là ông Đoàn Kết . Quán rất nổi tiếng . Cán bộ Khu 9 đi công tác qua Ba Sao đường sông, đường bộ đều ghé quán ăn uống, nghỉ ngơi . Những cán bộ là trí thức thành thị thích gặp và nói chuyện với cha tôi-ông phán chống Tây- trong tinh thần đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu . Chính trên một nền nhà này, cha tôi bốn lần cất lại nhà vì bị quân đội Pháp và lính Việt commando đi ruồng đốt và bom đánh sập. Khi căn nhà cuối cùng bị máy bay bắn cháy, cha tôi không đủ can đảm cất lần thứ năm nữa, ông mua một chiếc ghe có mui sống đời trôi nổi trên kinh rạch. Ba Sao, Mỹ Quí, Mỹ An, Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều …Ông sống với bác Bằng-một ông già, trước là người phụ bán quán ăn- quyết tâm theo kháng chiến đến cùng . Gần đến ngày Tổng phản công, máy bay Pháp bắn phá dữ dội . Mẹ tôi, sau nhiều lần cãi vã và bị cha tôi mắng "liếm gót giày thực dân ăn bơ thừa sữa cặn", bà không chịu nổi cảnh máy bay bắn sớm bắn chiều, rồi đến cả đêm - hồi ấy gọi là "giờ độc lập"- bà đưa chúng tôi ra vùng tạm chiếm ở Cao Lãnh. Lại cũng một chiếc xuồng nhỏ,chờ đêm đến , kín đáo lặng lẽ ra đi trên sông…Chúng tôi bị du kích chặn lại, đòi bắn thả trôi sông . Mẹ tôi năn nỉ, họ để cho đi, nhưng giữ lại gạo và ít thức ăn,một con gà mái đẻ, bảo không được đem tiếp tế cho giặc .

Ba Sao là một xã nhỏ, đường giao thông chủ yếu là con kinh xán đào thông ra sông Tiền Giang- có lẽ là để rửa phèn . Trên bộ là con đường mòn đi theo bờ kinh rộng vài thước, hai bên lề cỏ mọc, mưa xuống đất nhão thành bùn. Ngôi chợ có nhà lồng lợp ngói xi măng, nhưng cuối cùng, sau nhiều lần bị máy bay đánh phá, chỉ còn trơ lại mấy cây cột cháy đen . Mé kinh có cây cầu gỗ bắt xa ra khỏi bờ làm bến cho tàu nhỏ, ghe thuyền đậu. Nước kinh nhiều phèn trong leo lẻo, áo quần giặt lâu ngày đóng vàng Cá chốt dày đặc. Bỏ xuống một chút đồ ăn chúng bu lại trồi lên khỏi mặt nước.Cá chốt có ba sọc đen, nhỏ con gọi là cá chốt chuột, không ai ăn, chỉ để làm phân trồng cây thuốc lá. Vào mùa cá dại, khi độ phèn cao, cá không sống nổi, chết nổi lềnh bềnh đủ thứ cá. Cá rô, cá trê, cá lóc, cá trèn, cá chạch lấu ...tha hồ vớt, ăn không xuể, mẹ tôi tiếc đem làm khô. Đêm trong, cả bầu trời trăng sao in trong lòng kinh. Tôi còn thuộc bài hát "Con kinh xanh xanh những chiều êm ả nước trôi . . ." Tôi hay ra đứng bên bờ kinh ngắm bầu trời trong nước. Mỗi khi có ghe thương hồ đi qua với giọng hò lơ đối đáp . . .Bầu trời tan ra, nước rẽ sau ghe để lại một vệt sáng dài .

Xã Ba Sao có một người đàn bà điên người Bắc . Bà xé hết áo quần, trần truồng đi từ đầu trên xuống xóm dưới với dáng đi rất lạ, bước dài, hai tay vung vẩy. Với mái tóc húi cua, răng nhuộm đen, bà nói lảm nhảm, khi cười, khi khóc, la hét suốt ngày .Bà là người đàn bà đầu tiên tôi thấy trong tư thế khoả thân .Đối với tôi, cậu bé tám tuổi là một sự kiện gây nhiều ấn tượng .Tôi tò mò quan sát cặp vú xệ, núm đen, bộ phận sinh dục lông lơ thơ của bà, hoàn toàn không xúc động, nếu không muốn nói là có một cảm giác rờn rợn.

