- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CHỊ ƠIII…

14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 35077)

thieu nu - NguyenVanLuu
Tranh Nguyễn Văn Lưu
                                 

Truyện ngắn

Trần Thanh Cảnh

Chị ơiii…

 

 

     A Giắng, mười sáu tuổi, ở trên núi mới xuống làm thuê.

     Giắng đi làm công nhật ở công ty nhựa Đài Loan trong khu công nghiệp. Khuân vác. Hết ngày tính tiền. Mỗi ngày 200K và một bữa cơm trưa, cũng ổn. Thuê nhà trong xóm trọ, bốn thằng một phòng hết 900K mỗi người, điện nước tính riêng. Sáng ăn hai bánh mì tôm khỏa thân, nêm chút bột canh. Tối nấu cơm ăn chung no kềnh cũng chỉ hết 20K một người. Giắng nhẩm trong bụng, công việc cứ đều, hết tháng cũng có một món gửi về cho bố đong gạo nuôi em. Bố Giắng ở nhà còn hai em nhỏ, một lên 9 một 13. Mế Giắng bỏ nhà đi đâu từ lúc em bé chập chững biết đi. Đi đâu không rõ. Một sáng thức dậy, thấy bố ngồi góc bếp uống rượu xuông, bảo, mế mày đi mất rồi…

     Lúa, ngô, khoai, sắn đắp đổi, rồi Giắng cũng lớn. Chỉ mỗi tội nghèo. Không quần áo mới, không xe máy, điện thoại như lũ trai trong bản. Bọn ấy bảo: “Về xuôi đi làm thuê ở khu công nghiệp, dễ tiền mà!”. Thế là Giắng theo lũ bạn về xuôi.

      Giắng không biết chữ nào, cái chữ của người xuôi ấy. Nếu biết chữ, Giắng đã xin vào được làm công nhân chính thức, có đồng phục, oách hơn. Và quan trong là nhiều lương hơn. Khu công nghiệp ven đô nơi Giắng làm thuê thiếu công nhân lắm, nên Giắng cũng chả nghĩ ngợi thêm gì nữa, cứ đi làm thôi. Nay chỗ này hết việc thì sang chỗ khác, thiếu gì đâu. Giắng khỏe, làm việc gì chả được, phụ hồ, bốc xếp, đẩy xe cút kít dọn phế liệu, làm tất. Có tiền là làm mà. Ngày đi làm, tối về xóm trọ ăn no rồi lăn ra ngủ. Từ hôm xuống đây Giắng chưa ra khỏi dãy phòng trọ lúc nào ngoài những khi đi làm. Chị chủ nhà trọ bảo: “Chúng mày chú ý xem nó có bị làm sao không, thằng ấy chẳng nói cũng chẳng đi chơi đâu, thanh niên gì mà lạ vậy?”

***

      Chị chủ nhà trọ năm nay ba mươi tám tuổi. Hai con, một gái mười hai, một trai chưa đầy hai tuổi. Mẹ đơn thân. Là Giắng nghe bọn cùng phòng nói thế chứ không hiểu đơn thân là gì. Nhẽ cũng như bố Giắng trên núi, một mình nuôi ba anh em chắc cũng là đơn thân. Hôm đầu tiên theo mấy anh xuống trọ, lên nhà đưa cho chị ấy cái bản phô tô chứng minh nhân dân, chị nhìn Giắng mãi. Khen Giắng khỏe mạnh. Bảo, xuống đây ít lâu uống nước máy ngủ quạt điện sẽ kẻng trai ra ngay. Giắng cũng chả hiểu kẻng trai là thế nào. Nhưng chị ấy vừa nói, vừa cười tít mắt, cái bộ ngực đang cho con bú sau mỗi lần vải áo phông mỏng tang cứ rung rinh dập dềnh. Sữa thấm ướt áo, hằn rõ cả hai cái đầu ti nâu nâu. Giắng thấy trong người như có kiến đốt, vội lủi nhanh về phòng.

      Nhà chị chủ ngoài rìa cuối làng đất rộng. Xưa chả ai thèm để ý đến mảnh đất toàn thùng vũng ấy. Thế nhưng đến khi nhà nước về lấy ráo cả cánh đồng làm khu công nghiệp, đất nhà chị chủ bỗng thành ra mặt tiền, được giá. Chị bán bớt một nửa, lấy tiền xây cái nhà tầng mấy mẹ con ở cho mát, còn lại xây quây ít phòng trọ cho công nhân thuê, lại mở thêm cái quán bán hàng tạp hóa ở cổng nữa, cũng tốt tiền.

