- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NAM HẢI ĐẠI TƯỚNG QUÂN

02 Tháng Ba 202011:18 CH(Xem: 44874)

CA ONG
Cá Ông Cứu Người- Ảnh Internet



Làng tôi có hai cái lăng, lăng câu và lăng Các Lái. Hai lăng trên là để phân biệt ngành nghề khác nhau nhưng thờ chung một vị thần: Ngài Nam Hải Đại Tướng Quân.

 

Hai Lăng, mỗi lăng chiếm một vị trí khá rộng ở giữa làng. Bên trong, ngoài những bài vị thờ cúng còn trưng bày các hiện vật như đao, thương, các loại binh khí của các chiến binh thời xa cũ. Ở chính giữa điện, xương cốt các ngài được đặt trang trong trong hòm kính như khi còn ở đại dương. Qua những mùa chinh chiến bảo vệ mùa màng cho ngư dân, sau những trận giao tranh với mọi thế lực thù địch, các ngài bị vài vết thương chí mạng nên lui về hậu phương gửi gắm nắm xương tàn trên vùng đất hiển linh này. Khi ngài xô dạt vào bờ, ngư dân làng tôi với tất cả lòng tôn kính, vinh danh thân xác ngài như là báu vật của đất trời. Người nào phát hiện đầu tiên có vinh dự bịt chiếc khăn vĩnh hằng. Trước bàn thờ đặt bài vị, dân làng tôi tề tựu bên xác ngài, một là để ngưỡng vọng vị tướng tài ba, hai là có cơ may nhận được món quà quý là, khi ngài hắt hơi, ngài ngáp lần cuối cùng, cái xác vài ba tấn rung rinh cả mái lăng, những lúc ấy nước dãi ngài  bắn ra là người ta hứng lấy, nước phép thần thông quãng đại cứu độ người đó tai qua nạn khỏi và đem sung túc cho mùa màng.

 

 

Ông Sáu tôi, tục gọi già Mức. Vì có chút thành tích nên được dân làng tín nhiệm cử làm thủ đền lăng Các lái. Số là, trong một lần ra bãi ông có cơ may gặp ngài xô dạt vào bờ. Theo lời ông kể lại, lúc đó ngài yếu lắm và chỉ cách bờ vài ba ngọn sóng cồn, ông lặng lẽ bơi bên cái thân ước độ vài ba chục sãi tay. Già Sáu khấn:”Ngài linh thiêng thì để cho con cháu rước vào bờ.” Tuy vậy, ngài chưa vội lên bờ vì chưa đúng giờ linh tháng linh hoặc cung mạng ông không hợp. Hai ngày sau ngài vẫn lững lờ bên mép sóng và đang như là tịnh dưỡng vết thương lần hồi lấy lại phong độ cũ. Đúng năm ngày sau, vết thương chừng kín miệng, sức khỏe hồi phục, ngài lượn bên mép sóng vài vòng rồi lặn khuất ra khơi.

 

Câu chuyện tưởng như dừng lại đó.

 

 

***

 

 

 

 

 

Ông tha nhưng bà không tha

 

Làm cho cái lụt hăm ba tháng mười.

 

 

Buổi sáng tháng mười năm đó, già Mức đi biển. Một ngày như mọi ngày, không khác biệt. Một buổi hừng đông dong thuyền ra khơi, biển yên lành, gió ngon trớn. Chiếc thuyền nhỏ gắn máy hiệu Yarmar vận hành đều đều, tiếng máy nổ ròn rả đẩy cái thuyền lướt trên con sóng, bánh lái điều khiển kêu xè xè dưới làn nước.

 

Mọi việc diễn ra theo dự kiến, chiêc thuyền dần ra khơi xa, bãi bờ lúc này chỉ là đường viền theo chân trời, hàng dương liễu chắn sóng nhập nhòa đan xen vào dãy núi xa xanh. Phía trước chân trời xa tắp, mây từng lọn được xếp chồng khít lên nhau tạo bức tranh vân cẩu có trong trí tưởng tượng của ta.

 

Địa điểm đánh lưới được định vị theo kinh nghiệm lão nông tri điền trên mảnh ruộng mình, theo đám mây ti tích ti tầng, theo hướng gió nam ngang nồm dọc, tháng bảy dòm ra tháng ba dòm vào. Tiếng máy nhỏ dần lại, chân vịt không còn đạp nước, chiếc thuyền đang ngon trớn lướt phăng phăng theo quán tính, chẻ sóng làm tư một đoạn ngắn rồi ngừng hẳn.

