- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

VŨ TRỌNG PHỤNG CÓ KHUYNH HƯỚNG CỘNG HÒA?

04 Tháng Tám 202111:36 CH(Xem: 32980)


 

 

Trùng Dương

VŨ TRỌNG PHỤNG CÓ KHUYNH HƯỚNG CỘNG HÒA?

 

Thỉnh thoảng tôi dọn sách vở xem cuốn nào cần giữ, cuốn nào mang cho, và đặc biệt là cuốn nào cần gửi trả khổ chủ kẻo lỡ quên đâm mang tiếng. Thuộc vào số ít sách phải gửi lại khổ chủ, tôi tìm thấy cuốn này: Vietnamese Colonial Republican – The Political Vision of Vu Trong Phung, tạm dịch là Người Việt Cộng hoà thời Thuộc địa - Viễn kiến Chính trị của Vũ Trọng Phụng, của sử gia Peter Zinoman thuộc phân khoa Sử học của Đại học California tại Berkeley.

Tôi vẫn có ý định viết bài giới thiệu tập biên khảo của GS Zinoman từ khi đọc xong, với nhiều thích thú, từ… giữa mùa đại dịch Covid vào hè năm ngoái. Bài bên dưới là lời giới thiệu khái quát tập biên khảo đã giúp tôi biết thêm rất nhiều về nhà văn Vũ Trọng Phụng vốn khá độc đáo của nền văn học tiền chiến, nay càng thêm (có thể nói là) độc nhất như một tay “tiền trạm” của chủ nghĩa cộng hoà tại Việt Nam dưới cái nhìn của sử gia Zinoman.

VuTrong Phung- PeterZinoman


Bìa cuốn Vietnamese Colonial Republican – The Political Vision of Vu Trong Phung, Peter Zinoman (UC Press, 2001)


Nhắc tới văn học thời tiền chiến (1930-1945), ta thường nghĩ tới nhóm Tự Lực Văn Đoàn với những tên tuổi lớn, như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, và một số tác giả khác. Nhiều sách vở, luận án, hội thảo đã diễn ra về nhóm TLVĐ tại hải ngoại. Tuy nhiên, đối với các độc giả Việt ở hải ngoại, muốn tìm hiểu về những cây bút độc lập khác—nghĩa là không thuộc hẳn nhóm nào--của thời tiền chiến đã giúp làm nên nền văn học vô cùng phong phú trong thời này, ta chỉ còn trông chờ vào bộ sách năm cuốn Nhà Văn Hiện Đại của Vũ Ngọc Phan xuất bản lần đầu năm 1942 tại Hà Nội, tái bản lần thứ hai năm 1951 (ấn bản này hiện được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ), tái bản lần thứ ba tại Sài Gòn năm 1959. Ấn bản thứ ba này đã được chụp lại và phát hành tại hải ngoại sau 1975, đã được chuyển sang dạng ebook hiện được lưu trữ tại Tủ Sách Tiếng Việt. Dù vậy, trông chờ một cuốn sách cho ta thấy cả một xã hội văn học nhộn nhịp sống động của thời tiền chiến, như cuốn Văn Học Miền Nam Tổng Quan của Võ Phiến về nền văn học Miền Nam 1954-1975, e không (hay chưa?) có.

Việt Nam, đối với Peter Zinoman, giống như một quê hương thứ hai. Chính xác ra thì Việt Nam chính là quê vợ của ông, bà Nguyễn Nguyệt Cầm. Và tiếng Việt chính là ngôn ngữ thứ hai của ông. Ông và vợ là đồng dịch giả cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Vũ Trọng Phụng, Số Đỏ, tựa tiếng Anh là Dumb Luck (University of Michigan Press, 2002). Ông cũng là người đã tìm ra khoảng 20 bài ký sự và truyện ngắn của Vũ Trọng Phụng đã đăng báo trước 1945 nhưng chưa hề in thành sách, kể cả trong thời kỳ “Đổi mới” khi nhà văn được phục hồi và sách được tái bản sau gần bốn thập niên bị cộng sản cấm. Những bài này đã được in và phát hành dưới tựa đề Vẽ Nhọ Bôi Hề (Phương Nam, 2004). Ngoài ra, ông Zinoman còn là tác giả của cuốn sách biên khảo về hệ thống nhà giam tại Đông Dương của chính phủ thuộc điạ Pháp, The Colonial Bastille: A History of Imprisonment in Vietnam, 1862-1940 (UC Press, 2001).