       Có điều, nhà chỉ có đàn bà trẻ nhỏ mà đồ đạc lại rất hay bị hỏng. Toàn hỏng vào ban đêm. Mà chị chẳng biết sửa chữa là gì. Nên chị gọi alo cho ba tay công nhân cùng phòng với Giắng lên chữa hộ. Hôm thì: “Mìn ơi, lên hộ cái bóng đèn”. Lúc lại: “Lù ơi lên hộ cái van nước”. Hôm khác: “Phủ ơi, lên chữa cho cái công tắc”.

      Ba tay trai trẻ khỏe như ngựa núi, mà cứ lên trên nhà chị chủ “chữa đồ” một thôi là về ngủ lăn như chết, xều bọt mép, ngáy như sấm.

      Giắng lấy làm lạ, hỏi:  “Các anh toàn có tay nghề, sửa chữa gì mà vất vả hơn cả đi làm ca về, lăn lóc như đá trên nương vậy?”

      Ba tay ấy cười sằng sặc, bảo: “Thế A Giắng chưa biết sửa đồ “điện nước” cho phụ nữ à? Có muốn không bọn tao bảo chị chủ gọi. Sửa đồ “điện nước” này mệt lắm vớ! Cái bọn người Kinh nó bảo mệt hơn xúc mười tấn than vớ! Giắng có muốn đi xúc than không?”

     “Nhà chị chủ có đun than đâu mà xúc?”

       Ba tên ấy lăn ra sàn nhà cười. Cười chán rồi bảo nhau: “Thằng này nó còn trai trinh chúng mày ạ.” Rồi hỏi Giắng:

     “Ở núi, phiên chợ mày đã biết đi vỗ mông con gái chưa?”

      Ô. Cái này thì Giắng biết. Năm mười ba tuổi, bọn bạn cùng lứa trong bản rủ Giắng xuống chợ phiên, vỗ mông gái. Chả là cái tục “bắt vợ” trên quê Giắng vẫn còn. Mùa xuân phiên chợ trai gái xuống gặp nhau, uống rượu múa khèn. Con trai nhìn con gái. Con gái liếc con trai. Thích mắt cô nào bèn vỗ vào mông một cái, nàng kia tỏ vẻ đồng tình là kéo nhau vào rừng rồi bắt về làm vợ thôi. Định đến vỗ mông nó gạt tay ra, nguẩy đít đi chỗ khác là không được rồi…

      Giắng đi loăng quăng xem bọn bạn rình vỗ mông gái bản một buổi, chưa dám vỗ mông cô nào. Về nhà bố bảo: “Nhà ta không có gì ăn, chẳng đứa con gái nào nó cho vỗ mông đâu. Mế mày tao cướp về đây đẻ ba đứa rồi cũng lại chìa mông cho thằng khác vỗ, bỏ theo nó luôn đấy. Đợi lớn lên đi làm có tiền rồi muốn vỗ mông đứa nào cũng được mà.”

     Thế là Giắng chẳng đi theo bọn bạn rình vỗ mông gái bản nữa. Ở trên núi làm mải mê cả ngày. Nhưng cứ làm từ ngày này sang tháng khác cũng chẳng có tiền. Chỉ được tí lúa ngô khoai sắn tạm no bụng với rau rừng.

     Giắng về xuôi đi làm kiếm tiền. Thấy nhiều cái lạ. Trai gái đi “vỗ mông” nhau lại bảo là đi “xúc than”, “đóng gạch”. Mà một mình chị chủ lại cho cả mấy thằng “vỗ mông” là sao”? Trên núi chỉ cho một người thôi. Gái nào đã cho trai nào vỗ mông là không cho trai khác vỗ vào đâu. Cố vỗ có khi ăn nhát dao quắm đấy. Ba thằng trai cùng phòng bảo, chúng tao đi “xúc than đóng gạch” hộ chị chủ thôi. Chị ấy buồn, kêu ngứa. Mà bọn tao cũng cần xả ra. Bọn người Kinh nó bảo thế là hai bên cùng vui ấy mà, chả bên nào mất gì, giúp đỡ nhau thôi. Thỉnh thoảng có rau quả tươi, đồ ăn ngon chị chủ còn cho thêm phòng, Giắng cũng được ăn ngon. Thấy chị chủ tốt tốt là. Cơ mà Giắng không thích “xúc than đóng gạch” như ba tay kia, kệ thôi.

     Giắng chỉ muốn được đi làm công nhân công ty như Mìn, Lù, Phủ để có nhiều tiền hơn gửi về cho bố đong gạo nuôi em.