 

“Đánh lưới thôi, chú nhỏ.”

 

Già Sáu “lịnh” cho người bạn thuyền.

 

 

Chú nhỏ theo lịnh ông, mở khoang, sắp xếp lại những tấm lưới, thao tác thành thạo của kẻ chuyên nghiệp như mọi ngày. Tấm lưới đầu tiên ném xuống nước, phao nổi một dần xa, kế tiếp nhau trôi trên con sóng, cờ hiệu chỉ còn là vết chấm đỏ phất phơ trên làn nước biếc. Gió hây thổi đẩy con thuyền nhẹ tênh.

 

Vài giờ sau, mây đen từng lọn lù lù xuất hiện ở đằng đông , gió đổi chiều, mặt nước xao động bởi những con sóng nhỏ, đẩy con thuyền dập dềnh ngả nghiêng theo con sóng. Chú nhỏ nhắc chừng già Mức.

 

 

“Kéo lưới chú Sáu à, trời sắp có dông.”

 

“Chầm chậm chút nữa, trời xâm xẩm , nước đùng đục có khi lại gặp cá.” Ông Sáu trả lời

 

 

 

Chú nhỏ ngồi trước mũi thuyền đăm đăm nhìn về phía chân trời xa. Già Sáu ngồi đằng lái, chậm rải quờ vào túi áo tìm cuộn giấy quyến, thuốc rê, lão quấn điếu thuốc loa kèn to bằng ngón tay cái, đưa lên lưỡi liếm qua liếm lại như là chất keo kết dính. Đóm lửa xòe lên, lão rít thuốc rồi nhả khói lên trời , mùi khét lẹt.

 

“Kéo.”

 

 

Tiếng máy nổ ròn rả, con thuyền không còn lang thang tự do, nó được điều chỉnh theo hướng nhất định, theo bánh lái và chân vịt đạp nước.

 

 

Thằng nhỏ lấy cây sào quờ cái phao đậu tiên, kéo chậm rải từng mắt lưới. Vài ba con chuồn nhảy đành đạch trong khoang, rồi con nhồng, con hố con rựa được kéo lên theo mắt lưới. Công việc đều đều, mọi thao tác chính xác như cái mày, lưới kéo được nửa giàn, cá như trắng trong khoang thuyền.

 

 

Cơn dông ập đến, gió thổi mạnh, cái thuyền lắc lư, tròng tránh không theo một nhịp điệu nào, công việc chậm lại , khó khăn hơn. Nửa giàn lưới còn ở dưới nước, lão bỏ mặc để điều khiển con thuyền chạy chuồi theo con sóng.  Bầu trời xám xịt, mây đen ngùn ngụt giăng tỏa trộn lẳn với màu nước xanh thẩm. Mưa nặng hạt, trải xuống một màu trắng đục, cái thuyền như bơi giữa không gian ngập ngụa nước. Hai sinh mạng như hai con ruồi chới với giữa tô mật đường đặ quánh, chân như quến chặt vào đó .

 

 

Tuy vậy, với bản năng sinh tồn, hai sinh mạng bám vào cái thuyền, cố điều khiển nó để tìm lấy sự sống. Già Mức ngồi sau ghì chặt bánh lái, chỉnh mũi thuyền theo linh cảm trực giác của người đi biển lành nghề, xuôi theo bọt trắng, xuôi theo con gió bất chợt, theo cơn mưa xối xả dội vào mặt, vào mắt bỏng rát.

 

 

Một tiếng “rắc” khô khan, gãy gọn, bánh lái gãy làm đôi, tay lão nhẹ tênh. Chiếc thuyền mất phương hướng quay theo con sóng,ngất ngư, dâp dềnh như chiếc lá, máy yarmar F10 ngập nước, tắt lịm tự hồi nào.

 

Già Mức chắp hai tay lên trời, quỳ dưới nước khấn nguyện các thần linh của biển cả:

“Xin ngài Nam Hải Đại Tuớng Quân phù hộ , độ trì, cứu giúp cho hai sinh mạng này tai qua nạn khỏi. Xin các bà Cô, ông Cậu, kẻ khuất mặt người khuất màycó linh thiêng hiển hiện cứu giúp hai sinh mạng khốn khổ này!”

