- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Dải Hoa Vàng Xấp Xới Ven Sông…

22 Tháng Giêng 20208:09 CH(Xem: 44251)

cay thot not- an giang VN- Nguyen Hoang Nam
Cây Thốt Nốt- An Giang Việt Nam - ảnh Nguyễn Hoàng Nam


Tôi vào giới thiệu sách ở Sài Gòn. Xong việc, mấy ông bạn rủ đi chơi miền Tây. Tôi hào hứng nhận lời ngay, vì thực tình mình mới chỉ nghe người ta tả về cảnh sắc sông nước miền Tây chứ chưa đến bao giờ. Cũng nên đi một lần cho biết.

Mấy hôm liền, bọn tôi lang thang dưới đó. Nhưng thật ra là cưỡi ngựa xem hoa chứ chưa cảm nhận được gì nhiều. Cảnh sắc thôn quê có lạ hơn ngoài Bắc. Còn phố xá thì cũng vậy. Cũng lem nhem nhà ống bán buôn. Cũng lộn xộn giao thông xe pháo. Cũng người thì nhởn nhơ ăn nhậu tối ngày, kẻ thì tất bật kiếm miếng đút miệng. Đâu cũng là cái đất Việt này cả thôi, có gì lạ đâu. Buổi trưa hôm cuối của chuyến đi, bọn tôi về đến chân cầu Rạch Miễu bên sông Tiền. Sát bờ nước có một nhà hàng nhìn rất nên thơ, bèn rẽ vào ngồi. Vì là khách nên mấy ông bạn nhường tôi gọi món. Tôi hô lẩu mắm. Một món ăn mà tôi thích nhất của vùng đất phương Nam. Có nhiều người xứ Bắc không ăn được món này. Nhưng tôi thì mê ngay từ lần đầu được một người bạn mời nếm thử. Ôi, tôi khoan khoái hít cái mùi hương đậm đà bốc lên từ nồi nước dùng đang sôi sùng sục. Ngào ngạt muốn điếc mũi. Nhúng một đũa rau đắng, thêm vài bông điên điển, bông súng, thanh kèo nèo qua nồi, rồi đưa cả vào miệng nhai. Hương vị sắc màu của đất trời phương Nam như ngấm đượm vào tim óc. Nuốt xuống dạ, chiêu một ngụm rượu đế Gò Đen thấy gió sông Tiền dường như đang thổi rộn ràng trong gan ruột...

“ Chú người Bắc à?”Một người đàn ông khá già, gương mặt rám nắng rắn rỏi bước tới bàn nhậu, hướng ánh mắt vào tôi hỏi.

“Vâng. Cháu ngoài Bắc vào chơi.”

Không đợi mời, ông kéo ghế ngồi vào bàn chúng tôi. Một trong những đức tính mà tôi thích nhất của người phương Nam là họ không màu mè cảnh vẻ. Hay nói như ngôn ngữ cánh trẻ bây giờ là, không cầm tinh con giả vờ. Họ sống thật, cư xử với người xung quanh bằng sự chân tình. Hồn hậu. Ông già là chủ nhà hàng. Nghe tiếng tôi gọi món biết là dân Bắc rặt nên ra hỏi chuyện. Ông vốn dân tập kết năm năm tư rồi trở lại quê sau bảy mươi lăm. Sau vài câu giao đãi biết ông từng có hai mươi năm ở trên cái thị trấn nhỏ quê tôi với vợ là cô giáo: Cô Hồng. Trong trí nhớ của tôi hiện lên láng máng hình ảnh cô giáo dạy văn cấp ba gần nhà xưa. Nhưng hình ảnh ông thì tôi chịu. Không tìm ra nét quen thuộc nào. Có lẽ nắng gió phương Nam giãi dầu cùng với thời gian đã làm phôi pha nhiều thứ.

Người Việt hình như mang trong máu mình cái tính ưa túm tụm quần cư. Có người nói đấy là tâm lý của kẻ yếu. Yếu nên cứ phải tụm vào với nhau, dựa hơi nhau. Người lại bảo đó là cái thâm căn cố đế của văn hóa làng xã. Ở cùng thì cả đời có khi chả hỏi nhau câu nào, nhưng đi xa khỏi bản quán một chút mà gặp nhau là hương hương khói khói! Thế nên thốt nhiên tôi và ông già chủ quán tên Cơ bỗng thành ra gần như là “đồng hương” gặp nhau ở miền đất mới. Có một mối giao cảm nào đó tức khắc được thiết lập. Và như thông lệ, chúng tôi chạm cốc nhiệt tình.