Chồng bà là một cán bộ thông tin xã. Tôi không biết tên ông, chỉ nghe gọi là "ông cán bộ". Ông khoảng năm mươi tuổi, tóc hoa râm hớt cao, răng nhuộm đen .Trước đây là phu đồn điền cao su Pháp .Ông mặc áo bà ba vải trắng hiệu Xe lửa đã nhuộm bùn non. Lúc nào đến quán cha tôi ông cũng đội chiếc mũ lưỡi trai bộ đội, mang sắc cốt màu vàng ka ki đã cũ. Một hôm ông đến đúng lúc cha tôi đang xẻ bưởi .Trái bưởi to bằng đầu tôi, ông Bảy hàng xóm vừa mới cho. Trong khi cha tôi tách múi bưởi, ông hỏi xin chiếc vỏ. Cha tôi hỏi để làm gì, ông nói ông ăn. Cha tôi hơi ngac nhiên, nhưng đồng ý. Ông bẻ vỏ bưởi, cắn từng miếng, nhai nuốt ngon lành, khen "ngon đáo để". Ông kể rằng tuổi thơ nhà nghèo, ông không được ăn bưởi. Ông thèm. Khi có ai xẻ bưởi ông xin vỏ để ăn. Lâu dần, vỏ bưởi trở thành một món ăn ngon đối với ông. Tôi nhìn ông ăn bằng cặp mắt hiếu kỳ, có hơi thương hại. Ông vừa nhai, nhìn lại tôi cười hồn nhiên. Loáng cái ông đã ăn sạch chiếc vỏ bưởi to. Cha tôi kín đáo nhìn ông, cố lấy vẻ thản nhiên dấu nỗi cảm động. Cha tôi mời ông ăn bưởi, ông vui vẻ ăn, khen "ngon quá, cực ngon". Tôi để ý thấy ông không nhai, chỉ cho bưởi vào miệng, hình như trong cổ họng có một sức hút, bưởi trôi tuột vào ngay . "Ngon quá" thì tôi có nghe, nhưng "cực ngon" thì mới nghe lần đầu. Cha tôi và tôi cũng ăn, nhưng tôi thấy cha tôi chỉ ăn lấy lệ, cố tình nhường cho ông. Còn tôi nhìn ông ăn cũng cảm thấy ngon rồi. Ông bỏ hột bưởi xuống bàn nói "làm mồi câu cá tốt lắm đây". Tôi học ông thêm một chuyện . Ông đã ăn hết luôn trái bưởi .Ông xin một tách trà. Ông uống nhanh, đứng lên vỗ bụng nói "no quá, lâu lắm mới được chén một bữa". Ông cám ơn rồi ra về .Tôi nhìn theo ông, dáng ông đi chậm chạp, nặng nề .Lúc ấy tôi mới nhớ ra, ông đã ăn tiêu tan một trò chơi của tôi. Tôi hay lấy vỏ bưởi bóp với vôi, vắt lấy nước để đông lại như thạch, chơi trò mua bán.

Ông có một cô con gái khỏang mười lăm, mười sáu tuổi, tôi gọi là chị Yến .Chị ở một mình làm ruộng trong đồng xa , thỉnh thoảng mới bơi xuồng ra xã bán vài con vịt chị nuôi, lấy tiền đi chợ . Mỗi lần như thế, chị ghé quán cho tôi vài mẩu kẹo đậu phọng làm bằng đường đen. Chị rất thương tôi, tôi cũng thương chị. Chị Yến rất đẹp. Thân hình nẩy nở cân đối. Mặt trái xoan trắng hồng, môi đỏ thắm với hàm răng trắng đều, khi chị cười mắt sáng lấp lánh, cả khuôn mặt chị sáng lên rạng rỡ. Tóc chị hơi hoe vàng-chắc vì dang nắng nhiều- Cha tôi có lần nói đùa xin bố chị cho chị về làm con dâu. Anh cả tôi lớn hơn chị vài tuổi, cùng tên với chị. Chị cười thẹn, đỏ mặt bỏ chạy. Tôi bỗng nhiên cảm thấy buồn buồn.