Vu Trong Phung - Dumb Luck
Giáo sư Peter Zinoman, trái, và bản dịch Số Đỏ-Dumb Luck của Vũ Trọng Phụng (Ảnh tư liệu vietnamnet.vn); GS Zinoman tại Hội thảo kinh nghiệm kiến quốc của VNCH 1955-1975 tại Đại học California tại Berkeley, tháng 10, 2016. Ngồi giữa là bà Nguyễn Nguyệt Cầm, và bên trái là nhà văn Nhã Ca. (Ảnh Trùng Duơng)


Trong số các tác giả độc lập của nền văn học tiền chiến vốn khá quen thuộc với Zinoman, nhân vật đã lôi cuốn ông hơn cả là Vũ Trọng Phụng. Lôi cuốn vì chính cuộc đời quá sức ngắn ngủi (1912-1939) song phong phú sáng tác và thái độ sôi nổi, gần như giận dữ trước những bất công của xã hội, của một cây bút tài năng xuất chúng. Song có lẽ điều lôi cuốn Zinoman hơn cả của Vũ Trọng Phụng là cái viễn kiến chính trị mới chớm của một trí thức Bắc Hà, đó là tư tưởng nghiêng về chủ nghĩa cộng hoà (republicanism)--hiểu theo nghĩa nguyên thủy từ cuộc cách mạng Pháp 1789 và 1848 và tiếp nối qua nền Đệ tam Cộng hoà Pháp (1871-1940), với phương châm Tự Do, Bình Đẳng, Huynh Đệ (Liberté, Egalité, Fraternité), và chủ trương “hỗ trợ công cuộc dân chủ hoá sinh hoạt chính trị qua việc nới rộng quyền đầu phiếu, vun sới đào tạo một tầng lớp dân sự dựa vào lý trí và dân quyền bằng việc giáo dục đại chúng” (tr.5), đối nghịch lại với thể chế quân chủ chuyên chế và ảnh hưởng nặng nề của Giáo hội Thiên Chúa thời trước đó.

Và đấy là chủ đề của cuốn biên khảo dầy 320 trang—đi tìm nguồn gốc của và chứng minh tinh thần cộng hòa chủ nghĩa thời thực dân qua các tác phẩm mô tả các cuộc đời hạ cấp lầm than nhất của Hà Thành thời tiền chiến của Vũ Trọng Phụng. [Ghi chú bên lề: Sách in chữ cỡ có lẽ số 10, khá mệt mắt nếu đọc trên sách giấy. Độc giả nào muốn đọc có lẽ nên mua cuốn này dưới dạng ebook, cho phép điều chỉnh cho chữ lớn hơn, nếu cần.]

Ông Zinoman ví Vũ Trọng Phụng với văn hào George Orwell (1903-1950) của Anh. Hai tác giả, theo ông, cùng giống nhau ở chỗ: 1) cả hai đều yểu thọ, Vũ Trọng Phụng ở tuổi 29, Orwell 47, sau khi đã 2) để lại cho đời một văn nghiệp đồ sộ, Orwell với 20 cuốn sách in lại trong cuốn The Complete Works dầy 9,000 trang, và họ Vũ với tám cuốn tiểu thuyết, bốn cuốn ký, và hàng trăm bài vừa truyện ngắn, kịch, tiểu luận, tranh luận, và các bài linh tinh khác sản xuất trong vòng có một thập niên cầm bút. Ngoài ra, theo Zinoman, cả hai cùng đã thành công trong hai thể loại văn chương, đó là tiểu thuyết và phóng sự dùng ngôi thứ nhất (first-person reportage). Họ cùng là bậc thầy của hiện thực chủ nghĩa, song lại đã nổi tiếng với việc thử nghiệm thể tiểu thuyết phi hiện thực: Orwell với tác phẩm chính trị hoang tưởng Animal Farm; và Vũ Trọng Phụng với tiểu thuyết châm biếm trào lộng Số Đỏ.

“Mặc dù bối cảnh thân thế rất khác nhau, cả hai tác giả lại cùng để lộ một viễn kiến giống nhau về các vấn đề chính trị cấp bách không thể hoà giải của thời đại,” ông Zinoman viết trong chương giới thiệu. “Trong một công trình nghiên cứu có uy tín, tác giả quá cố Christopher Hitchens đã ca ngợi thái độ chống đối của Orwell đối với chế độ thực dân, chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa phát-xít trong một thời đại mà thái độ của quần chúng trước sự đối kháng dành cho mỗi chủ nghĩa này vẫn còn ô hợp, chưa rõ nét. Là một dân bản xứ của một Đông Dương Pháp thuộc, Vũ Trọng Phụng đã hẳn là chống chủ nghĩa thực dân, nhưng ông cũng chống luôn cả Đức quốc xã, phát xít Nhật, chế độ Sô viết [Nga] và cộng sản Việt. Cả hai tác giả cùng thù ghét tư bản chủ nghĩa thả lỏng, thứ tình cảm giúp giải thích việc Orwell đã chọn đồng hành với chủ nghĩa xã hội và Vũ Trọng Phụng liên kết với nhóm khuynh tả không cộng sản.”