“Bốn mươi năm rồi tao chưa quay lại phố Hồ bay ơi!” Sau vài ly ông chủ nhà hàng bùi ngùi thốt lên. Ông Cơ kém cha tôi vài tuổi nên tôi gọi là chú cho thân tình. Ông bảo: “Bây thích món đặc sản miền Tây nào nữa để tao đãi?” “Cho cháu thêm ít rau đắng và bông điên điển là đủ rồi. Và nghe chú kể chuyện đời mấy chục năm qua...” “Ồ. Chuyện nhỏ!” Chú Cơ kêu nhân viên mang thêm rau, đồ nhắm, rượu ra. Rồi bắt đầu câu chuyện với tôi bên bờ sông mênh mang lộng gió...

       Hồi chú Cơ là bộ đội tập kết ra Bắc, chuyển ngành về làm giáo viên chính trị tại trường cấp ba ở phố Hồ thì bọn tôi bé tẹo. Chú Cơ tìm hiểu cô Hồng là giáo viên dạy văn cùng trường. Nghe dân phố nói chú Cơ muốn cưới cô Hồng làm vợ. Lại nghe người ta râm ran là chú Cơ đã có vợ trong Nam, chưa có con. Nhưng đã bỏ theo người khác. Bấy giờ chú Cơ còn khá trẻ mà thấy thui thủi một mình cũng tội nên mọi người xung quanh hò nhau ghép đôi cho họ. Những đêm sáng trăng, hai người hay đến đầu phố phía con đê, nơi có một cái lô cốt to tổ bố của Pháp cũ án ngữ. Họ lên nóc ngồi hóng mát và tâm sự. Bọn trẻ ranh chúng tôi tới núp dưới chân lô cốt rình xem. Rồi chạy đi phô cho cả hàng phố biết là, hôm nay cầm tay nhau rồi, hôm nay mi nhau rồi. Bọn tôi cười sằng sặc khi bắt gặp chú Cơ ra sườn đê, hái một bó to hoa cây điền thanh. Hồi ấy hợp tác xã nông nghiệp họ gieo đầy sườn đê làm phân xanh. Ai lại đi chơi cái giống hoa phân xanh ấy làm gì? Thế nhưng chú bảo đây là loài hoa quý nhất của quê mình. Chú ôm bó hoa sang phòng cô Hồng. Chả biết hai người làm gì với bó hoa vàng rực rỡ kia mà ít lâu sau thấy họ thành vợ chồng.

“Tao ở phố Hồ hai mươi năm, mua cả đất, làm cả nhà. Ba đứa con đều sinh ra ở đó. Tao tưởng đấy sẽ thành quê hương. Thế nhưng không phải mày ạ. Sau bảy lăm có một cái gì đó thôi thúc cựa quậy không yên. Nó cứ cồn cào ngày đêm khiến tao không chịu nổi, phải trở về miền Tây.”

“Cháu nghe dân phố nói, khi ấy chú quay lại miền Nam là vì bà vợ trước.”

“Không hẳn thế! Tao nhớ quê. Tao vốn đã xác định lấy phố Hồ làm quê hương. Ba má tao mất vì bom hồi chín năm rồi. Nhà có mỗi mình tao. Họ hàng gần gũi ruột thịt cũng hầu như không. Nhà cửa vườn tược đất đai cũng chả có gì. Thế mà tao vẫn cứ nhớ điên loạn. Tao nhớ nhất con kinh bên hông nhà! Hai bên bờ con kinh ấy mọc đầy những cây điên điển. Mùa nước nổi cũng là mùa điên điển đơm bông, hai bên bờ nước vàng tươi rực rỡ. Mà mỗi khi cô ấy chèo xuồng trên con kinh ấy, chao ôi là thướt tha. Đẹp không tả được. Nhà cổ cũng bên kinh, cách nhà tao một thôi chèo...”