 

Lão khấn nguyện trong dòng nước mắt, lão réo các vị các chức sắc, uy quyền của biền khơi, của đất trời, của bất cứ nhân vật nào bổng hiển hiện trong đầu lão hoặc cố nặn ra một nhân vật nào đó rất ngẫu nhiên như chính lão đã từng thấy trong thế giới đó vậy.

 

 

“Có ta đây, có ta thì con không còn phải sợ hãi! Lời khấn nguyện của con đã thấu cùng biển khơi, đã đánh động ý thức tâm linh của loài ngư tộc. Nghe tiếng nguyện cầu thắm thiết của con, ta động lòng trắc ẩn, lòng xốn xang đã một lần sợ hãi nên dù ở xa ngàn trùng vẫn vội đến bên con!”

 

Lão Sáu nghe tiếng vọng từ ngoài khơi dội về, hốt nhiên bình tâm trở lại. Ngơ ngác nhìn sâu dưới lòng nước, dưới chân lão là một lớp biểu bì mềm mại, trơn láng như đang đứng trên thảm thực vật mịn màng , vững chải. Thảm thực vật đó có lúc nâng lão lên trên đầu ngọn sóng, có lúc ngập chìm cả toàn thân. Dù vậy, lão bây giờ an toàn hơn bất cứ chỗ nào. Niếm vui sướng chợt ùa dâng và quên hết mọi sự kiện diễn biến vừa qua. Lão không còn nhớ đến chiếc thuyền, đến thằng nhỏ, người bạn thuyền có cơ nay như lão, có bình tâm nhìn rõ nguy cơ tiềm ẩn cái chết để tìm lấy sự sống.

 

 

Lúc này lão không có khái niệm thời gian, mù mờ nhân ảnh, hư thực trong suy nghĩ, chai cứng trong cảm xúc, cơ thân phụ thuộc vào ngoại cảnh, bỏ quên hết mọi biến động xung quanh mà dồn hết tâm trí lằng nghe lời phán truyền của biển khơi, lời phán truyền đó thân thiết , ngọt ngào không nghe bằng tai mà bằng giác quan nào đó ngoài thân xác phàm tục.

 

 

Lời phán truyền rằng:”Hỡi đứa con của biển, con người trung thực, nhân hậu. Ngươi được nuôi nấng bằng sữa của trời, mật ngọt của biển, bằng chất tinh túy của vạn vật. Thể xác ngươi là kết quả của đấng tạo hóa đã dày công nắn nót, xây dựng qua hàng tỉ năm ánh sáng, chắt lọc từ bụi của vũ trụ, gạt bỏ mọi cặn bả, chiết lấy phần tinh túy nhất để tạo hình thể ngươi như ngày hôm nay. Hình thể ngươi vẹn toàn, hoàn mỹ đến mức các vị chức sắc tren trời, các ngài ngự ở biển khơi lấy làm mãn nguyện đã tạo nên tác phẩm để đến ngày hôm nay, các vị không còn bổ sung hoặc thêm bớt một bộ phận nào.

 

Hỡi sinh vật bé bỏng của ta. Ngươi hãy quên đi nỗi sợ hãi, chính nó đã làm bào mòn, thui chột sức mạnh tiềm ẩn trong lòng ngươi. Lúc ngươi bất chợt thốt lên lơi khấn nguyện là nỗi sợ hãi bùng lên ghê gớm, các cơ bắp hội tụ đến cực điểm để thốt lên lời mà đức thánh thần động lòng trắc ẩn . Và ta, dù ở xa nghìn trùng, tiếng khẩn cầu của ngươi như làn sóng phóng thanh xuyên sâu vào lớp nước, rung lên lòng thông cảm , xót xa. Bây giờ, ngươi hãy quên đi nỗi sợ hãi mà chỉ có mỗi bản thân ngươi mới xua tan được nó. Đức thánh thần ở trên trời, các vị chức sắc ngự ở biển khơiđã tác tạo nên ngươi nhưng các vị bất lực trước mọi cảm xúc của ngươi. Lúc ngươi cười , ngươi khóc, ngươi oán trách, yêu thương ,căm giận. Những lúc ấy, các vị há hốc người mà ngắm, mà ngạc nhiên vì các vị không thể điều khiển mọi cảm xúc đó.

