- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ĐẰNG SAU LŨY TRE XANH ĐANG SUY TÀN

14 Tháng Bảy 20215:36 CH(Xem: 33786)
Sau Luy Tre Xa
Con Đường Tre Xanh- (ảnh tư liệu từ tác giả)



Mai An Nguyễn Anh Tuấn

ĐẰNG SAU LŨY TRE XANH ĐANG SUY TÀN

 

 

Cứ mỗi lần được đi trên sông Hồng, tôi lại mê mải nhìn sang hai bên làng xóm trù phú, và cố tìm những luỹ tre làng đang bị mất dần đi… Thế mà, suốt bao đời nay, luỹ tre làng là một trong những biểu hiện quen thuộc nhất, sinh động nhất của châu thổ Bắc bộ. Nhà thơ dân dã Nguyễn Duy từng thốt lên:

Thân gầy guộc, lá mong manh

Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi!

 

    Nhiều thế kỷ qua, các lũy tre đã bao bọc quanh làng - từ cổng đầu làng tới cổng cuối làng. Các luỹ tre làng dày đặc gần như là thành quách tự nhiên bảo vệ an toàn cho những địa bàn dân cư cổ xưa nhất. Vì vậy, luỹ tre cũng đã từng là biểu tượng của văn hoá làng người Việt. Luỹ tre làng lúc nào cũng xanh tốt và chịu đựng nắng mưa bão tố một cách kỳ diệu! Cổng làng cũng thường làm bằng khung tre hình chữ nhật có thể mở ra đóng vào hoặc giương lên hạ xuống. Vào ban đêm, có thêm những cành tre gai đắp vào cổng cho thêm chắc chắn. Làng châu thổ rất chú trọng bảo vệ các luỹ tre, chúng có tác dụng ngăn trộm cướp. Nhiều hình phạt đã được quy định đối với những ai chặt tre mà không cho phép, kể cả những búp măng. Trong khoản phạt do làng quy định có nói đến tiền thưởng đối với những ai tố giác kẻ chặt tre tuỳ tiện. Cùng với việc bảo vệ chống tai hoạ đến từ bên ngoài, luỹ tre còn là một thứ ranh giới thiêng liêng của cộng đồng làng xã, một cách biểu thị sự độc lập và bảo vệ tính riêng biệt độc đáo của làng. Vào thời loạn lạc, có những làng đã bị triều đình trung ương ra hình phạt: buộc phá bỏ luỹ tre làng, nếu như đã tham gia vào cuộc nổi dậy, hay cho kẻ phiến loạn trú ẩn - hình phạt đó là một vết thương lớn của lòng tự trọng, một dấu hiệu nhục nhã, tựa như người bị lột trần giữa đám đông mặc quần áo!

 

