- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,493

CÔ ĐƠN

28 Tháng Mười 20205:47 CH(Xem: 4141)

 

HongLinh- bw1
Chân Dung Hồng Lĩnh


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu. Hồng Lĩnh, bút hiệu và cũng là tên thời đi học tại trường nữ trung học Trưng Vương. Nguyễn Ngọc Bảo Phương, hiện đang sống tại Kansas đã từng làm việc trong bộ giáo dục (USD 259) về phát triển Nhi Đồng trước tuổi đến trường, tốt nghiệp Cử nhân về giáo dục tuổi ấu nhi (Early childhood education tại MWSU Misouri và cao học về Phát triển tuổi ấu nhi (Early young childhood development) tại trường Đại học WSU tại Kansas. Hiện đang cộng tác với đài phát thanh Việt Nam tại Oklahoma cho chương trình Trên Vạn Nẻo Đường.

Hồng Lĩnh đã viết một số truyện dài, truyện ngắn. Đã có bài đăng ở Tạp chí T. Vấn và Bạn Hữu, Báo Mê Linh của cựu nữ sinhTrưng Vương…

Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu của Hợp Lưu  truyện ngắn “Cô đơn” của tác giả Hồng Lĩnh.

Tạp Chí Hợp Lưu

Cũng gần một chục năm, khi tôi còn trụ tại trường tiểu học Washington. Văn phòng của tôi chuyên về nghiên cứu và hướng dẫn phụ huynh trong việc giáo dục nhi đồng.  Có một ngày, một cô giáo( ở đây dạy mẫu giáo hay trung học cũng phải tốt nghiệp ít nhất là cử nhân và trung bình là cao học về giáo dục hay chuyên ngành về sư phạm).  Cô ấy gõ cửa văn phòng của tôi và hỏi tôi có thể giúp đở cô ấy không?

 

Tôi đi theo cô ấy vào đến lớp học Pre-K ( lớp này cho các trẻ em khoảng 4 tuổi và học nữa ngày) Lớp học thường bài trí theo những câu truyện ngụ ngôn, hay những bài đồng dao hay bài hát của trẻ con. Nhìn rất đáng yêu.  Khi bước  vào thì tôi thấy tất cả các người lớn đều bò dưới sàn nhà. Từ ông hiệu trưởng, cô cố vấn tâm lý. Bà y tá và cả cô chuyên ngành về xã hội.  Dưới gầm bàn là một cháu bé trai, người Việt Nam đang khóc dử dội và chui trốn dưới gầm bàn.  Theo lời người cố vấn là đã gọi về nhà nhưng không ai nhận điện thoại.  Mọi người thật sự đang rất lo lắng…Tôi nghe trong tiếng khóc của cháu bé là gọi “mẹ ơi”.  Có lẽ ngày đầu tiên đến trường, cháu không hiểu mọi người nói gì, sợ hải, cô độc vì mọi người không giống mình, lạc lỏng vì không có người thân chung quanh.  Tôi bò đến gần cháu dưới gầm bàn, sau khi có tất cả thông tin về cháu, tên của cháu.  Sau khi cháu bé nghe tôi gọi tên của cháu bằng giọng của người Việt nam, giống như cháu từng được nghe chứ không phải âm thanh trọ trẹ như những người nước ngoài gọi. Tôi xòe tay ra để làm quen với cháu và nói những gì mà cháu có thể hiểu được và tin tưởng được.  Cháu bảo với tôi là – Con sợ lắm dì ơi, mẹ con bỏ con ở đây…con cô đơn lắm.  Khi nghe đến hai chữ cô đơn từ miệng một bé trai bốn tuổi, tôi thật sự rất ngạc nhiên, vì muốn nói và hiểu hai từ đó có lẽ phải ở tuổi khá lớn và có khái niệm cũng như cảm nhận sâu sắc về nỗi buồn và sự cô độc thì mới có thể nói ra hai từ ấy...  Khoảng vài phút cháu bé mới đặt tay bé vào tay tôi, và cùng tôi bò ra khỏi gầm bàn.  Lúc ấy tất cả mọi người đều thở phào và lúc ấy họ cùng đứng dậy.  Tôi thấy bé đã nín khóc xin phép cậu bé cho mọi người được làm quen với cậu và nháy mắt với mọi người để thực hiện một hành động thương yêu.  Tôi giang tay ra và xin ôm bé vào lòng, sau đó đến cô giáo, ông hiệu trưởng cô cố vấn tâm lý, bà y tá, và cô nhân viên xã hội đều được cậu bé cho phép mọi người trong phòng ôm bé.  Cô giáo là người sung sướng nhất và tôi nhìn thấy mắt cô đầy lệ.