Điểm khác biệt giữa hai tay cự phách văn học thời tiền Đệ nhị Thế chiến này là: Orwell có dịp đi khắp Âu châu, tiếp xúc với nhiều giới từ quyền chức, thượng lưu tới hạ cấp, đọc đủ loại sách vở, tài liệu lưu hành rộng rãi bên trời Âu, và là một tác giả lừng danh quốc tế; trong khi đó Vũ Trọng Phụng chịu một số phận ngược lại, hẩm hiu hơn nhiều. Nghèo, ít học, tự trau giồi kiến thức lấy, cả cuộc đời ngắn ngủi ông chỉ quanh quẩn ở Hà Nội, nghe nói ông đi xa lắm là Hải Phòng. Tiếng tăm của ông chỉ quanh quẩn trong nước, bị chê (là văn chương đồi trụy, khiêu dâm, nhưng lại được người ta hăm hở tìm đọc nhiều hơn cả) nhiều hơn là được khen. Đã vậy, sau 1954, sách của ông lại bị chế độ cộng sản Hà Nội dìm cấm, cho là đồi trụy, phản động. Mãi tới thời kỳ “Đổi mới” vào cuối thập niên 1980 và thập niên 1990, khi đảng Cộng sản Việt Nam nới lỏng sự kiểm soát giới văn nghệ để giảm bớt áp lực chính trị do sự sụp đổ của khối cộng sản Đông Âu và Liên Sô, các tác phẩm của nhà văn mới được phép lưu hành trở lại. Nguyên vẹn hay có cắt xén, tôi chưa có dịp đọc, nên không có ý kiến. Ông Zinoman cũng dành một chương (cuối) để bàn về việc tác giả Số Đỏ đã được phục hồi ra sao, và các học giả trong nước đã nghiên cứu và khai thác ông như thế nào.

Dựa vào kho tài liệu sách vở tiền chiến phong phú còn lưu trữ tại văn khố Hà Nội, dựa vào cơ hội tiếp cận với tư liệu của gia đình Vũ Trọng Phụng và thân nhân tác giả, bên cạnh các tiếp xúc với giới văn học trong nước, gồm cả những nhân vật đã từng quen biết hoặc sinh hoạt với nhà văn khi còn sinh tiền, ông Zinoman đã vẽ lại khá linh động chân dung nhà văn và thời đại sôi động của nền văn học tiền chiến qua các bài viết của tác giả Số Đỏ. Cái sôi động ấy cũng đồng thời phản ảnh xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20, một xã hội đang trên đường lột xác cùng tột, từ phong tục tập quán tới--có lẽ sâu xa hơn cả, là--chữ viết, từ Hán tự sang chữ Quốc ngữ. Sự lột xác sâu xa này đã được nhà thơ Vũ Đình Liên (1913-1996) diễn tả trọn vẹn qua bài thơ ngũ ngôn “Ông Đồ” (1936). Và cũng rất xót xa qua vỏn vẻn bốn câu thơ của nhà thơ Trần Tế Xương (1870 – 1907), bài “Sông Lấp”: Sông kia rày đã nên đồng / Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai / Đêm nghe tiếng ếch bên tai / Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.

Cuốn sách biên khảo Vietnamese Colonial Republican được chia làm năm phần: Phần thứ nhất, “Nguồn gốc của tinh thần cộng hoà chủ nghĩa thời thuộc địa nơi Vũ Trọng Phụng” (Sources of Vu Trong Phung’s Colonial Republicanism). Trong phần này, Zinoman truy tìm ảnh hưởng trong nếp suy nghĩ chính trị thiên cộng hoà của tác giả do đuợc tiếp cận với sách báo tiếng Pháp lưu hành thời đó, trong đó có những tác phẩm của các tác giả như Victor Hugo, Emile Zola, Honoré de Balzac, Andre Gide, và cả của nhà phân tâm học Sigmund Freud. Và đã hẳn là cảnh sống của giai cấp hạ lưu nghèo hèn trong xã hội mà nhà văn tiếp xúc khi làm phóng sự đã góp phần vào việc cấu tạo nên khuynh hướng chính trị dù chỉ mới manh nha này của ông. Ở vào thời điểm ấy, nhiều người trẻ có lý tưởng đã không tránh bị thôi thúc tìm tới và dấn thân với chủ nghĩa xã hội của cộng sản còn đầy lý tưởng. Việc đó đã không xẩy ra với Vũ Trọng Phụng. Có thể phần lớn cũng tại ông quá bận rộn--vừa viết truyện đăng từng kỳ trên báo, vừa đi làm và viết phóng sự, có khi còn lâm trận bút chiến sôi nổi với các đồng nghiệp khác ý kiến, chưa kể nhu cầu đọc các sách báo mà ông tiếp cận được. Như thể linh cảm thời gian trên trần thế của ông không dài?