     Rời một lũy tre cằn còn sót lại, đi vào sâu trong làng xóm, tôi vẫn được nghe người già kể về những phong tục thôn quê còn lưu giữ tự bao đời - không ít tập tục lạc hậu, có hại, nhưng cũng có nhiều tập tục đáng trân trọng. Trong một công trình nghiên cứu địa lý nhân văn xuất bản năm 1936, tiến sĩ văn học Pierre Gourou có nhận xét chí lý rằng: nét quan trọng của đời sống xã hội làng Bắc kỳ là sự kiểm soát tuyệt đối của công luận đối với đời tư của mỗi người. Ông viết: "Làng là một cộng đồng mà sự trong sạch về đạo lý đòi hỏi mỗi người phải thực hiện đầy đủ mọi nghĩa vụ của người dân và nghĩa vụ tôn giáo, chỉ cần thất hiếu với ông bà cha mẹ là chính quyền có thể can thiệp và phạt vạ", "sự bình yên của làng xã phụ thuộc vào sự phục tùng của mọi dân làng vào lẽ phải và làng có một niềm hãnh diện tập thể khiến họ muốn cho tên tuổi của làng mình không bị hoen ố" (Người nông dân châu thổ Bắc kỳ)(1). Không ít hương ước của nhiều làng đã quy định rất rõ về sự đoàn kết làng xã này. Một ví dụ tiêu biểu: “Nếu ta thường nghe nói rằng: phải đến sống tại những làng có đạo lý, phải chăng trong các làng đó đã tồn tại tình huynh đệ giữa dân làng?... Trong làng ta cũng vậy, dân cư thuần hậu nhưng vì phong tục biến đổi theo thời đại, sợ rằng một ngày kia thế hệ tương lai đánh mất những tình cảm trung thực của dân làng ngày nay, chúng tôi thấy cần phải thiết lập những quy tắc sau đây…” (Hương ước làng Thọ Đức - Yên Phong, Bắc Ninh). Phải chăng, chính điều đó đã là cái gốc tạo ra tinh thần đoàn kết, tinh thần tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng mà mỗi lần đất nước bị lâm nguy, chúng đã được khơi dậy và trở thành một sức mạnh ghê gớm đè bẹp quân xâm lược? Tình cảm gắn bó với quê hương, với lũy tre, với cây đa bến nước sân đình… từ thuở ấu thơ đã mau chóng trở thành tình yêu Đất Nước. Việc làng là việc nước, việc nước là việc làng. Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều làng đào hào đắp luỹ, trở thành làng chiến đấu, và khi cần, sẵn sàng “vườn không nhà trống” đối phó với địch… Người VN dù đi tới chân trời nào, dù ở trong cảnh ngộ nào mà nhận ra người chỉ cần cùng xã, cùng huyện, cùng tỉnh thì gọi nhau là «đồng hương» (thực ra «đồng hương» theo đúng nghĩa là cùng làng); và lòng yêu nước càng được nhân lên khi tình đồng hương hoà quyện.

 

     Không ít người đến hôm nay vẫn còn lưu giữ trong ký ức hình ảnh kinh hoàng của một thời: tiếng trống ngũ liên, tiếng kẻng canh đê, tiếng quát tháo của tuần đinh, cảnh nhốn nháo như ong vỡ tổ... lúc một quãng đê nào đó bị vỡ. Kèm theo đó là cái cuộc sống đói rách cơ hàn đến tuyệt vọng và bị áp bức đến tàn nhẫn của người dân châu thổ Bắc bộ được miêu tả quá nhiều trong phim ảnh, sách vở. Và đằng sau luỹ tre xanh đã sản sinh ra không ít mặt trái của đời sống làng xã - như tục lệ khao vọng nặng nề, là sự tranh giành chiếu trên chiếu dưới ô nhục mà nhà văn Ngô Tất Tố đã miêu tả sinh động trong tác phẩm “Việc làng”. “Một miếng giữa làng hơn sàng xó bếp”, cái tâm lý cổ hủ đó ăn sâu cả ở trong tầng lớp trí thức! Luỹ tre xanh bao bọc xóm làng cũng là bức tường thành mà trong đó, bọn địa chủ ác bá làm mưa làm gió, hoành hành bóp nặn dân lành cùng khổ. Vì đói rách, bị ức hiếp, nhiều người đã phải buộc đi tha phương cầu thực, bỏ làng tìm đến các đồn điền cao su trong Nam, bên Lào, hoặc bên Tân thế giới làm phu mỏ… P. Gourou còn nêu ra cái "xu hướng của người nông dân muốn họp thành phe nhóm", sự tranh chấp ngôi thứ trong làng, cái thói quen "phép vua thua lệ làng" và, "theo đúng thói quen đã được xác lập ở đất nước này, các vị chức sắc cai trị bằng đút lót và dành hết công sức vào việc bòn rút của dân: ít ra là với những chức sắc có thế lực" (Người nông dân châu thổ Bắc kỳ). Điều P. Gourou viết cách đây hơn nửa thế kỷ đến nay vẫn còn mang tính thời sự. Những cuốn tiểu thuyết hiện đại viết về châu thổ Bắc bộ gây xôn xao dư luận gần đây như "Mảnh đất lắm người nhiều ma", "Ma làng", v.v, là những minh chứng sống động...