     Ba tay ấy lại bảo: “Thôi mày cứ chịu khó làm công nhật, thỉnh thoảng bọn tao dạy cho cách đứng máy, lúc nào thành thạo thì xin quản lý cho vào làm chính thức vậy”.

***

     Đang như thế thì bỗng có lệnh phong tỏa. Vì Covid. Nội bất xuất ngoại bất nhập. Ba tay cùng phòng phải mang quần áo chăn màn sang công ty “3 tại chỗ”, vừa sản xuất vừa đề phòng dịch bệnh lây lan. Phòng còn mỗi mình Giắng nằm co. Không được phép đi đâu. Nhà cách ly với nhà. Phòng cách ly với phòng. Người cách ly với người. Cái con Covid này kinh lắm, hơn cả ma xó ma gà ma rừng. Nó bóp cổ mổ hầu rạch họng người ta chết đấy. Sợ lắm. Loa oang oang suốt ngày ở đầu xóm chĩa vào: “Cách ly tuyệt đối. Tuân thủ 5K. Không đi ra ngoài khi không cần thiết”. Một tuần, hai tuần rồi cả tháng cách ly chưa biết đến khi nào xong. Giắng cứ nằm bẹp trong phòng thôi. Không có điện thoại nên cũng chẳng gọi về cho bố được. Ít gạo mắm, mì tôm mua chung ăn hết. Có ít tiền để dành định gửi về nhà ra hàng chị chủ mua gạo mắm, ăn cũng hết rồi. Không được đi làm, không có tiền chẳng mua được gì ăn. Mấy ngày nay đứt bữa, uống nước lã nằm dán bụng xuống chiếu sôi òng ọc, đau quặn vì đói. Giắng nằm chập chờn, chợt thấy như có mùi mùi sắn luộc tỏa hơi nóng thơm nức đâu đây. Mở mắt ra nhìn, hình như góc nhà có nồi sắn đang tỏa khói. Cố vùng dậy đi ra chỗ nồi sắn đang bồng bềnh trước mắt mà không dựng người lên nổi. Không cả đưa tay ra với được nữa kia. Giắng yếu quá rồi. Giắng chìm vào cõi mù mờ…

      Tiếng loa oang oang đầu xóm chĩa vào: “Mời các công nhân mất việc, không lương ra trụ sở lĩnh quà cứu trợ của các nhà từ thiện…”

      Loa chói vào tận phòng, nhưng Giắng chẳng dậy nổi nữa. Giắng thiếp đi mê man chới với bay theo nồi sắn luộc đang tỏa khói mịt mờ. Trong giấc mơ, Giắng cứ với tay, với mãi, với mãi mà không vớ được củ sắn nào cho vào cái miệng đang đắng khô vì đói khát. Giắng bật lên tiếng khóc gọi, “Mế ơi…”

***

      Chị chủ nhà đứng ở trên tầng hai gào to tướng: “Còn đứa nào ở nhà thì mau ra trụ sở lĩnh gạo, mắm về ăn kìa!”

      Các phòng có người lục tục khẩu trang rồi kéo nhau đi. Hân hoan vác gạo mắm, bột ngọt, đồ khô về. Thế này cũng chống chọi được cả tháng nữa. Vãn dịch có việc đi làm là lại ổn ngay.

      Cửa phòng Giắng vẫn cứ đóng im ỉm.

Chị chủ dóng dả: “Quái cái thằng này không biết dậy mà đi nhận đồ cứu trợ. Mà đã lâu không thấy mặt nó đâu. Hay là làm sao rồi?”

Chị tong tả chạy xuống phòng Giắng. Gõ. Không thấy động tĩnh gì. Đẩy cửa xông vào. A Giắng nằm thiêm thiếp trên chiếc giường cá nhân, mắt nhắm nghiền, mặt tái xanh. Chị chủ cúi xuống ôm đầu lay gọi: “Giắng ơi, Giắng ơi…”

     Ú ớ…

     Mế mế ê ê…

Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện…

      Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”

      ***

       Sau đận ấy, chị chủ tuyên bố với cả xóm trọ nhận Giắng làm em nuôi.

Chị xếp cho Giắng một phòng riêng trên gác. Ăn ở cùng mẹ con chị. Chị bảo Giắng: “Đi làm được bao nhiêu tiền, cứ gửi hết về trên núi cho bố. Còn ăn ở dưới này chị nuôi.”

Xóm trọ cũng chẳng ai nói gì, vì ai cũng bận tối mắt, đi làm, tăng ca… về phòng ăn uống tắm giặt rồi lăn ra ngủ vùi lấy sức mai lại đi làm tăng ca, hơi đâu mà để ý chuyện xung quanh.