Chị Yến ở một mình trong căn chòi mà chung quanh chị phải cách xa hàng chục cây số mới có làng xóm, con người. Nhiều ngày, tháng, chị không có ai để nói tiếng người, ngoài vài lời với mấy con vịt chị nuôi. Căn chòi của chị Yến tôi chưa lần nào đến, nhưng tôi hình dung ra được, vì có lần tôi ở với ông ngoại cũng làm ruộng trong đồng xa như chị. Căn chòi đươc dựng trên một mô đất -thường là gò mối- cao hơn mặt nước chừng bốn năm tấc, bằng mấy thanh tre, lợp đưng. Nhìn xa, căn chòi như nổi trên mặt nước. Trong chòi kê một chiếc giường tre ọp ẹp. Bếp là ba ông táo bằng đất, dụng cụ nấu ăn là vài chiếc nồi đất nung để nấu cơm, kho cá, nấu canh . Phương tiện đi lại duy nhất là chiếc xuồng nhỏ. Nước cạn chống bằng sào, nước sâu bơi bằng dầm . Đồng Tháp Mười rộng mênh mông, mùa nước trông như biển .Đứng từ trong chòi hay trên xuồng, nhìn ra chung quanh, thấy chân trời vây như một chiếc chén úp . Con người sống heo hút, biệt lập chìm lỉm trong bao la đất trời . Chị Yến sống như thế từ năm này qua năm khác, làm ruộng nuôi gia đình .

Chị Yến còn một đứa em trai, bằng tuổi tôi .Tôi không biết nó tên gì, chỉ nghe mọi người goi nó là "thằng Cu".Có lẽ thằng Cu là người bạn đầu tiên của tôi ở Ba Sao . Đầu nó cũng húi cua như mẹ nó - bà điên. Quanh năm suốt tháng nó chỉ mặc một cái áo hở rốn, không thể gọi màu gì, vá miếng này chồng lên miếng khác. Chưa bao giờ tôi thấy nó mặc quần. Tôi hay chơi với nó và thương nó với một chút lòng thương hại Tôi không biết nhà nó ở đâu, cũng không đi tìm, chỉ gặp khi nó đến nhà tôi hoặc lang thang ngoài đường. Nó là một đứa trẻ cô độc và cả cô đơn nhất thế giới, đối với tôi . Mẹ điên, chị làm ruộng xa, cha cán bộ đi công tác liên miên. Tôi không biết nó lấy gì ăn mà vẫn sống được. Thỉnh thoảng tôi chia với nó miếng kẹo, khúc mía, trái ổi. Khi nó đến mà tôi bận phụ cha tiếp khách, tôi thấy nó ngồi bẹp xuống đất mân mê cu nó, như một trò giải trí buồn tẻ. Một hôm nó rủ tôi ra bờ kinh chơi trò ném thia lia. Sau khi ném mỏi tay, nó bày tôi chơi trò đá cu. Nó đứng hơi ưỡn người, lộn cu nó ra một cách thành thạo-tôi nghĩ nó đã làm nhiều lần-tôi thấy đầu cu nó đỏ hồng, bóng loáng . Nó bảo tôi làm .Tôi cố gắng, nhưng đau quá không chịu nổi. Tôi chưa làm như vậy bao giờ. Cuối cùng nó nói "thôi cũng được" và bước đến gần tôi. Nó quẹt cu nó vào cu tôi. Cu nó cứng, cu tôi mềm.Tôi cảm thấy nhột nhột. Lần đầu tiên một cảm giác lạ rân rân thể xác tôi tiếp nhận .

Một buổi sáng sớm nước kinh lớn, sóng đánh dập dồn. Tôi chuẩn bị chống cửa quán lên đón khách, tôi nghe nhốn nháo tiếng những người đi chợ cột ghe xuồng vào cầu gỗ la lên "thằng chõng, thằng chõng, bà con ơi!" Người ta đổ đến xem. Tôi len lỏi ra tận đầu cầu để nhìn cho rõ.Thằng chõng là xác chết sình căng tròn của một cô gái.Cô còn mặc một chiếc áo bà ba màu đen, nhưng không có quần. Nước lớn, cái xác sình trôi từ trong đồng ra kinh để tìm đường ra sông cái. Thằng chõng kẹt vào giữa hai cột cầu, sóng đánh dập dềnh lên xuống. Người ta lật ngửa thằng chõng lại, nhiều tiếng người la lên cùng lúc: "Con Yến! con Yến!". "Trời ơi!Con ông cán bộ" . Tôi nhìn kỹ lại thằng chõng, thấy lộ dần ra dáng dấp chị Yến. Tôi ôm mặt khóc rưng rức, bỏ chạy về nhà . Tôi đi tìm thằng Cu, kéo nó ra coi thằng chõng là chị nó, nhưng nó không chịu đi. Nó chỉ đứng xa xa nhìn, mặt nó trơ ra không cảm xúc, nhưng nét mặt nó có một vẻ gì khác lạ, như sự cố gắng chịu đựng. Tôi bỗng thấy nó lớn lên, mặc dù nó vẫn ở truồng . Rồi nó ngoe ngoảy bỏ đi một cách dứt khoát . Tôi muốn chạy theo, nhưng chân tôi không nhúc nhích. Tôi đứng tại chỗ nhìn cái đít tóp không có thịt của nó xa dần.

