- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Dải Hoa Vàng Xấp Xới Ven Sông…

22 Tháng Giêng 20208:09 CH(Xem: 40229)

cay thot not- an giang VN- Nguyen Hoang Nam
Cây Thốt Nốt- An Giang Việt Nam - ảnh Nguyễn Hoàng Nam


Tôi vào giới thiệu sách ở Sài Gòn. Xong việc, mấy ông bạn rủ đi chơi miền Tây. Tôi hào hứng nhận lời ngay, vì thực tình mình mới chỉ nghe người ta tả về cảnh sắc sông nước miền Tây chứ chưa đến bao giờ. Cũng nên đi một lần cho biết.

Mấy hôm liền, bọn tôi lang thang dưới đó. Nhưng thật ra là cưỡi ngựa xem hoa chứ chưa cảm nhận được gì nhiều. Cảnh sắc thôn quê có lạ hơn ngoài Bắc. Còn phố xá thì cũng vậy. Cũng lem nhem nhà ống bán buôn. Cũng lộn xộn giao thông xe pháo. Cũng người thì nhởn nhơ ăn nhậu tối ngày, kẻ thì tất bật kiếm miếng đút miệng. Đâu cũng là cái đất Việt này cả thôi, có gì lạ đâu. Buổi trưa hôm cuối của chuyến đi, bọn tôi về đến chân cầu Rạch Miễu bên sông Tiền. Sát bờ nước có một nhà hàng nhìn rất nên thơ, bèn rẽ vào ngồi. Vì là khách nên mấy ông bạn nhường tôi gọi món. Tôi hô lẩu mắm. Một món ăn mà tôi thích nhất của vùng đất phương Nam. Có nhiều người xứ Bắc không ăn được món này. Nhưng tôi thì mê ngay từ lần đầu được một người bạn mời nếm thử. Ôi, tôi khoan khoái hít cái mùi hương đậm đà bốc lên từ nồi nước dùng đang sôi sùng sục. Ngào ngạt muốn điếc mũi. Nhúng một đũa rau đắng, thêm vài bông điên điển, bông súng, thanh kèo nèo qua nồi, rồi đưa cả vào miệng nhai. Hương vị sắc màu của đất trời phương Nam như ngấm đượm vào tim óc. Nuốt xuống dạ, chiêu một ngụm rượu đế Gò Đen thấy gió sông Tiền dường như đang thổi rộn ràng trong gan ruột...

“ Chú người Bắc à?”Một người đàn ông khá già, gương mặt rám nắng rắn rỏi bước tới bàn nhậu, hướng ánh mắt vào tôi hỏi.

“Vâng. Cháu ngoài Bắc vào chơi.”

Không đợi mời, ông kéo ghế ngồi vào bàn chúng tôi. Một trong những đức tính mà tôi thích nhất của người phương Nam là họ không màu mè cảnh vẻ. Hay nói như ngôn ngữ cánh trẻ bây giờ là, không cầm tinh con giả vờ. Họ sống thật, cư xử với người xung quanh bằng sự chân tình. Hồn hậu. Ông già là chủ nhà hàng. Nghe tiếng tôi gọi món biết là dân Bắc rặt nên ra hỏi chuyện. Ông vốn dân tập kết năm năm tư rồi trở lại quê sau bảy mươi lăm. Sau vài câu giao đãi biết ông từng có hai mươi năm ở trên cái thị trấn nhỏ quê tôi với vợ là cô giáo: Cô Hồng. Trong trí nhớ của tôi hiện lên láng máng hình ảnh cô giáo dạy văn cấp ba gần nhà xưa. Nhưng hình ảnh ông thì tôi chịu. Không tìm ra nét quen thuộc nào. Có lẽ nắng gió phương Nam giãi dầu cùng với thời gian đã làm phôi pha nhiều thứ.

