- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CHỊ ƠIII…

14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 33701)

thieu nu - NguyenVanLuu
Tranh Nguyễn Văn Lưu
                                 

Truyện ngắn

Trần Thanh Cảnh

Chị ơiii…

 

 

     A Giắng, mười sáu tuổi, ở trên núi mới xuống làm thuê.

     Giắng đi làm công nhật ở công ty nhựa Đài Loan trong khu công nghiệp. Khuân vác. Hết ngày tính tiền. Mỗi ngày 200K và một bữa cơm trưa, cũng ổn. Thuê nhà trong xóm trọ, bốn thằng một phòng hết 900K mỗi người, điện nước tính riêng. Sáng ăn hai bánh mì tôm khỏa thân, nêm chút bột canh. Tối nấu cơm ăn chung no kềnh cũng chỉ hết 20K một người. Giắng nhẩm trong bụng, công việc cứ đều, hết tháng cũng có một món gửi về cho bố đong gạo nuôi em. Bố Giắng ở nhà còn hai em nhỏ, một lên 9 một 13. Mế Giắng bỏ nhà đi đâu từ lúc em bé chập chững biết đi. Đi đâu không rõ. Một sáng thức dậy, thấy bố ngồi góc bếp uống rượu xuông, bảo, mế mày đi mất rồi…

     Lúa, ngô, khoai, sắn đắp đổi, rồi Giắng cũng lớn. Chỉ mỗi tội nghèo. Không quần áo mới, không xe máy, điện thoại như lũ trai trong bản. Bọn ấy bảo: “Về xuôi đi làm thuê ở khu công nghiệp, dễ tiền mà!”. Thế là Giắng theo lũ bạn về xuôi.

      Giắng không biết chữ nào, cái chữ của người xuôi ấy. Nếu biết chữ, Giắng đã xin vào được làm công nhân chính thức, có đồng phục, oách hơn. Và quan trong là nhiều lương hơn. Khu công nghiệp ven đô nơi Giắng làm thuê thiếu công nhân lắm, nên Giắng cũng chả nghĩ ngợi thêm gì nữa, cứ đi làm thôi. Nay chỗ này hết việc thì sang chỗ khác, thiếu gì đâu. Giắng khỏe, làm việc gì chả được, phụ hồ, bốc xếp, đẩy xe cút kít dọn phế liệu, làm tất. Có tiền là làm mà. Ngày đi làm, tối về xóm trọ ăn no rồi lăn ra ngủ. Từ hôm xuống đây Giắng chưa ra khỏi dãy phòng trọ lúc nào ngoài những khi đi làm. Chị chủ nhà trọ bảo: “Chúng mày chú ý xem nó có bị làm sao không, thằng ấy chẳng nói cũng chẳng đi chơi đâu, thanh niên gì mà lạ vậy?”

***

      Chị chủ nhà trọ năm nay ba mươi tám tuổi. Hai con, một gái mười hai, một trai chưa đầy hai tuổi. Mẹ đơn thân. Là Giắng nghe bọn cùng phòng nói thế chứ không hiểu đơn thân là gì. Nhẽ cũng như bố Giắng trên núi, một mình nuôi ba anh em chắc cũng là đơn thân. Hôm đầu tiên theo mấy anh xuống trọ, lên nhà đưa cho chị ấy cái bản phô tô chứng minh nhân dân, chị nhìn Giắng mãi. Khen Giắng khỏe mạnh. Bảo, xuống đây ít lâu uống nước máy ngủ quạt điện sẽ kẻng trai ra ngay. Giắng cũng chả hiểu kẻng trai là thế nào. Nhưng chị ấy vừa nói, vừa cười tít mắt, cái bộ ngực đang cho con bú sau mỗi lần vải áo phông mỏng tang cứ rung rinh dập dềnh. Sữa thấm ướt áo, hằn rõ cả hai cái đầu ti nâu nâu. Giắng thấy trong người như có kiến đốt, vội lủi nhanh về phòng.

      Nhà chị chủ ngoài rìa cuối làng đất rộng. Xưa chả ai thèm để ý đến mảnh đất toàn thùng vũng ấy. Thế nhưng đến khi nhà nước về lấy ráo cả cánh đồng làm khu công nghiệp, đất nhà chị chủ bỗng thành ra mặt tiền, được giá. Chị bán bớt một nửa, lấy tiền xây cái nhà tầng mấy mẹ con ở cho mát, còn lại xây quây ít phòng trọ cho công nhân thuê, lại mở thêm cái quán bán hàng tạp hóa ở cổng nữa, cũng tốt tiền.