Tôi nhấc chai rượu rót đầy ly chú. Không nói gì, chú Cơ cầm lên uống cạn một hơi. Khà một tiếng khoan khoái rồi xoay người nhìn ra sông. Lúc ấy đã ngang chiều, nắng xiên xuống mặt dòng sông rộng mênh mông lấp lánh sóng. Những tia sáng rỡ phản chiếu lên khuôn mặt người đàn ông phong trần đang ngồi bên bờ. Trong phút chốc tôi bỗng thấy chú Cơ đẹp lạ. Sinh động. Hoàn toàn không giống hình ảnh ông giáo khô cứng nghiêm cẩn dạy môn chính trị ngày xưa. Ánh mắt chú long lanh khi nhắc lại chuyện tình yêu thời trai trẻ...

       Cô giáo Hồng dạy văn ở phố tôi không được đẹp gái lắm. Người cô cao khẳng, gầy khô. Năm đó cô cũng khá tuổi rồi. Dân phố tôi đã liệt vào hàng sắp ế. Bởi hồi ấy trai trẻ vào chiến trường hết còn mấy ai đâu. Cô không có nhiều lựa chọn. Cô đồng ý lấy chú Cơ sau khi có “tổ chức” xác nhận là vợ cũ của chú đã đi lấy chồng khác. Về ở với chú Cơ đẻ liền ba đứa con, hai gái một trai. Hồi chú Cơ về thăm quê rồi không quay trở ra Bắc nữa, cô bán nhà, ôm ba đứa trẻ vào Nam tìm chồng.

Chú Cơ kể, về thăm quê vốn là vùng căn cứ cũ, rất nhiều khó khăn. Thế là lãnh đạo nơi đó mời luôn ở lại làm việc trong ngành giáo dục. Sau khi xa quê hai mươi năm, chú cũng muốn đóng góp gì đó cho huyện nhà. Chú nhận lời và mua một căn nhà nhỏ trên thị trấn để ở. Vì nhà chú sâu mãi dưới bưng, mà lúc ấy đường sá chưa phát triển như bây giờ nên đi lại không tiện. Chú cũng định sửa sang nhà cửa xong thì sẽ quay ra Bắc đón vợ con vào. Nhưng chú chưa kịp quay ra, thì cô Hằng đã tìm đến...

       Cô Hằng là vợ cũ của chú Cơ.

“Trời ơi. Mày không tưởng tượng nổi tao bàng hoàng như thế nào khi nhìn thấy bả ôm hai thằng con trai, ngồi ở cửa nhà tao lúc chiều đi làm về đâu. Bả vẫn y như xưa, vẫn mắt phượng mày ngài sắc như dao. Má vẫn đỏ môi vẫn hồng. Vẫn óng ả như hồi con gái. Tao biết bả lấy chồng khác từ lâu nên hồi về quê tao chỉ qua hỏi thăm bà con lối xóm họ hàng cũ rồi tuôn luôn lên thị trấn ở với mấy ông đồng đội cũ, có dám nhòm ngó chi đâu. Tao nghĩ ghe nào chèo ấy an phận rồi. Thế mà nghe tin tao về, bả bỏ ngay ông chồng lính cộng hòa cũ, xách hai thằng con trai đến tìm tao.”

“Thế rồi chú tính sao?”

“Tính sao lúc ấy nữa? Cho bọn trẻ vào nhà, nấu cơm nước cho ăn, tắm rửa đi ngủ. Rồi bả bảo, em cần nói chuyện với anh!”

“Cô ấy nói thế nào?”

“Bả nói vầy: Em với anh xưa là nhân duyên hẹn ước thề bồi sống chết có nhau. Vì hoàn cảnh đất nước nên chúng ta mới phân ly. Em phải lấy ba sắp nhỏ cho đỡ bị o ép. Chứ lòng em lúc nào cũng chỉ có anh. Chỉ nghĩ đến anh. Nay anh về rồi, em nói với ổng kia rồi, em về với anh!”

“Chú có nói cho cô ấy biết là có vợ con ngoài Bắc rồi không?”

“Có chớ. Nhưng bả bảo: nếu lòng anh còn có em, yêu em. Vẫn nhớ lời thề xưa thì viết thư nói cô Hồng đi lấy chồng khác. Con mang vô đây em nuôi cả được mà! Tao lúc đó rối trí quá, chẳng biết tính sao bèn bỏ lên cơ quan ngủ.”