 

    Ngoài ra, nông thôn châu thổ tới nay còn lưu giữ không ít tập tục cổ hủ khác cần phá bỏ: tệ cỗ bàn, cưới xin, ma chay tốn kém (Bộ phim truyện truyền hình "To nhất làng"(2) được phát lại nhiều lần trên các kênh TH Trung ương và địa phương đã miêu tả tệ nạn cưới xin chạy theo tâm lý khoa trương, trả nợ miệng, và một xu thế của thanh niên nông thôn mới phản đối kịch liệt tập tục đó! )

 

    Tới đoạn sông Cái chảy qua một làng cổ, tôi chợt nhớ đến câu chuyện bi thảm về một người con gái "vi phạm lệ làng" vào năm 1911 mà nhà nghiên cứu Toan Ánh tả lại trong bộ sách "Nếp cũ": cô gái hoang thai, bị làng gọt đầu, bôi vôi đặt trên một cái bè chuối có mấy phong bánh khảo, rồi thả trôi trên sông... Những chuyện như vậy đã trở thành ký ức đau buồn.

 

     Mấy chục thập kỷ qua, dòng sông Cái đã được chứng kiến sự thay da đổi thịt từng ngày của những làng quê châu thổ Bắc bộ. Hơn 70 năm trước, tiến sĩ P. Gourou dự báo về mức độ tăng dân số gấp đôi vào cuối thế kỷ XX tại châu thổ Bắc Bộ và lo lắng: "Vùng châu thổ vốn dĩ hiện nay đang không nuôi được đầy đủ 430 người trên một cây số vuông, làm sao mà lại có thể cung cấp cho những nhu cầu của một dân số đông gấp đôi!" - "Có thể coi như chắc chắn là người nông dân sống ở giới hạn của đói kém và nghèo khổ" (Người nông dân châu thổ Bắc kỳ). Dự báo về tăng dân số thì đúng, nhưng mối lo ngại của ông lại không hề xảy ra, vì châu thổ sông Hồng không những giải quyết được đủ ăn mà còn dư thừa để xuất khẩu !

 

    Sở dĩ châu thổ sông Hồng đã và đang giải quyết được vấn đề sản xuất nông nghiệp của mình vì đã thực hiện được một điều mà P. Gourou từng mong mỏi đề xuất: "Công việc bổ ích nhất đối với người nông dân sẽ là đình chỉ sự phát triển của sở hữu lớn mà thậm chí xoá bỏ những sở hữu lớn đang tồn tại, nếu cân bằng những đạo luật về ruộng đất nhằm tránh cho những nguồn lợi nghèo nàn của người nông dân trên mảnh đất quá nhỏ bé còn bị thu hẹp hơn nữa bởi việc phải nộp tô" (Người nông dân châu thổ Bắc kỳ). Như vậy là, sau khi đã thử trải qua nhiều mô hình sản xuất khác nhau, châu thổ sông Hồng đã quay trở về với nền kinh tế gia đình, tạo tiền đề cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp thành công. Và sự quan tâm thích đáng cùng những chính sách ngày một phù hợp với thực tiễn của Nhà nước đối với nông thôn nói chung, đối với châu thổ sông Hồng nói riêng đã góp phần quan trọng đưa nông thôn VN bước vào thời kỳ phát triển mới. Tiến sĩ Salvatore Diglio của trường Đại học phương Đông Naples Italia đã tổng kết trong bài "Vai trò của Nhà nước trong chính sách nông nghiệp của VN": "Không còn nghi ngờ gì nữa, vai trò của Nhà nước đối với nền nông nghiệp VN trong những năm qua đã có những thay đổi quan trọng. Kể từ cuối thập niên 1980, các hộ nông dân đã nổi lên như là các đơn vị sản xuất nông nghiệp chủ yếu, và thị trường đã trở thành động lực quan trọng quy định giá cả nông phẩm. Nhà nước vẫn là người đóng vai trò chính trong khu vực kinh tế nông thôn (về sở hữu đất đai, hệ thống tiêu thụ nông phẩm và tín dụng) và... đang duy trì ảnh hưởng to lớn của mình trong quan hệ giữa nông dân với thị trường trong và ngoài nước" (Các nhà VN học nước ngoài viết về VN)(3)