 

 

Hỡi đứa con tinh thần của ta!. Sự sợ hãi trong lòng ngươi như áng mây đen giăng kín bầu trời , sấm sét và những cơn mưa như trút nước đã giáng xuống tâm hồn khiến ngươi bật lên lời khấn nguyện. Bây giờ nó đã tan đi, tâm hồn ngươi trở nên sáng sửa, đầy ắp niềm vui sướng, và ngươi sẽ nhớ mãi nó khi còn ở trên cõi đời này. Ngươi đừng vinh danh ta mà hãy khơi dậy sức bật của chính bản thân ngươi, sức bật đó có trong tận cùng sâu thẳm trái tim ngươi. Muốn tận dụng được nó, cần rèn luyện ý chí ngoan cường, khơi dậy nó từng chút một rồi ngươi sẽ được toại nguyện. Ta tặng báu vật này và mỗi khi cần vào nó, ắt có ta bên cạnh. Chào ngươi, hỡi đứa con tinh thần thân thiết của ta!”

 

 

Ánh nắng ban mai đánh thức thân xác gìa Mức. Lão lồm cồm ngồi đậy và viiệc đầu tiên là ngắm nhìn báu vật đang nắm chặt trong lòng bàn tay, trrong nó nhỏ xíu như hạt lựu, trắng mịn như chiếc răng sữa của đứa trẻ mới thay. Lão ngắm nghía  rồi lại chà xát, rồi cắn, rồi ngửi để xác định việc xảy ra hồi đêm là có thật.

 

***

 

 

Khi già Mức còn liêu xiêu bãi bờ nào đó thì ở nhà bà Sáu lập bàn thờ vọng tưởng ông. Bà chọn ngày hăm ba tháng mười là ngày giỗ hàng năm. Trên bàn thờ ngoài những đồ lề lỉnh kỉnh, tấm hình ông trong thẻ chứng minh nhân dân được đặt trang trọng giữa bàn thờ.

 

 

Ba ngày mở cửa mả(ông có mồ mả đâu để mà mở). Nhưng dù vậy, bà Sáu vẫn chon khu đất trong nghĩa địa làng, đắp lên một cái ụ như muôn ngàn cái ụ khác, như bao kiếp người sống trọn ở đây rồi gửi thân xác trong một góc chật chội. Kẻ dương gian, người âm phủ chỉ cách nhau ba thước đất, niềm thương nhớ lâu dần rồi cũng phôi pha.

 

 

 

Chọn khu đất và hướng nằm của mả, với gia đình bà Sáu là vô cùng hệ trọng, biểu hiện sự an nguy cho gia đình.Sự giàu sang hay thân bại danh liệt đều phụ thuộc vào chổ nằm của đấng bề trên, của người trực hệ. Ông bà, cha mẹ an vị trên mảnh đất tốt, cao ráo , nơi long giao hổ đấu, ắt sau này con cháu sẽ vinh hiển giàu sang. Vì lẽ đó, bà Sáu mời một vị pháp sư, người chăm lo linh hồn ở cõi dưới. Mả của ông Sáu nằm chênh chếch hướng tây nam, chân duỗi về ngọn Gành Gà quê tôi, đầu và chân mả được định vị bằng hai hòn đá núi, áng chừng không bị lạc sau này. Nằm bên cạnh ông là mô đất của thằng nhỏ, người bạn thuyền, hai linh hồn xiêu bạt.

 

 

Tôi hòa vào những người quanh xóm, phúng điếu ông. Mọi người đều buồn, có người nước mắt rơi lả chả bởi tiếng khóc nỉ non, ai oán của bà Sáu gây rối rắm, gợi xúc động lòng người.

 

 

Tôi thắp ba nén nhang, khấn vái: ”Ông Sáu sống khôn thác thiêng về chứng giám tấm lòng thành của cháu. Khi ông sống, ông thật thà, nhân hậu, sống có tình có nghĩa với xóm giềng, ông có trách nhiệm là thủ đền lăng Các Lái, cái danh vị đó giờ biết giao cho ai. Bây giờ ông trở về với các ngài, phụng sự nơi chín suối, thân phận ông đã an vị. Còn chúng tôi, nơi hồng trần này là sinh ký tử quy, Ông sống khôn thác thiêng xin phù hộ cho chúng tôi.”