Tôi vốn biết đàn bà con gái miền Tây nổi tiếng đẹp và mãnh liệt trong tình yêu. Nhưng đến như bà vợ đầu của chú Cơ thì quả là tôi chưa từng nghe. Cuộc đời tôi giời bắt nên phải chứng kiến khá nhiều cảnh huống oái oăm, tình yêu ngang trái. Thế nhưng cái chuyện người đàn bà đã lấy chồng mới, có hai con rồi. Mà vẫn ôm con về với mối tình đầu không nửa giây do dự thì quả là tôi mới biết lần đầu...

       Hôm sau ông chồng của cô Hằng cũng tìm tới nhà chú Cơ.

Ông là người xã kế bên thôi nên hầu như biết nhau cả. Là trung sĩ coi máy trong đội giang thuyền của bên cộng hòa, nên sau bảy lăm chỉ phải đi học tập vài hôm rồi về chạy thuyền của nhà đi đánh cá. Ổng nói với chú Cơ:

“Hồi xưa khi lấy tôi, cô Hằng có giao hẹn, nếu ông còn sống trở về thì tôi phải để cho cô ấy quay lại với ông. Tôi đã đồng ý. Giờ ông trở về đây rồi... Thì mọi việc do cô ấy quyết định!”

Bữa ấy cô Hằng làm chầu nhậu ngay tại nhà. Cũng lẩu mắm.

“Cô Hằng nấu ăn ngon lắm. Hồi còn đang hẹn hò, tao du kích trong bưng, thỉnh thoảng có đợt yên yên là mò về nhà cổ. Cổ làm nồi lẩu mắm cho nhậu với ông già quên chết luôn.”

“Thế cái hôm gặp ông chồng cổ thì hai người nói chuyện sao?”

“Thì biết tính sao trong cái cảnh ấy mầy? Hai thằng đàn ông cứ nhậu thôi. Nhậu một hồi bỗng ôm vai bá cổ nhau khóc. Nói thương cho cái thân mình, thương cái nước mình. Rồi nhậu tiếp. Tao xỉn luôn. Sáng dậy thì ổng kia đã bỏ đi!”

Cô Hằng nói với chú Cơ là chồng cô đã viết giấy ly hôn để lại đây rồi. Từ giờ trở đi chúng mình lại đoàn tụ. Chắc cũng có một phần do ông ấy hơi lo ngại cái vụ mình thì là người của chế độ cũ. Chú Cơ là người chế độ mới, hứng lên quy cho cái tội cưỡng ép vợ cán bộ tập kết cũng nguy.

      Thế nhưng ngay hôm đó thì cô Hồng cũng dắt theo ba đứa trẻ từ ngoài Bắc vào, đến thẳng cơ quan giáo dục nơi chú làm việc.

Lúc này thì mọi người trong huyện đã biết hết mọi chuyện của gia đình chú Cơ. Nhưng cũng không ai biết khuyên phải quấy ra sao. Lãnh đạo huyện chỉ đành gọi lên bảo muốn xử sao thì xử cho êm thấm. Không được để xảy ra chuyện gì om xòm làm xấu hình ảnh cán bộ cách mạng.

“Thế chú đưa cô Hồng và bọn trẻ đi đâu?”

“Đi đâu được? Cổ kiên quyết không đi đâu mà đòi về nhà!”

“Chú nhốt hai sư tử một chuồng à?”

“Tầm bậy! Hai cổ đều hiểu lẽ mà. Không có chuyện nhẩy bổ vào nhau cắn xé như mấy bả phố mình đâu mày ơi!”

      Tôi bỗng chợt nhớ cái chuyện đánh ghen lừng lẫy ở phố tôi hồi xưa.