Những ngày sau, tôi thấy cậu bé đã quen với trường lớp, nắm tay cô giáo đi vào lớp học, cô giáo mĩm cười và đưa ngón tay cái lên ra dấu là hiệu quả rất tốt… Và cho đến một ngày, sau khi đi họp trên bộ giáo dục trở về lại văn phòng, cậu bé chờ tôi trước của văn phòng của tôi trên tay có một cây kẹo dành riêng cho tôi.  Cây kẹo ấy tôi vẫn giữ trong văn phòng cho đến ngày rời khỏi trường. Nhưng tôi vẫn mang theo một thắc mắc mà chưa thể giải đáp được là ở nhà của cậu bé ấy có thường xuyên coi phim bộ tình cảm không? Nỗi cô đơn của bé được phát xuất thành ngôn ngữ đó là từ cảm nhận cô độc của mình?  Bé bây giờ có còn cảm nhận điều đó nữa không? Nhiều lúc đứng nhìn lũ trẻ đùa giởn trong ấy có cậu bé người Việt Nam, có khi cậu bé đứng lại ở một góc sân nhìn bạn bè đùa giởn tôi lại nghĩ đến hai chữ cô đơn và tôi thường tự hỏi với chính mình là từ bao giờ tôi mới bắt đầu có cảm nhận được sự cô đơn của chính mình và cậu bé ấy có thật sự cô đơn khi ở vào lứa tuổi ấy không?

 

Khi tôi và người bạn thương yêu nhất chia tay nhau, cả hai chúng tôi đều rơi vào trạng thái cô đơn khủng khiếp, mỗi khi đi ngang qua nhà của người ấy vô tình, hay cố ý.  Những bước  chân rời rạc không lối cứ dẫn tôi về lại con đường rợp bóng cây xanh, và buổi tối của thời tiết miền Bắc Mỹ, của mùa thu rét mướt, tôi vẫn đứng lại để nghe một tấu khúc nào đó và để cảm nhận được những ngón tay cô đơn, giận dỗi hay buồn bả lướt trên những phím đàn…âm thanh đó tan vào trong tôi và vây tôi trong nỗi cô đơn khủng khiếp của những ngày chỉ còn mỗi một mình.  Cái lạnh giá của mùa thu ẩm ướt vẫn không thể sánh được nổi đơn độc, khi đi về một chỗ không còn ai để cười để nói, tíu tít những chuyện chẳng ra đâu...nhưng khi chia xẻ với người bạn đường thì lại ấm áp và  vô cùng tận…

 

Mùa thu là lúc tôi thường mang khăn quàng áo ấm và giầy cao cổ, lang thang trên những con đường có hàng cây phong, nhặt những chiếc lá phong thật đẹp vừa ngả từ màu vàng, sang đỏ rồi nâu để cất vào chiếc hộp để chép những bài thơ của mình và giấu nó đi như những nỗi xấu hổ của riêng mình…và có một ngày tôi cũng nhận được một hộp quà đầy lá phong, từ người bạn đã xa xôi.  Tôi lại nhớ đến những ngón tay thuôn dài lướt trên những phím đàn trắng muốt, và hơi thở dài…gần tựa một nụ hôn.

Ngôi chùa trên núi chỉ có một cây phong duy nhất, không còn lá cho dù mùa thu chỉ mới bắt đầu, có lẽ vì những ngọn gió từ trên cao mang theo gió bão cho nên lá không còn ở lại với cây khi trời vừa mới chớm thu, của cuối tháng chín, hay tiếng chuông vô thường của vị sư già ở mỗi sớm mai đón bình minh và từ giã hoàng hôn cho nên những chiếc lá vàng ấy đã hiểu được định luật của vô thường nên thường rơi xuống sớm hơn và chiếc hộp của người ấy đã đầy những chiếc lá.

 

Chúng tôi gặp lại nhau như một hẹn ước, và ngồi trên đỉnh núi, lắng nghe tiếng chuông chùa ngân trong cảnh hoàng hôn như một định ước không lời, tìm về nhau bằng hư vô tịnh tại…

 

Rồi cũng ở nơi đó chúng tôi lặng lẽ rời nhau, không có một dắt tay dạo phố như ngày xưa, một quán kem ở ngả tư, anh cứ lau giúp tôi mãi vết kem trên mũi, hay ngồi với tôi trong một quán vắng nhìn ra biển.  Không hiểu sao khi nhìn biển và núi tôi lại nhớ đến anh, nỗi nhớ cồn cào đến tận cùng gan ruột.  Nó quặn thắt như một cơn đói hướng về quá khứ, nó mênh mang của chập chùng để rồi vùi lấp đi niềm vui của hiện tại và rỗng không cho định hướng của tương lai.  Chiếc bóng của anh đã tràn ngập trong tôi và giữ tôi chìm sâu trong đó không thể thoát ra cho dù đã trốn chạy.

 

Cứ như thế tôi đã không còn có thể yêu được ai nữa …

 

HỒNG LĨNH

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1144)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1206)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1896)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5926)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5911)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13244)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30178)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81277)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20290)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
26 Tháng Chín 20219:17 CH(Xem: 46)
những sớm mai tắt nghẹn / thơ giúp tôi cất tiếng nói / thoát ra từ những khung cửa khác nhau / cuộc hẹn hò cùng hoa trắng / đến sự chia tay với thư xanh / những bạn thơ văn hào sảng / mỗi số phận viết lên một đời người / tuổi xế chiều đem lại bao dung / và chữ nghĩa khiến chúng ta gần lại