       Có điều, nhà chỉ có đàn bà trẻ nhỏ mà đồ đạc lại rất hay bị hỏng. Toàn hỏng vào ban đêm. Mà chị chẳng biết sửa chữa là gì. Nên chị gọi alo cho ba tay công nhân cùng phòng với Giắng lên chữa hộ. Hôm thì: “Mìn ơi, lên hộ cái bóng đèn”. Lúc lại: “Lù ơi lên hộ cái van nước”. Hôm khác: “Phủ ơi, lên chữa cho cái công tắc”.

      Ba tay trai trẻ khỏe như ngựa núi, mà cứ lên trên nhà chị chủ “chữa đồ” một thôi là về ngủ lăn như chết, xều bọt mép, ngáy như sấm.

      Giắng lấy làm lạ, hỏi:  “Các anh toàn có tay nghề, sửa chữa gì mà vất vả hơn cả đi làm ca về, lăn lóc như đá trên nương vậy?”

      Ba tay ấy cười sằng sặc, bảo: “Thế A Giắng chưa biết sửa đồ “điện nước” cho phụ nữ à? Có muốn không bọn tao bảo chị chủ gọi. Sửa đồ “điện nước” này mệt lắm vớ! Cái bọn người Kinh nó bảo mệt hơn xúc mười tấn than vớ! Giắng có muốn đi xúc than không?”

     “Nhà chị chủ có đun than đâu mà xúc?”

       Ba tên ấy lăn ra sàn nhà cười. Cười chán rồi bảo nhau: “Thằng này nó còn trai trinh chúng mày ạ.” Rồi hỏi Giắng:

     “Ở núi, phiên chợ mày đã biết đi vỗ mông con gái chưa?”

      Ô. Cái này thì Giắng biết. Năm mười ba tuổi, bọn bạn cùng lứa trong bản rủ Giắng xuống chợ phiên, vỗ mông gái. Chả là cái tục “bắt vợ” trên quê Giắng vẫn còn. Mùa xuân phiên chợ trai gái xuống gặp nhau, uống rượu múa khèn. Con trai nhìn con gái. Con gái liếc con trai. Thích mắt cô nào bèn vỗ vào mông một cái, nàng kia tỏ vẻ đồng tình là kéo nhau vào rừng rồi bắt về làm vợ thôi. Định đến vỗ mông nó gạt tay ra, nguẩy đít đi chỗ khác là không được rồi…

      Giắng đi loăng quăng xem bọn bạn rình vỗ mông gái bản một buổi, chưa dám vỗ mông cô nào. Về nhà bố bảo: “Nhà ta không có gì ăn, chẳng đứa con gái nào nó cho vỗ mông đâu. Mế mày tao cướp về đây đẻ ba đứa rồi cũng lại chìa mông cho thằng khác vỗ, bỏ theo nó luôn đấy. Đợi lớn lên đi làm có tiền rồi muốn vỗ mông đứa nào cũng được mà.”

     Thế là Giắng chẳng đi theo bọn bạn rình vỗ mông gái bản nữa. Ở trên núi làm mải mê cả ngày. Nhưng cứ làm từ ngày này sang tháng khác cũng chẳng có tiền. Chỉ được tí lúa ngô khoai sắn tạm no bụng với rau rừng.

     Giắng về xuôi đi làm kiếm tiền. Thấy nhiều cái lạ. Trai gái đi “vỗ mông” nhau lại bảo là đi “xúc than”, “đóng gạch”. Mà một mình chị chủ lại cho cả mấy thằng “vỗ mông” là sao”? Trên núi chỉ cho một người thôi. Gái nào đã cho trai nào vỗ mông là không cho trai khác vỗ vào đâu. Cố vỗ có khi ăn nhát dao quắm đấy. Ba thằng trai cùng phòng bảo, chúng tao đi “xúc than đóng gạch” hộ chị chủ thôi. Chị ấy buồn, kêu ngứa. Mà bọn tao cũng cần xả ra. Bọn người Kinh nó bảo thế là hai bên cùng vui ấy mà, chả bên nào mất gì, giúp đỡ nhau thôi. Thỉnh thoảng có rau quả tươi, đồ ăn ngon chị chủ còn cho thêm phòng, Giắng cũng được ăn ngon. Thấy chị chủ tốt tốt là. Cơ mà Giắng không thích “xúc than đóng gạch” như ba tay kia, kệ thôi.

     Giắng chỉ muốn được đi làm công nhân công ty như Mìn, Lù, Phủ để có nhiều tiền hơn gửi về cho bố đong gạo nuôi em.