Ông Lam trưởng ngân hàng huyện (hồi ấy chưa gọi là giám đốc) tuy có vợ ở quê nhưng vẫn chăm sóc liền hai cô nhỡ nhàng, chồng chết hay chồng đi xa gì đó tôi không nhớ. Một cô là nhân viên ngân hàng ở ngay khu tập thể kế bên. Một cô bên cửa hàng thực phẩm tươi sống đối diện qua đường. Cả tuần ông cứ đánh võng qua hai chỗ. Chiều thứ bảy thì, “cắt cơm, bơm xe, nghe thời tiết, liếc đồng hồ”, về quê với bà vợ già, tối chủ nhật lại lên. Thế nhưng có một tuần ông ốm, không về quê được. Mà chủ nhật thì nhân viên cấp dưỡng cơ quan cũng nghỉ nên không có người nấu ăn. Hai cô bồ bèn te tái chạy về nấu cháo cho vào cặp lồng xách lên phòng bón cho người tình. Giá như ông Lam phân công cho một cô nấu trưa, một cô nấu tối thì không nên chuyện. Đằng này ông chả nói gì thế là trưa ấy cả hai cô cùng vào. Họ vốn biết nhau. Và cũng biết rõ mọi chuyện của nhau. Cơ mà không nhìn thấy thì cũng mặc kệ coi như không ai biết ai. Bởi bình thường ông Lam là một tay đàn ông to khỏe. Rất cường tráng. Chiều đến ông vẫn đánh bóng chuyền với cánh cơ quan xung quanh, nhảy lên đập cắm vạch ba mét uỳnh uỳnh. Thế nên chăm hai cô vẫn rất ổn!

Hai cô xách cặp lồng cháo vào cho người tình.

Cô ngân hàng mua con gà ri nấu.

Cô tươi sống có tim cật lợn mới mổ.

“Anh ăn cháo gà với ngải cứu cho giải cảm.”

“Anh ăn cháo tim cật với hạt tiêu cho chóng khỏe.”

“Chóng khỏe để làm gì! Để lại hầu lồn con đĩ à?”

“Cái con đĩ này! Tội mày suốt ngày ám lồn vào nên đang khỏe như vâm mới thành ốm bề bệt ra thế này chứ!”

Lời qua tiếng lại, hai cô bỏ cháo, mặc kệ người ốm nhảy xổ vào túm tóc đánh xé nhau. Chủ nhật mọi người đi vắng hết nên chẳng có ai can. Hai cô nhảy ra sân ngân hàng vật lộn gào thét chửi bới giằng tung quần áo nhau ra. Om xòm. Dân phố hiếu kỳ, lũ trẻ ranh chúng tôi chạy vào xem cười bằng thích. Ông Lam phần vì mệt, phần vì nhục nên đóng chặt cửa không ra. Mặc kệ hai bà nhồng nhỗng tiếp tục nhảy nhót chửi nhau rồi lại nhảy bổ vào túm tóc móc nhau. Người nọ gào dọa người kia là hôm nay tao phải xé tan lồn con đĩ ra chấm muối!

May mà có người đi báo công an chứ không có khi tan tành thật. Thế là công an cho người lên áp giải hai cô về đồn giải quyết. Sau vụ ấy thì ông Lam bị mất chức trưởng ngân hàng, về hưu non. Còn hai cô nghe nói cũng bị kỷ luật rồi chuyển đi làm chỗ khác... Nên chuyện đàn bà mà lên cơn ghen thì sợ lắm, bất chấp lý lẽ phải trái thể diện. Kinh hoàng. Lúc ấy họ hoàn toàn bản năng...

       Tôi quay sang hỏi tiếp chú Cơ:

“Thế lúc đầu tiên cô Hồng và cô Hằng gặp nhau thế nào chú?” Máu tò mò cố hữu của tôi nổi lên bừng bừng không kìm được.

“Thì về cơ bản là họ cũng biết mọi chuyện cả rồi nên biết làm sao? Đành cứ đưa về nhà thu xếp ăn ở cơm nước cho bọn trẻ thôi.”

“Là cháu hỏi lúc đầu giáp mặt nhau kia?”

“À, vụ đó tao chủ động chớ. Tao bảo đây là Hồng, còn đây là Hằng. Có nguýt nhẹ nhau cái rồi xoay sang người sắp cơm, người thu xếp chỗ nằm cho bọn trẻ thôi.”