Giữa lúc người ta đang xôn xao bàn tính vớt thằng chõng lên, bỗng nghe một tiếng hét khản đặc trộn với tiếng khóc vang lên. Từ xa, bà điên trần truồng từ trên bờ lao xuống chiếc cầu gỗ. Người ta dạt ra nhường chỗ cho bà. Cảnh tượng một người đàn bà đầu trọc, trần truồng đứng nhìn chăm chăm vào thằng chõng với đôi mắt khô thất thần, miệng móm, lơ thơ mấy chiếc răng, môi run run phát ra những tiếng ư ử lạ tai, không biết đó có phải là tiếng khóc của một người mẹ điên khóc con hay không? Rồi bất ngờ, bà nhảy xuống nước, ôm chặt thằng chõng, khó khăn lắm người ta mới gỡ được bà ra .

11.Cha tôi, ông cán bộ và bà con vớt xác chị Yến lên, bó chiếu đem chôn trong gò mả xã Ba Sao .

Khi mọi người đã ra về rồi thằng Cu rủ tôi thăm mả chị nó. Khi đến nơi, chúng tôi thấy bà điên đang ôm nấm mộ mới đất còn ướt, mình mẩy lấm lem. Nó đứng chết trân nhìn cảnh tượng người đàn bà điên là mẹ nó với hai con mắt ráo hoảnh, trong khi người đàn bà điên vật vã, đầu gục gặc, tay vỗ lên nấm mồ đất ướt đồm độp . Hu hu! Hu hu! Bà đã khóc được thành tiếng. "Hu hu", đã rõ là tiếng khóc của một con người! Bỗng thằng Cu quay lại ôm chặt tôi, úp mặt vào vai tôi khóc rấm rức . Tiếng khóc của nó rất lạ, như một đoạn nhạc có âm điệu đứt quãng, lập đi lập lại. Những tiếng hừ hứ… hừ hứ không thoát ra khỏi cổ họng nó làm cho ruột gan tôi cuộn lên. Bất ngờ, nó xô tôi ra, quay lại, hai tay chắp sau chiếc mông tóp, thong thả bước đi. Tôi nhìn theo nó, thấy nó lớn hẳn lên, không còn là "Thằng Cu" nữa . Bà điên khóc một hồi, bỏ đi. Còn tôi, đứng nhìn nấm mộ, nghĩ rằng từ nay tôi không bao giờ còn thấy chị Yến nữa, chị không về vuốt tóc tôi, cho tôi kẹo nữa. Người ta đã hãm hiếp chị, giết chị, thả xác chị xuống nước. Nghĩ đến cảnh ấy, bụng tôi đau thắt lại.

"Chị Yến . . ơ. . . ơi! Chị Yến ơ . . .ơ . . .ơ . . ."Tôi gào lên . Tôi muốn gào lên cho trời nghe, đất nghe . Giọng tôi âm vang trong khu gò mả đã đầy bóng tối. Tôi gào lên, nước mắt chảy ràn rụa . "Chị Yến ơ . . .ơ . . .ơ . . . "

KINH DƯƠNG VƯƠNG
6/2007

 



 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1211)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 1063)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 1056)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1539)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 2099)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1866)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 1977)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 1945)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 1237)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 2092)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7562)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14612)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13459)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14000)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1539)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1865)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 1977)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 1945)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
(Xem: 1063)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2099)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1471)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 1911)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1211)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 1990)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 2624)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 4257)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
28 Tháng Hai 2026(Xem: 1056)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1236)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 1661)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2170)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10124)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26637)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33236)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33263)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7881)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10321)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1539)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3284)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3200)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3112)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3462)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4869)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4458)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5767)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.