Và đấy là là chủ đề khai triển của tác giả Zinoman ở chương thứ ba—nguời viết mạn phép nhẩy cóc chương hai ở đây--, “Câu hỏi về Cộng sản chủ nghĩa” (The Question of Communism). Trong chương này ông Zinoman tìm hiểu về khuynh hướng chống cộng sản chủ nghĩa trong vài bài viết của Vũ Trọng Phụng, người đã có dịp tiếp cận với báo chí Pháp về các biến cố dưới thời Stalin nên biết về thực tại ở Nga Sô. Chương hai (Tư bản chủ nghĩa và Cải thiện Xã hội – Capitalism and Social Reform) và chương bốn (Cuộc Khủng hoảng Tình dục của Nguời Việt – The Crisis of Vietnamese Sexuality) khai triển các vấn đề xã hội, sự suy đồi đạo đức trong việc khai thác tình dục qua nạn mãi dâm, mặc dù ông chỉ mô tả và phản ảnh, đôi khi lên giọng “dậy đời” thịnh hành trong lối viết hồi ấy.

Chương cuối (Vũ Trọng Phụng bị cấm – Banning Vu Trong Phung) vẽ lại chiến dịch cấm sách Vũ Trọng Phụng vào giữa thập niên 1950 cùng với việc đàn áp phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Để rồi 30 năm sau, là việc phục hồi địa vị văn học cho nhà văn vào thập niên 1990.

Tóm lại, tập biên khảo Vietnamese Colonial Republican – The Political Vision of Vu Trong Phung cho độc giả một cái nhìn có thể nói là mới mẻ và thú vị về một tác giả của nền văn học Việt Nam thời tiền chiến tại Hà Nội, khi chữ Quốc ngữ chỉ mới chính thức được sử dụng khoảng nửa thế kỷ ở miền Nam và chưa đầy ba thập niên ở miền Bắc.

Đóng sách lại, người đọc không khỏi tưởng tượng nếu Vũ Trọng Phụng biết được là hai phần ba thế kỷ sau có một học giả của hôm nay cho rằng tác phẩm của ông đã, ngay hồi đó, phản ảnh truyền thống cộng hoà theo nghĩa nguyên thủy—yêu chuộng tự do, bình đẳng, và tình huynh đệ—chắc ông không khỏi ngạc nhiên. Hoặc thế, hoặc có lẽ ông sẽ mỉm cười, nói là các tác phẩm của ông tựa như những đứa con nay đã khôn lớn, có đời sống riêng và tiếng nói riêng của chúng—đó là những gì độc giả tha hồ suy diễn theo cảm nghiệm và cả khát vọng của riêng họ.

Điều tưởng tượng này của tôi có lẽ giải thích được phần nào phong trào nghiên cứu Vũ Trọng Phụng khá sôi nổi trong nước, theo học giả Zinoman, khi nhà văn vừa được phục hồi vào thập niên 1990, với truớc sau bốn, năm cuộc hội thảo và nhiều bài tham luận về tác giả Số Đỏ của những cây bút biên khảo văn học tên tuổi trong nước, như Lại Nguyên Ân và Vương Trí Nhàn. Trên một khía cạnh nào đó, họ Vũ đã nói lên những điều đã và vẫn làm họ trăn trở trong một xã hội tuy hoà bình nhưng vẫn mãi dậm chân tại chỗ, nếu không nói là đi thụt lùi, về phương diện chính trị, tri thức, tâm thức và cả đạo đức.

Riêng phần tác giả Zinoman, ông cũng đã không dừng lại sau khi chấm cái chấm cuối cùng vào tập bản thảo Vietnamese Colonial Republican đã thành sách xuất bản gần một thập niên trước. Mà ông vẫn tiếp tục truy tìm cái mà ông nay gọi là “A Republican Moment” (Một Thoáng Cộng hoà, hoặc Mầm mống Cộng hoà) bắt gặp trong tác phẩm của họ Vũ.