 

 

Tôi cắm nhang vào lư đồng, sụp lạy bốn lạy, vái bốn vái. Khi cắm nhang, tôi nhìn gương mặt ông qua tấm hình thẻ chứng minh nhân dân, trông sáng sủa, tươi tắn, nó rất khác với mọi tấm hình được đặt trên bàn thờ, dù được tô vẽ như thế nào nhưng khó thay đổi đôi con mắt, đôi tròng con ngươi vỡ ra, một điểm sáng đục mất sức sống. Nhưng với ông Sáu, linh cảm tôi chừng như thức dậy, vỡ òa một niềm vui rất thật. Nó như báo với tôi rằng Ông Sáu vẫn còn hiển hiện trên cõi đời này.ông đang lang thang ở đâu đó, xuồng ông mắc nạn ở bãi bờ nào đó và được mọi người chăm sóc .Tôi đoán một thời gian ngắn ông sẽ trở về, sự tiên cảm này tôi nào thổ lộ cùng ai.

 

Sau ba ngày mở cửa mả, người đến thăm thưa thớt dần, khói nhang trên bàn thờ bớt nghi ngút, chỉ những người thân thiết như tôi vẫn thường đến thăm, an ủi, động viên người đàn bà góa bụa.

 

Những người đồng cảm tương lân, mẹ tôi cũng là người đàn bà góa, cha tôi chết ngoài biền khơi như cảnh bà Sáu bây giờ. Xóm tôi, đàn ông thường chết sớm, sinh nghề tử nghiệp, chết bệnh thì ít mà nghiệp thì nhiều, cho nên người ta gọi xóm Bến Đò Xứ này là xóm bà góa. Đàn bà ở đây khỏe, chắc chắn, khí hậu vùng sông nước luôn tém vén cho họ cái đẹp rắn rỏi

 

 

Nhìn gia cảnh bà Sáu, bà luôn ủ dột, vành khăn trắng xì xụp trên đầu, trong bộ tang chế nhàu nát, luôn quờ quạng trên nền nhà hoặc nhìn trân trân trên bàn thờ như kẻ mất hồn:”Sao ông chết sớm hở ông! Ông đi không một lời, ông bỏ tôi côi cút. Hồn ông có linh thiêng cho tôi được tìm xác để mồ yên mả đẹp.”

 

 

Lễ cầu siêu thất tuần sau khi ông mất. Thầy trù trì Thích Thiện Quang chùa Tám Đặc được bà Sáu mời cầu siêu cho chồng. Lễ cầu siêu diễn ra ba ngày ba đêm. Những đứa con bà luôn trúc trực bên bàn Tam Bảo.Thầy lạy, các con bà cũng lạy, lạy theo tiếng chuông, tiếng mõ của thầy.Các thầy phụ lễ cúng kiến các oan hồn uổng tử. Lời kệ của thấy nghe trầm buồn não nuột, như khóc như than, lời kệ có trong kinh sám hối, kinh vu lan bồn.

 

Sau cơn mưa trời lại sáng. Không ai gặm nỗi buồn đễ sống. Hừng đông đang gọi chúng tôi, biển rì rầm tiếng sóng.

 

 

Những năm tôi còn bé xíu, cha tôi bị tai nạn ngoài biển khơi thì ông Sáu giúp tôi tập tành đi biển. Bây giờ, hẳn nhiên tôi là chổ dựa cho con ông, cùng nương tựa nhau mà sống.

 

Tôi không có của cải gì nhiều, không có câi thuyền gắn máy F10 hiệu Yarmar như ông Sáu. Bởi lẽ đó, nghề của tôi không đi khơi xa cho lắm, nó chỉ là cái xuồng vành, dăm ba tấm lưới mỏng mảnh. Cứ mỗi hừng đông là chúng tôi chèo ra khỏi hòn Gành Gà để giăng lười, bắt những con cá quen sống ở gần bờ, những loài luôn lùi sâu dưới lớp cát để rồi mỗi hừng đông rời khỏi nơi ẩn nập để kiếm ăn. Theo kinh nghiệm của người đi biển là chọn mỗi hừng đông, mặt trời chưa ló dạng, ánh sao mai còn lấp lánh phía trời tây, nếu sai trật thời điểm ấy thì đó con nào dính lưới.

 

Ba giờ sáng, chúng tôi có mặt ở bến sông, dóng dây neo hướng mũi xuồng ra biển. Tôi đằng lái, thằng nhỏ đằng mũi, mái chèo khua nước, quậy lên những bọt lân tinh sáng lóng lánh, cả hai mái chèo nhịp nhàng cho kịp buổi hứng đông.