Người Việt hình như mang trong máu mình cái tính ưa túm tụm quần cư. Có người nói đấy là tâm lý của kẻ yếu. Yếu nên cứ phải tụm vào với nhau, dựa hơi nhau. Người lại bảo đó là cái thâm căn cố đế của văn hóa làng xã. Ở cùng thì cả đời có khi chả hỏi nhau câu nào, nhưng đi xa khỏi bản quán một chút mà gặp nhau là hương hương khói khói! Thế nên thốt nhiên tôi và ông già chủ quán tên Cơ bỗng thành ra gần như là “đồng hương” gặp nhau ở miền đất mới. Có một mối giao cảm nào đó tức khắc được thiết lập. Và như thông lệ, chúng tôi chạm cốc nhiệt tình.

“Bốn mươi năm rồi tao chưa quay lại phố Hồ bay ơi!” Sau vài ly ông chủ nhà hàng bùi ngùi thốt lên. Ông Cơ kém cha tôi vài tuổi nên tôi gọi là chú cho thân tình. Ông bảo: “Bây thích món đặc sản miền Tây nào nữa để tao đãi?” “Cho cháu thêm ít rau đắng và bông điên điển là đủ rồi. Và nghe chú kể chuyện đời mấy chục năm qua...” “Ồ. Chuyện nhỏ!” Chú Cơ kêu nhân viên mang thêm rau, đồ nhắm, rượu ra. Rồi bắt đầu câu chuyện với tôi bên bờ sông mênh mang lộng gió...

       Hồi chú Cơ là bộ đội tập kết ra Bắc, chuyển ngành về làm giáo viên chính trị tại trường cấp ba ở phố Hồ thì bọn tôi bé tẹo. Chú Cơ tìm hiểu cô Hồng là giáo viên dạy văn cùng trường. Nghe dân phố nói chú Cơ muốn cưới cô Hồng làm vợ. Lại nghe người ta râm ran là chú Cơ đã có vợ trong Nam, chưa có con. Nhưng đã bỏ theo người khác. Bấy giờ chú Cơ còn khá trẻ mà thấy thui thủi một mình cũng tội nên mọi người xung quanh hò nhau ghép đôi cho họ. Những đêm sáng trăng, hai người hay đến đầu phố phía con đê, nơi có một cái lô cốt to tổ bố của Pháp cũ án ngữ. Họ lên nóc ngồi hóng mát và tâm sự. Bọn trẻ ranh chúng tôi tới núp dưới chân lô cốt rình xem. Rồi chạy đi phô cho cả hàng phố biết là, hôm nay cầm tay nhau rồi, hôm nay mi nhau rồi. Bọn tôi cười sằng sặc khi bắt gặp chú Cơ ra sườn đê, hái một bó to hoa cây điền thanh. Hồi ấy hợp tác xã nông nghiệp họ gieo đầy sườn đê làm phân xanh. Ai lại đi chơi cái giống hoa phân xanh ấy làm gì? Thế nhưng chú bảo đây là loài hoa quý nhất của quê mình. Chú ôm bó hoa sang phòng cô Hồng. Chả biết hai người làm gì với bó hoa vàng rực rỡ kia mà ít lâu sau thấy họ thành vợ chồng.

“Tao ở phố Hồ hai mươi năm, mua cả đất, làm cả nhà. Ba đứa con đều sinh ra ở đó. Tao tưởng đấy sẽ thành quê hương. Thế nhưng không phải mày ạ. Sau bảy lăm có một cái gì đó thôi thúc cựa quậy không yên. Nó cứ cồn cào ngày đêm khiến tao không chịu nổi, phải trở về miền Tây.”

“Cháu nghe dân phố nói, khi ấy chú quay lại miền Nam là vì bà vợ trước.”