 

    Nhưng khi trở lại với nền kinh tế gia đình, đồng thời một loạt vấn đề mới của cuộc sống đã nảy sinh tại châu thổ. Trong bài viết: "Kinh tế hộ gia đình: 10 năm đổi thay ngành nghề tại các xã nông thôn đồng bằng Bắc bộ", nhà khoa học Christophe Gironde (thuộc viện nghiên cứu phát triển Genève, chương trình sông Hồng Hà Nội - Thuỵ sĩ) đã mở đầu như sau: "Sự phục hồi nhanh chóng kinh tế hộ gia đình đã đem lại các thay đổi lớn lao trong nông nghiệp cũng như trong các nghề phi nông nghiệp... Đối với các hộ gia đình, việc phi tập thể hoá có nghĩa là có các cơ hội mới nhưng cũng cả các ràng buộc mới". Sau khi đã khảo sát ba xã gần nhau trong huyện Châu Giang (tỉnh Hưng Yên) và các nhóm kinh tế tại đây, nhà khoa học Thuỵ Sĩ đã đưa ra những kết luận cần thiết giúp các nhà hoạt động chính sách, pháp luật... có thể tham khảo nhằm hỗ trợ sản xuất ở nông thôn châu thổ tiếp tục phát triển (Các nhà VN học nước ngoài viết về VN).

 

     Đặc biệt, trong xu thế phát triển xã hội, khi cơ cấu làng xã cổ truyền đang đứng trước nguy cơ bị phá vỡ, bị xoá nhoà, thì có rất nhiều nhà khoa học với tầm nhìn xa của mình đã đưa ra những ý kiến, những đề xuất đầy tâm huyết và xác đáng. Tiêu biểu hơn cả là tiến sĩ Nguyễn Tùng (thuộc trung tâm nghiên cứu khoa học Quốc gia Pháp) với công trình nghiên cứu: "Phân tích so sánh sự biến đổi nông thôn vùng châu thổ sông Hồng". Sau khi tiến hành khảo sát nhiều năm ở xã Mông Phụ (Đường Lâm) đồng thời so sánh với ba xã khác: Tả Thanh Oai, Mộ Trạch và Đông Ngạc (thuộc Hà Nội và Hải Dương), ông đã rút ra những kết luận khá quan trọng: "Một làng không thể có đời sống khá giả nếu chỉ dựa duy nhất vào nghề nông... Làm sao để có thể tạo ra việc làm ở nông thôn?... Nếu những người nông dân tìm thấy việc làm cho mình, mặc dù được trả công thấp, họ vẫn có thể ở lại trong làng, ngay trong nhà của họ... Như vậy sẽ phát huy được mối đoàn kết truyền thống và sẽ có cuộc sống tốt hơn ở thành phố…" Và nhà khoa học Pháp gốc Việt đã có một đề nghị mang giá trị thực tiễn sâu sắc: "những khả năng của tính đồng nhất của làng xã được biểu hiện qua lòng tự hào về quá khứ, về việc gắn bó với đình làng và với một số nét đặc trưng của dân làng… Vậy thì phải làm gì để cho làng vẫn tồn tại và giữ được bản sắc trong cơ cấu làng xã? Đây là vấn đề cốt lõi vì như kinh nghiệm của lịch sử đã chỉ ra rằng, tính đoàn kết gắn bó của dân làng đã là gốc rễ để người dân Việt gắn sâu vào đất nước và đã tạo nên những ngôi làng VN trong suốt hai nghìn năm, đó là những thành trì thật sự có thể bảo tồn các bản sắc của đất nước trước quân xâm lược" (Các nhà VN học nước ngoài viết về VN). Điều này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi mà “các cuộc xâm lăng văn hoá đang thay thế cho những cuộc xâm lăng diệt chủng” - theo cách nói của một chính trị gia quốc tế (4)!