     Ba tay ấy lại bảo: “Thôi mày cứ chịu khó làm công nhật, thỉnh thoảng bọn tao dạy cho cách đứng máy, lúc nào thành thạo thì xin quản lý cho vào làm chính thức vậy”.

***

     Đang như thế thì bỗng có lệnh phong tỏa. Vì Covid. Nội bất xuất ngoại bất nhập. Ba tay cùng phòng phải mang quần áo chăn màn sang công ty “3 tại chỗ”, vừa sản xuất vừa đề phòng dịch bệnh lây lan. Phòng còn mỗi mình Giắng nằm co. Không được phép đi đâu. Nhà cách ly với nhà. Phòng cách ly với phòng. Người cách ly với người. Cái con Covid này kinh lắm, hơn cả ma xó ma gà ma rừng. Nó bóp cổ mổ hầu rạch họng người ta chết đấy. Sợ lắm. Loa oang oang suốt ngày ở đầu xóm chĩa vào: “Cách ly tuyệt đối. Tuân thủ 5K. Không đi ra ngoài khi không cần thiết”. Một tuần, hai tuần rồi cả tháng cách ly chưa biết đến khi nào xong. Giắng cứ nằm bẹp trong phòng thôi. Không có điện thoại nên cũng chẳng gọi về cho bố được. Ít gạo mắm, mì tôm mua chung ăn hết. Có ít tiền để dành định gửi về nhà ra hàng chị chủ mua gạo mắm, ăn cũng hết rồi. Không được đi làm, không có tiền chẳng mua được gì ăn. Mấy ngày nay đứt bữa, uống nước lã nằm dán bụng xuống chiếu sôi òng ọc, đau quặn vì đói. Giắng nằm chập chờn, chợt thấy như có mùi mùi sắn luộc tỏa hơi nóng thơm nức đâu đây. Mở mắt ra nhìn, hình như góc nhà có nồi sắn đang tỏa khói. Cố vùng dậy đi ra chỗ nồi sắn đang bồng bềnh trước mắt mà không dựng người lên nổi. Không cả đưa tay ra với được nữa kia. Giắng yếu quá rồi. Giắng chìm vào cõi mù mờ…

      Tiếng loa oang oang đầu xóm chĩa vào: “Mời các công nhân mất việc, không lương ra trụ sở lĩnh quà cứu trợ của các nhà từ thiện…”

      Loa chói vào tận phòng, nhưng Giắng chẳng dậy nổi nữa. Giắng thiếp đi mê man chới với bay theo nồi sắn luộc đang tỏa khói mịt mờ. Trong giấc mơ, Giắng cứ với tay, với mãi, với mãi mà không vớ được củ sắn nào cho vào cái miệng đang đắng khô vì đói khát. Giắng bật lên tiếng khóc gọi, “Mế ơi…”

***

      Chị chủ nhà đứng ở trên tầng hai gào to tướng: “Còn đứa nào ở nhà thì mau ra trụ sở lĩnh gạo, mắm về ăn kìa!”

      Các phòng có người lục tục khẩu trang rồi kéo nhau đi. Hân hoan vác gạo mắm, bột ngọt, đồ khô về. Thế này cũng chống chọi được cả tháng nữa. Vãn dịch có việc đi làm là lại ổn ngay.

      Cửa phòng Giắng vẫn cứ đóng im ỉm.

Chị chủ dóng dả: “Quái cái thằng này không biết dậy mà đi nhận đồ cứu trợ. Mà đã lâu không thấy mặt nó đâu. Hay là làm sao rồi?”

Chị tong tả chạy xuống phòng Giắng. Gõ. Không thấy động tĩnh gì. Đẩy cửa xông vào. A Giắng nằm thiêm thiếp trên chiếc giường cá nhân, mắt nhắm nghiền, mặt tái xanh. Chị chủ cúi xuống ôm đầu lay gọi: “Giắng ơi, Giắng ơi…”

     Ú ớ…

     Mế mế ê ê…

Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện…

      Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”

      ***

       Sau đận ấy, chị chủ tuyên bố với cả xóm trọ nhận Giắng làm em nuôi.

Chị xếp cho Giắng một phòng riêng trên gác. Ăn ở cùng mẹ con chị. Chị bảo Giắng: “Đi làm được bao nhiêu tiền, cứ gửi hết về trên núi cho bố. Còn ăn ở dưới này chị nuôi.”

Xóm trọ cũng chẳng ai nói gì, vì ai cũng bận tối mắt, đi làm, tăng ca… về phòng ăn uống tắm giặt rồi lăn ra ngủ vùi lấy sức mai lại đi làm tăng ca, hơi đâu mà để ý chuyện xung quanh.