Cơ mà ba tay Mìn, Lù, Phủ có hơi hậm hực. Nói vụng trong phòng với nhau: “Nuôi để thịt chứ gì?”. Chả là từ lúc nhận Giắng làm em nuôi, chị chủ không thấy gọi điện ban đêm lên sửa điện nước hộ nữa. Ba tay ấy ấm ách. Chị chủ biết. Nhưng cứ lờ đi coi như không có chuyện gì. Còn Giắng cũng bị bọn Mìn, Lù, Phủ thỉnh thoảng vẫn nói kháy, cơ mà Giắng chả hiểu mấy đâu. Mà Giắng đang vui, người đẹp đẽ nở nang hẳn ra, lớn bổng lên. Quần áo cũ mang từ trên núi xuống phải bỏ đi hết. Chị mua về cho toàn đồ xịn, quần bò áo phông Adidas, mặc vào trông như diễn viên điện ảnh. Bọn Mìn, Lù, Phủ lại bảo, mùa xuân này về núi đi vỗ mông được gái cả bản đấy vớ…

      Nhưng Giắng chẳng muốn về núi nữa.

Giắng ở xuôi làm ra tiền gửi về cho bố mua gạo nuôi em thôi. Còn chị nuôi chăm Giắng lắm. Kể từ hôm được chị cứu sống bằng hai bầu sữa, Giắng đâm ra nghiện cái món đó. Đêm đầu tiên lên ở nhà trên, Giắng hơi khó ngủ. Vật vã mãi. Bỗng cửa mở, chị đi vào. Hỏi:

    “Giắng chưa ngủ à?”

Giắng mở mắt thao láo nhìn chị. Mỗi cái váy ngủ mỏng tang, bộ ngực căng sữa cứ rung rinh, rung rinh. Giắng lại thấy cổ họng khát khô, miệng đắng ngắt. Thốt nhiên thấy thèm sữa. Giắng lào phào:

     “Chị ơi…”

Chị chủ với tay tắt nốt bóng đèn ngủ. Vén màn luồn vào.

     “Em bé bú không hết sữa, Giắng hộ chị…”

Chị tuột luôn cái váy ngủ qua đầu. Trần truồng. Thỗn thện. Sáng lóa trong đêm. Chị kéo đầu Giắng vục vào ngực mình. Mút. Nắn. Bóp. Những tia sữa ngọt ngào thơm nức ngấm vào từng thớ thịt Giắng. Nó như dòng nước thần tức khắc làm Giắng lớn lên. Thành đàn ông. Da thịt nở nang căng nhức. Trong đêm, không biết tại sao cái quần đùi Giắng mặc đi ngủ tuột ra tự lúc nào. Tự tuột hay chị lột, không biết. Chỉ thấy thốt nhiên trần truồng nóng hổi. Bộ ngực đàn bà đang nuôi con nhỏ nồng nàn, căng nức, thơm phức. Sữa nhễ nhại tràn trề mồm miệng mặt Giắng. Giắng mê đi. Chị cũng mê đi. Rồi bỗng chị hức lên một tiếng ôm ghì, vật người Giắng lên trên. Quặp chặt. Hổn hển nói bú đi, bóp đi, vò đi, mạnh vào…

Giắng mút chùn chụt. Thân hình trai trẻ của Giắng trùm lên chị. Cặp vú to thơm nức hương sữa bồng bềnh bên dưới. Cặp đùi mịn màng nóng hổi của chị cong lên lựa thế. Có một cái gì lạ lẫm êm êm, ấm áp, mơn trớn, dịu dàng vuốt ve. Cái phần đàn ông của Giắng thốt nhiên bị cái đàn bà của chị hút trôi tuột vào trong. Giắng vô thức dấn theo. Chị rên lên khe khẽ: “Ôi sướng quá Giắng ơi…”

Giắng ôm chặt siết mạnh, sữa từ hai bầu vú phun thành tia chan hòa trắng lóa ngực, mặt cả hai. Thơm nồng. Giắng mê man trong cảm giác của thằng trai lần đầu tiên vào đời. Bất thần nổ tung. Giắng gào lên trong hoang dại: “Chị ơiiii…”


TRẦN THANH CẢNH   
8/2021  
 

 

 

 

 

 

  

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 1739)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1381)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1291)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2147)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1708)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2295)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1671)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2008)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2168)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 2359)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1671)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11604)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18193)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17255)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2147)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2295)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 3458)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 3595)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 1708)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3192)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2979)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 3616)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 1739)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2008)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2168)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2398)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1381)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1291)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2359)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2973)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3902)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14765)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30911)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37462)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12630)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13895)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 4815)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7119)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6375)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6852)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 7703)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9591)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8813)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11756)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.