 

    Nhưng, điều mà những trí thức VN thật sự cảm thấy lo lắng hơn cả, chính là sự vững bền trong tương lai của các gia đình truyền thống VN tại nông thôn - có thể coi là cái gốc của bản sắc dân tộc. Cách đây hơn hai phần ba thế kỷ, học giả người Pháp Léopold Cardière trong chuyên luận công phu "Gia đình và Tôn giáo người Việt" đã có những dòng viết đầy tâm huyết và đáng trân trọng: "Quả là có nhiều nguyên nhân giải thích sự suy thoái luân lý hiện nay; nhưng một trong những nguyên nhân mãnh liệt nhất đó là việc buông lỏng những mối dây liên kết của gia đình; đó là việc cá nhân thoát khỏi ảnh hưởng giáo hoá của gia đình được hình thành như một cơ chế mà ở đó người sống noi gương kẻ đã chết, ở đó mỗi thành viên đều có trách nhiệm với danh dự chung của mọi người". Kết thúc chuyên khảo, ông thốt lên như một lời kêu gọi: "Xin đưa ra một ước nguyện là xin đừng sử dụng bất cứ biện pháp nào có nguy cơ làm yếu gia đình tại xứ Việt này, trái lại hãy củng cố nó bằng mọi cách! Than ôi! liệu có được chăng?" (5)

 

    Nông thôn Bắc bộ với những vấn đề nóng bỏng cho đến hôm nay càng có sức hấp dẫn đối với các nhà văn, các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hoá, xã hội học, dân tộc học… trong nước cũng như nước ngoài. Trong công trình "Các nghiên cứu về làng VN", tiến sĩ Hà Lan John Kleinen của trường Đại học Amsterdam có nhận xét lý thú có thể mở ra một khoảng rộng cho việc tìm hiểu những gì đang diễn ra đằng sau luỹ tre xanh: "… làng thường được coi như là nơi sống ẩn dật của những người dân quê sau luỹ tre làng từ thời xa xưa, các truyền thống được giữ nguyên vẹn, người nông dân thì được mô tả như những người mộc mạc, thẳng thắn và bảo thủ. Văn hoá làng và các phong tục làng được coi là mang tính nội tại và tính truyền thống sâu sắc. Các ấn tượng như vậy là sai lầm... Làng VN đang trải qua những thay đổi sâu sắc. Đôi khi các thay đổi này diễn ra chậm đến mức mà để biết nó, người ta phải xem xét một khoảng thời gian rất dài cùng với vô vàn các sự kiện của lịch sử..." (Các nhà VN học nước ngoài viết về VN).

 

    Song, những thay đổi sâu sắc này lại đang đứng trước những hệ lụy đau lòng do việc mất đất để làm khu công nghiệp, sân golf... ( Xin tham khảo bài viết xúc tích và thời sự của nhà văn Nguyễn Quang Thiều: "Tiền bạc, ruộng đồng, và... thân phận của người nông dân" - lethieunhon.com). Những điều này đang cấp thiết đòi hỏi phải có một chính sách vĩ mô thích hợp và nhân đạo về chế độ ruộng đất...