Cơm nước tắm rửa xong, bọn trẻ đã lên giường thì ba nhân dắt nhau ra vườn nói chuyện. “Mà thực ra tao cũng đếch biết nói thế nào. Một đằng người yêu cũ, vợ cũ tuy chưa có con chung nhưng tình sâu nghĩa nặng từ thủa còn thơ. Vả lại cổ đã tuyên bố nếu tao hắt hủi mẹ con cổ, cổ sẽ ôm cả hai đứa nhảy xuống sông Tiền cho khuất mắt. Cái vụ này thì dám lắm, tao chơi với cổ từ nhỏ tao biết tính mà. Còn cô Hồng cũng nói, em đã bán hết nhà cửa ôm cả ba đứa con máu thịt của anh vào đây rồi, anh có định đem chúng ra ngoài đường bỏ là tùy! Rối ruột quá đâm cùn, tao bảo hai bà là, tôi cán bộ đảng viên nên không được hai vợ, tôi chỉ được chọn một. Hai bà tự đàm phán với nhau. Xong rồi thì một bà vào buồng với tôi, một bà ngủ với con!”

“Thế rồi sao?”

“Hai bả rì rầm ngoài vườn khuya lắm. Tao đã thiếp đi rồi thì thấy vô buồng. Cả hai! Một bà vào nằm trong. Một bà nằm ngoài. Tao nằm giữa.”

“Ái chà chà! Trò chơi ba người, bánh mì kẹp pa tê à! Sướng nhất chú!”

“Tầm bậy! Sướng cái khỉ khô! Đời đàn ông của tao chưa bao giờ khổ như đêm đó chứ sung sướng cái nỗi giề!”

Chú Cơ kể, hai bả nói bên tình bên nghĩa ông bỏ ai cũng không đành. Khó cho ông. Mà bọn tôi cũng không ai muốn bỏ ông cả. Thôi thì bọn tôi chấp nhận làm chị em. Không gây lộn thắc mắc kiện cáo chi hết. Ông cứ xử sao cho công bằng là được!

“Tao nằm ngay đơ ở giữa giường. Bên trong là cô Hằng. Bên ngoài là cô Hồng. Cả hai người đàn bà năm ấy mới gần bốn mươi. Gái trẻ có cái non tơ mơn mởn của gái trẻ. Gái một con có cái rực rỡ của gái một con. Gái đẻ hai, ba lứa xong, con hết sài đẹn. Đến kỳ thảnh thơi son rỗi. Lúc bấy giờ lửa nồng mới đượm. Mới tới cao trào đàn bà mầy ơi... Hai bả nằm bên cạnh tao trong đêm mà thấy hơi nóng bốc lên muốn xém sườn luôn. Nói thiệt mày nghe, thậm chí tao còn nghe rõ tiếng thân thể đàn bà của hai cổ đang chuyển rần rần kia. Thế mà tao phải nằm yên thúc thủ. Mà năm đó tao mới hơn bốn chục, đang sung lắm chớ. Lại mấy tháng ròng chưa được tí gì! Tao dợm mình xoay nghiêng bên này định tính thì bả kia đã nhéo sườn đau điếng. Hai bả bắt tao nằm thẳng tắp ngay đơ cả đêm. Không cho cụ cựa quờ quạng bên nào. Không được cư xử thiên lệch!”

“Kakaka... Thế là mỡ không treo mà mèo vẫn nhịn thèm à chú?”

“Thì thế!”

Cả đêm ba người không ai ngủ được chút nào nữa. Sáng ra họ ngồi dậy nhìn nhau. Bỗng nhiên phá ra cười. Cười sằng sặc. Cười như điên. Cười như bọn trẻ con chơi trò thọc lét. Hai cổ túm vào vai tao mà đấm, nhéo mà cười sặc sụa, giàn cả nước mắt nước mũi. Nếu bọn trẻ không nghe tiếng ngạc nhiên quá, dồn hết cả vào cửa buồng, trố mắt đứng nhìn ba người lớn thì không biết bao giờ mới dứt cơn cười lạ kỳ ấy.

Cô Hồng bảo, thôi anh đưa chị Hằng với hai đứa nhỏ về quê, lo chỗ ăn ở nhà cửa cho ổn rồi lại lên đây. Trên này để em trông nom.

Cô Hằng thì cười hí hí bảo, cho chị mượn tạm ảnh mấy bữa nghe, rồi lại trả về đủ bộ.

Chú Cơ nghe họ nói mà cứng họng.

Chả biết đêm qua hai người đàn bà thỏa thuận với nhau thế nào mà giờ nghe chừng có vẻ thân ái đoàn kết lắm. Nghe mà rối bời ruột gan. Bởi ngày ấy chuyện vợ nọ con kia rất phức tạp. Còn tổ chức, còn cơ quan đoàn thể... Không đùa được đâu!