 

 

Cái xuồng bập bềnh một đoạn khá xa mới đến cửa biển. Gặp con nước rươi, xuồng nhẹ sãi bước nhanh nên chúng tôi không gắng sức lắm. Gió thổi lạnh thốc vào lồng ngực, len vào cơ thân khiến tôi quên nhanh cảm giác khoái thèm cái ấp áp, mềm mại nơi nện ấm chăn êm, thèm giấc ngủ nướng trên giường trong mỗi giấc hừng đông.

 

Ra đến cửa lạch, nước chảy xiết, những con sóng mạnh vổ lộp bộp vào mũi xuồng, nâng nó lên cao rồi dúi xuống thật nhanh buộc tôi gồng sức ghì chặt mái chèo chỉnh mũi xuồng theo hướng chính diện con sóng, lơ tơ mơ dễ bị lật. Như con cá chép vượt vũ môn để hóa rồng, xuồng chúng tôi phải vượt ba ngọn sóng cồn, ba lần ứng thí. Và lần ứng thí sau bao giờ cũng vất vả hơn lần trước.

 

 

 

Khi xuồng chúng tôi vượt ngọn sóng cồn thứ ba thì gặp sự cố. Số là, khi tôi nạy mái chèo chỉnh mũi xuồng theo chính diện con sóng đang ầm ào lao tới, nó như con rồng uốn lượn, há cái miệng to tổ chảng ngoạn lấy chúng tôi, còn cái đuôi vẫy đạp lung tung, nước văng tung tóe. Cái xuồng như chiếc lá nâng lên cao rồi đập xuống nghe cái rầm. Tôi chưa kịp trấn tĩnh thì vừa lúc đó có tiếng kêu cứu dưới nứoc:”Anh Ba ơi, cứu tôi với!.”

 

 

Cái xuồng không chìm, nó đã vượt “vũ môn”, nhưng thay vào đó, bạn xuồng tôi, vì sức yếu lại thiếu kinh nghiệm cầm chèo nên bị gạt phăng xuống nước. Dòng nước chảy xiết cuốn hắn nhanh về phía xa. Tôi định nhảy xuống nước nhưng kịp nghĩ lại, nếu cả hai cùng dưới nước ắt sẽ khó khăn hơn, do chần chừ một chút chỉnh mũi xuồng hướng về phía đó. Nhưng chậm mất rồi, lúc đầu hắn con chấp chới trên triền sóng nhưng thoáng chốc tôi không thấy bóng hắn đâu nữa.

 

Tôi thất vọng hoàn toàn, tâm thần bấn loạn. Tôi gào khóc rên rỉ:”Ối trời ơi!”.Tôi tuyệt vọng mò tìm xác hắn, tay tôi chèo nhưng tâm hồn tê dại, nước ngấm vào da thịt tê buốt nhưng trong lòng nóng ran như lửa đốt. Tôi chèo lang thang vô định hướng và mồm luôn cầu khẩn đấng bề trên theo quán tính của người lâm nạn. Bầu trời đã hừng đông,bóng tối đẩy lùi về phía trời tây, khắp mặt biển tỏa nhẹ màn sương khói, tang thương, ảm đạm. Môi tôi mặn chát vì giọt nước mắt của biển đêm.

 

 

 

Trong cơn cùng quẩn, tôi có ý định lao đầu xuống nước thoát khỏi cảnh đau buồn vô hạn này. Nhưng ôi kìa!. Cách cái xuồng tôi vài ba sãi tay, một bóng đen nhờn nhợn nhô lên, cái cột nước khụt khịt, cái đuôi to bằng cái xuồng quẩy đạp trong làn nước . Tôi rú lên khe khẻ:”Ngài Nam Hải Đại Tướng Quân.”. Bên cạnh là thằng nhỏ đang vịn thân ngài, cả hai cùng bơi về hướng xuồng.

 

Khi chúng tôi về bến, bà Sáu chạy ra báo tin là ông Sáu trở về buổi sáng hôm đó. Tôi chỉ còn ngước mắt lên trời với niềm hân hoan không sao kể hết

 

 

Nguyễn Thanh Sơn

12/2006.- 2020

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 354)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 208)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1026)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1073)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 918)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 819)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3061)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1964)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2909)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2419)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9802)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16659)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15653)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16086)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1073)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3061)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2908)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2837)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 918)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5090)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7021)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6256)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 351)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 208)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1026)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2419)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2297)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2123)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2279)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2316)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 819)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13369)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29460)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35608)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10582)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12518)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1964)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2908)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3121)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3168)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3927)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7607)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6976)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9595)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.