 

     Và đằng sau lũy tre xanh ngàn đời kia hiện đang diễn ra những chuyện khiến ta choáng váng được kể lại đầy rẫy ở bất kỳ tờ báo chính thống hàng ngày nào: cha giết con, chồng chém vợ, thầy giáo bị học trò làm hại, gia đình bệnh nhân đánh thầy thuốc, tội phạm vị thành niên ngày càng tăng, nông dân bị chiếm đất ồ ạt đi khiếu kiện... Các vùng quê yên tĩnh đang tràn lan sự dối trá, lừa đảo; chuyện chạy chức chạy quyền, cúng bái cầu tài cầu lộc, mê tín dị đoan tràn ngập; tệ chặt chém người tiêu dùng và khách du lịch trở thành bệnh kinh niên; cán bộ xã, tỉnh đánh bạc mỗi ván ăn thua từ hàng trăm triệu tới hàng tỉ đồng… Sự thao túng của các nhóm lợi ích ngày một trắng trợn, và hố sâu phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn, tới mức độ rất dễ dàng bùng nổ xung đột gay gắt trong lòng nông thôn của xã hội đương đại Việt Nam! Những lũy tre làng đang dần mất đi để thay vào đó là "hào lũy" của chủ nghĩa cá nhân cực đoan nhất được kích thích bởi kinh tế thị trường không kiểm soát - hoặc kiểm soát một cách hình thức! Có dư thừa thóc lúa để xuất khẩu thì cũng sẽ trở nên vô nghĩa - nếu như cứ mãi ở trong cái "hào lũy" đó, nhân tính sẽ bị mòn mỏi, những giá trị tinh thần tốt đẹp được kết tinh ngàn đời sẽ dần phân hủy, nát rữa, mọi thứ luân lý đạo đức mới đưa vào nhằm "giáo hóa" dân chúng sẽ chỉ tạo thêm sự mệt mỏi và góp phần nuôi dưỡng tâm lý giả dối phát triển thành căn bệnh ung thư ác tính... Điều quan trọng giờ đây là phải phá bỏ cái "hào lũy" đó đi bằng mọi giá!

 

    Nhưng trước hết cần phải tháo dỡ, dù là một cách đau đớn - những rào cản trói buộc quyền tự do dân chủ thực sự, xây dựng một chế độ pháp quyền lành mạnh mà trong đó tất cả mọi người - không từ bất kỳ ai đều bình đẳng trước Pháp Luật. Song, những điều đó đang bị vướng víu bởi muôn vàn quy định không viết thành văn bản, chúng có sức mạnh ma quái còn hơn mọi hương ước từ xưa trong các làng quê - bởi các nhóm lợi ích cố kết với nhau hình như đã bắt đầu mang màu sắc của "Mafia"...

 

     Tôi đành mượn lời của Léopold Cardière: "Than ôi! liệu có được chăng?"

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

___________________________

1. Người nông dân châu thổ Bắc kỳ, Nxb Trẻ, Tp. HCM, 2003

2. Hãng phim THVN (VFC) sản xuất năm 2003, Kịch bản & Đạo diễn: MA NAT

3. Các nhà VN học nước ngoài viết về VN,  Nxb Thế giới, Hà Nội 2002 ( Hai tập)

4. Dẫn theo Phan Ngọc : Một cách tiếp cận văn hoá, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1999

5. Léopold Cardière, Văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng VN , Nxb Thuận Hoá, Huế, 2006

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1211)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 1063)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 1056)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1539)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 2099)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1865)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 1977)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 1945)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 1236)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 2092)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7562)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14612)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13459)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14000)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1537)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1863)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 1976)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 1945)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
(Xem: 1061)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2098)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1470)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 1911)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1211)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 1990)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 2622)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 4256)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
28 Tháng Hai 2026(Xem: 1056)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1236)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 1661)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2169)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10124)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26636)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33236)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33263)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7881)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10320)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1537)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3283)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3199)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3112)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3462)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4869)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4458)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5767)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.