Chỉ có bọn trẻ con hai nhà tổng cộng năm đứa là vô tư. Chúng đã kịp nhận nhau và phân ngôi cao thấp theo tuổi. Và đã kịp gọi má Hằng, má Hồng. Đến lạ. Hình như trẻ con nó dễ làm thân nhau hơn. Và có vẻ như chúng đã cảm nhận được tình thế bất khả của người lớn mà nương theo chăng...

“Đời chú thế là quá ổn còn gì?”

“Ổn cái con tườu! Đó mới là bắt đầu chặng đường khổ ải nhất của đời tao.”

       Bởi không dám quyết phụ bà nào nên chú Cơ đành gánh cả. Một bà dưới vườn. Một bà trên thị trấn. Thế nhưng biết sẽ không ổn với cơ quan nên chú Cơ chủ động xin nghỉ việc. Chú bắt đầu cuộc vật lộn mưu sinh kiếm ăn nuôi con đúng nghĩa khi đã ở tuổi ngoại tứ tuần. Chú làm đủ việc từ thuê mướn rồi sang làm chủ ghe thương hồ đó đây khắp miền Tây.

Rồi cô Hằng sinh thêm một đứa con gái. Tổng cộng sáu con hai bà. Cũng may mà  đất miền Tây dễ sống, kiếm đâu cũng được cái nuôi con. Chỉ có cái sự dạy bảo bọn trẻ và vất vả đi lại giữa hai nơi mà thôi.

“Thế ông chồng cũ của cô Hằng đâu không đón hai đứa con ruột của mình về mà lại bỏ mặc cho chú cả vậy?"

“Ồ. Quên chưa kể bay nghe. Cô Hằng hồi trẻ đẹp nhiều người mê lắm. Chồng thứ hai của cổ cũng mê sẵn. Tao đi tập kết ra Bắc cổ ở nhà bị bên cộng hòa hăm he gây khó dễ. Ổng bèn tới gạ gẫm về với ổng. Cổ giao hẹn gá tạm cho yên, khi nào tao về là thôi. Ổng gật đầu cái rụp, nhưng bụng nghĩ chiến tranh liên miên thế này đâu có ngày đó. Thế mà rồi có thật! Hôm uống rượu chia tay ở nhà tao, sáng sớm ổng lẳng lặng ra về. Sẵn thuyền máy đi đánh cá của nhà, ổng dông tuốt một mạch sang biển Mã Lai tị nạn luôn. Rồi qua Mỹ. Xong.”


       Tôi lặng người ngồi ngắm chú Cơ. Tôi vẫn không tìm thấy nét nào của một ông giáo dạy chính trị thủa xưa nơi ngôi trường cuối phố. Một người đàn ông miền Tây điển hình đang ngồi trước mặt tôi. Da đỏ rám nắng. Tóc bạc cắt ngắn. Ánh mắt vẫn rất tinh nhanh. Và rượu thì, hình như đàn ông miền Tây họ uống rượu thay cho nước, hệt như cánh đàn ông trên rẻo cao phía Bắc, nơi tôi cũng đã từng ở mấy năm. Vốn là thày thuốc, nhiều khi nhìn họ uống như vậy tôi tự hỏi, chả lẽ lục phủ ngũ tạng của họ bằng thép sao. Họ không biết rằng thế là hủy hoại sức khỏe kinh khủng thế nào sao? Nhưng tôi cũng đã quan sát và âm thầm rút cho mình kinh nghiệm ở đời là, những nơi mà người ta uống rượu với nhau hết mình, thậm chí say xỉn tại trận thì thường là họ rất thật thà, hiếu khách quý người. Chú Cơ vẫn chạm cốc đều với mấy anh em trong tốp chúng tôi. Chạm xong là cạn. Kệ không so đo để ý người đối tửu. Nhưng chú vẫn hoàn toàn tỉnh táo. Giọng nói vẫn rành rẽ chưa hề có biểu hiện gì méo tiếng mất hình...

“Thế rồi mọi việc cũng dần qua mày ạ. Sắp nhỏ nuôi mãi rồi cũng lớn. Cũng được học hành đầy đủ, công việc đàng hoàng. Cơ mà khổ thân hai bà nhà tao quá...”

“Sao chú?”