Cơ mà ba tay Mìn, Lù, Phủ có hơi hậm hực. Nói vụng trong phòng với nhau: “Nuôi để thịt chứ gì?”. Chả là từ lúc nhận Giắng làm em nuôi, chị chủ không thấy gọi điện ban đêm lên sửa điện nước hộ nữa. Ba tay ấy ấm ách. Chị chủ biết. Nhưng cứ lờ đi coi như không có chuyện gì. Còn Giắng cũng bị bọn Mìn, Lù, Phủ thỉnh thoảng vẫn nói kháy, cơ mà Giắng chả hiểu mấy đâu. Mà Giắng đang vui, người đẹp đẽ nở nang hẳn ra, lớn bổng lên. Quần áo cũ mang từ trên núi xuống phải bỏ đi hết. Chị mua về cho toàn đồ xịn, quần bò áo phông Adidas, mặc vào trông như diễn viên điện ảnh. Bọn Mìn, Lù, Phủ lại bảo, mùa xuân này về núi đi vỗ mông được gái cả bản đấy vớ…

      Nhưng Giắng chẳng muốn về núi nữa.

Giắng ở xuôi làm ra tiền gửi về cho bố mua gạo nuôi em thôi. Còn chị nuôi chăm Giắng lắm. Kể từ hôm được chị cứu sống bằng hai bầu sữa, Giắng đâm ra nghiện cái món đó. Đêm đầu tiên lên ở nhà trên, Giắng hơi khó ngủ. Vật vã mãi. Bỗng cửa mở, chị đi vào. Hỏi:

    “Giắng chưa ngủ à?”

Giắng mở mắt thao láo nhìn chị. Mỗi cái váy ngủ mỏng tang, bộ ngực căng sữa cứ rung rinh, rung rinh. Giắng lại thấy cổ họng khát khô, miệng đắng ngắt. Thốt nhiên thấy thèm sữa. Giắng lào phào:

     “Chị ơi…”

Chị chủ với tay tắt nốt bóng đèn ngủ. Vén màn luồn vào.

     “Em bé bú không hết sữa, Giắng hộ chị…”

Chị tuột luôn cái váy ngủ qua đầu. Trần truồng. Thỗn thện. Sáng lóa trong đêm. Chị kéo đầu Giắng vục vào ngực mình. Mút. Nắn. Bóp. Những tia sữa ngọt ngào thơm nức ngấm vào từng thớ thịt Giắng. Nó như dòng nước thần tức khắc làm Giắng lớn lên. Thành đàn ông. Da thịt nở nang căng nhức. Trong đêm, không biết tại sao cái quần đùi Giắng mặc đi ngủ tuột ra tự lúc nào. Tự tuột hay chị lột, không biết. Chỉ thấy thốt nhiên trần truồng nóng hổi. Bộ ngực đàn bà đang nuôi con nhỏ nồng nàn, căng nức, thơm phức. Sữa nhễ nhại tràn trề mồm miệng mặt Giắng. Giắng mê đi. Chị cũng mê đi. Rồi bỗng chị hức lên một tiếng ôm ghì, vật người Giắng lên trên. Quặp chặt. Hổn hển nói bú đi, bóp đi, vò đi, mạnh vào…

Giắng mút chùn chụt. Thân hình trai trẻ của Giắng trùm lên chị. Cặp vú to thơm nức hương sữa bồng bềnh bên dưới. Cặp đùi mịn màng nóng hổi của chị cong lên lựa thế. Có một cái gì lạ lẫm êm êm, ấm áp, mơn trớn, dịu dàng vuốt ve. Cái phần đàn ông của Giắng thốt nhiên bị cái đàn bà của chị hút trôi tuột vào trong. Giắng vô thức dấn theo. Chị rên lên khe khẽ: “Ôi sướng quá Giắng ơi…”

Giắng ôm chặt siết mạnh, sữa từ hai bầu vú phun thành tia chan hòa trắng lóa ngực, mặt cả hai. Thơm nồng. Giắng mê man trong cảm giác của thằng trai lần đầu tiên vào đời. Bất thần nổ tung. Giắng gào lên trong hoang dại: “Chị ơiiii…”


TRẦN THANH CẢNH   
8/2021  
 

 

 

 

 

 

  

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 941)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 726)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1485)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1585)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1226)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9943)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16781)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15767)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16207)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1585)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3123)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5304)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7318)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6665)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 940)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 725)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1485)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2422)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2265)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2508)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2493)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1226)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13620)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29724)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35749)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10862)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12700)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3339)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3623)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4170)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7859)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7170)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10009)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.