Trong buổi hội thảo về kinh nghiệm Việt Nam Cộng Hoà tổ chức tại Đại học Oregon tháng Mười năm 2019, ông Zinoman đã khai triển suy tư của ông về Vũ Trọng Phụng thành bài diễn thuyết về “Mầm mống Cộng Hoà” qua các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, tới sự hình thành của quốc gia mệnh yểu Việt Nam Cộng Hoà 1955-1975. Và sau đó,  ông Zineoman cũng đã khai triển ý niệm này thành một khoá hướng dẫn cho các học giả nghiên cứu về lịch sử Việt Nam.

“Gọi là mầm mống cộng hòa có nghĩa là,” ông Zinoman giải thích trong phần mở đầu khoá hướng dẫn, “đây là lần đầu tiên một số đáng kể học giả đặt trọng tâm vào việc tìm hiểu về một truyến thống cộng hoà trong lịch sử chính trị Việt vốn bắt nguồn từ cuộc tiếp cận trong thời Pháp thuộc với giòng tư tưởng này, tuy còn manh nha nhưng đã vươn tới hiện tại.”

“Bắt nguồn từ một thôi thúc ở thế kỷ thứ 18--thôi thúc đã dẫn tới cuộc cách mạng 1789 và 1848 và ảnh hưởng trên đời sống chính trị của thời Đệ tam Cộng Hoà Pháp (1870-1940)--chủ nghĩa cộng hoà vinh danh tự do, bình đẳng và tình huynh đệ đồng thời đề xướng dân chủ, khoa học, giáo dục và pháp trị.” GS Zinoman nói. “Kẻ thù số một của chủ nghĩa cộng hoà [hồi ấy] là cặp chế độ chuyên quyền quân chủ và Giáo hội Thiên Chúa. Do phát xuất từ Pháp nên ta không ngạc nhiên khi các nghiên cứu ban đầu về cộng hoà chủ nghĩa ở Việt Nam chỉ tập trung vào một số người Âu châu có khuynh hướng cấp tiến sinh sống tại thuộc địa, như luật sư, ký giả và các viên chức [chính phủ thuộc địa]. Các nghiên cứu gần đây đã khai phá chủ nghĩa cộng hoà Việt trong các bài báo bằng chữ quốc ngữ xuất bản thời thuộc địa và khuynh hướng ý thức hệ của giới trí thức và các nhà tranh đấu địa phương. Trong chiều hướng này [ta có thể nói] việc ‘địa phương hoá’ truyền thống [cộng hoà] nói lên mối quan tâm về cái mầm mống cộng hoà này vậy.”

Độc giả có thể xem thuyết trình bằng tiếng Anh của GS Zinoman tại đây, hoặc in bài tại đây nếu muốn đọc trong sự yên tĩnh, riêng tư.

TRÙNG DƯƠNG
2021-07

 

Vài links trong bài:

Vietnamese Colonial Republican: The Political Vision of Vu Trong Phung, by Peter Zinoman (Author), https://www.amazon.com/gp/product/0520276280/ref=as_li_qf_sp_asin_il_tl?ie=UTF8&camp=1789&creative=9325&creativeASIN=0520276280&linkCode=as2&tag=erikimstrph09-20&linkId=YOH5NE3MTDLXA3XP

Bộ Nhà Văn Hiện Đại, 5 cuốn, của Vũ Ngọc Phan:
Tủ Sách Tiếng Việt (ebooks, có thể tải xuống không cần đăng ký), https://tusachtiengviet.com/search?r=L3AxMDQvMS90dS1zYWNoLWUtYm9va3M&k=vu+ngoc+phan; Thư Viện Quốc Hội Mỹ (sách giấy): https://lccn.loc.gov/75984287

Văn Học Miền Nam Tổng Quan, Võ Phiến, https://tusachtiengviet.com/a1022/van-hoc-mien-nam-tong-quan

A Republican Moment in the Study of Modern Vietnam, by Peter Zinoman, https://usvietnam.uoregon.edu/en/a-republican-moment-in-the-study-of-modern-vietnam/; Xem trên Youtube: https://youtu.be/Hqmu_THIsjo  

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 813)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 871)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 715)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 651)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2967)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2509)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9756)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16599)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15603)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16030)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 868)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2966)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2736)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 714)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 4999)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6872)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6160)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 813)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2348)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 2509)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2745)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2230)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2057)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2214)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2258)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 651)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13204)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29224)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35562)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10518)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12419)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1894)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2802)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3045)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3103)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3851)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7551)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6915)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9439)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.