“Hồi vất vả khó khăn bóp mồm bóp miệng nuôi con thì không sao. Đến hồi bọn trẻ trưởng thành thì bà nọ rủ bà kia lăn ra ngã bệnh rồi đi cả trong một năm. Bỏ tao chơ vơ hơn chục năm rồi! Hình như hai bả rủ nhau đi xuống đó cho có chị có em sao đó mầy ơi...”

       Chú Cơ kể, sau hơn chục năm vượt biên thì ông chồng thứ hai của cô Hằng trở về nước xin bảo lãnh cho hai thằng con trai sang bển. Nói mãi cô Hằng mới đồng ý. Cô bảo hỏi ý kiến ông Cơ. Bởi ông là người đã nuôi dạy chúng thành người và cư xử với chúng không khác gì con ruột.

“Thế chú bảo sao?”

“Ồ. Lúc đó thì đất nước mình đổi mới rồi, cởi mở rồi. Mọi việc đã được nhìn nhận khác chứ không còn thiên kiến như xưa nên tao bảo hai thằng nhỏ, các con nên đi sang bên đó có điều kiện phát huy tốt khả năng của mình hơn. Vả lại ổng là ba ruột các con, nay cũng già rồi ở mình không có người chăm sóc cũng không tiện. Thế giới nay nhỏ, đâu cũng là nhà mà.”

Nghe xong câu này của chú Cơ thì tôi quên hẳn cái hình ảnh ông giáo xưa. Trước mắt tôi là ông già miền Tây tốt bụng phóng khoáng nay đang ngồi kể lại chuyện đời cho nghe. Hình bóng ông thày nghiêm cẩn ngày xưa trên bục giảng ngôi trường phố huyện như chẳng có gì liên quan đến người đàn ông hiện tại. Đời biến đổi thật lạ lùng. Nhiều cái không thể đem sách vở lý lẽ ra giải thích được. Mà chúng ta đành tin vào số phận cuộc đời của mỗi con người.

Thậm chí là của cả một dân tộc, của cả một đất nước hình như đã được một đấng tối cao nào đó quyết định cả rồi. Đó gọi là định mệnh. Nghe kể thì các con chú đều học hành thành đạt cả. Cô út nay cũng là thạc sĩ dạy một trường phổ thông trên thành phố.

“Thế sao chú không lên thành phố với các con mà ở dưới này làm nhà hàng chi cho vất vả?”

“Tao ở phố không quen mầy ơi. Hồi ra khỏi nhà nước đi làm ăn buôn bán thương hồ riết thành quen. Tao đâm nghiện sông nước. Hai thằng bên Mỹ cũng về bảo đón sang bển ở cho vui. Nhưng tao không đi. Chúng bèn bảo ba già rồi nghỉ ngơi sông nước đi, chúng con gửi tiền phụ ba dựng cái nhà hàng bên sông, thuê người làm, ba trông coi thôi. Ba cứ ngắm sông nước hàng ngày là được mà!”

Chợt chú Cơ khoát tay chỉ ra mé bờ sông cạnh nhà hàng: “Tao đã phải gieo cả một vạt điên điển kia kìa. Tay bển ấy đến mùa điên điển trổ bông mà khỏe người là cũng bay về đây đó. Hai thằng già ngồi nhậu ngắm bông điên điển rồi chảy nước mắt với nhau bay ơi...”

Tôi nhìn theo hướng tay chú Cơ. Xa xa xấp xới bên mép nước một vạt cây điên điển đang trổ hoa vàng rực rỡ. Gió từ sông thổi vào, vạt hoa xao động rung rinh rập rờn như một dải lụa mềm óng vàng tươi. Tôi chợt nhớ, hình như ngoài Bắc độ này triền đê đầu phố quê tôi cũng đang phủ đầy sắc hoa tươi màu nắng của điền thanh, điên điển...

TRẦN THANH CẢNH


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 104)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 62)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 64)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 171)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 852)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 930)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1508)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1749)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1451)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2218)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 171)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10948)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17611)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16656)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 104)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 64)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 1749)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2379)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 62)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2203)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2058)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2636)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 852)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 930)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1451)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2218)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1508)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2107)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3962)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 4109)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2995)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14325)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30410)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36641)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12095)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13435)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3684)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 5533)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5292)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 5856)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6457)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8895)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8190)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11151)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.