“Không hẳn thế! Tao nhớ quê. Tao vốn đã xác định lấy phố Hồ làm quê hương. Ba má tao mất vì bom hồi chín năm rồi. Nhà có mỗi mình tao. Họ hàng gần gũi ruột thịt cũng hầu như không. Nhà cửa vườn tược đất đai cũng chả có gì. Thế mà tao vẫn cứ nhớ điên loạn. Tao nhớ nhất con kinh bên hông nhà! Hai bên bờ con kinh ấy mọc đầy những cây điên điển. Mùa nước nổi cũng là mùa điên điển đơm bông, hai bên bờ nước vàng tươi rực rỡ. Mà mỗi khi cô ấy chèo xuồng trên con kinh ấy, chao ôi là thướt tha. Đẹp không tả được. Nhà cổ cũng bên kinh, cách nhà tao một thôi chèo...”

Tôi nhấc chai rượu rót đầy ly chú. Không nói gì, chú Cơ cầm lên uống cạn một hơi. Khà một tiếng khoan khoái rồi xoay người nhìn ra sông. Lúc ấy đã ngang chiều, nắng xiên xuống mặt dòng sông rộng mênh mông lấp lánh sóng. Những tia sáng rỡ phản chiếu lên khuôn mặt người đàn ông phong trần đang ngồi bên bờ. Trong phút chốc tôi bỗng thấy chú Cơ đẹp lạ. Sinh động. Hoàn toàn không giống hình ảnh ông giáo khô cứng nghiêm cẩn dạy môn chính trị ngày xưa. Ánh mắt chú long lanh khi nhắc lại chuyện tình yêu thời trai trẻ...

       Cô giáo Hồng dạy văn ở phố tôi không được đẹp gái lắm. Người cô cao khẳng, gầy khô. Năm đó cô cũng khá tuổi rồi. Dân phố tôi đã liệt vào hàng sắp ế. Bởi hồi ấy trai trẻ vào chiến trường hết còn mấy ai đâu. Cô không có nhiều lựa chọn. Cô đồng ý lấy chú Cơ sau khi có “tổ chức” xác nhận là vợ cũ của chú đã đi lấy chồng khác. Về ở với chú Cơ đẻ liền ba đứa con, hai gái một trai. Hồi chú Cơ về thăm quê rồi không quay trở ra Bắc nữa, cô bán nhà, ôm ba đứa trẻ vào Nam tìm chồng.

Chú Cơ kể, về thăm quê vốn là vùng căn cứ cũ, rất nhiều khó khăn. Thế là lãnh đạo nơi đó mời luôn ở lại làm việc trong ngành giáo dục. Sau khi xa quê hai mươi năm, chú cũng muốn đóng góp gì đó cho huyện nhà. Chú nhận lời và mua một căn nhà nhỏ trên thị trấn để ở. Vì nhà chú sâu mãi dưới bưng, mà lúc ấy đường sá chưa phát triển như bây giờ nên đi lại không tiện. Chú cũng định sửa sang nhà cửa xong thì sẽ quay ra Bắc đón vợ con vào. Nhưng chú chưa kịp quay ra, thì cô Hằng đã tìm đến...

       Cô Hằng là vợ cũ của chú Cơ.

“Trời ơi. Mày không tưởng tượng nổi tao bàng hoàng như thế nào khi nhìn thấy bả ôm hai thằng con trai, ngồi ở cửa nhà tao lúc chiều đi làm về đâu. Bả vẫn y như xưa, vẫn mắt phượng mày ngài sắc như dao. Má vẫn đỏ môi vẫn hồng. Vẫn óng ả như hồi con gái. Tao biết bả lấy chồng khác từ lâu nên hồi về quê tao chỉ qua hỏi thăm bà con lối xóm họ hàng cũ rồi tuôn luôn lên thị trấn ở với mấy ông đồng đội cũ, có dám nhòm ngó chi đâu. Tao nghĩ ghe nào chèo ấy an phận rồi. Thế mà nghe tin tao về, bả bỏ ngay ông chồng lính cộng hòa cũ, xách hai thằng con trai đến tìm tao.”

“Thế rồi chú tính sao?”

“Tính sao lúc ấy nữa? Cho bọn trẻ vào nhà, nấu cơm nước cho ăn, tắm rửa đi ngủ. Rồi bả bảo, em cần nói chuyện với anh!”

“Cô ấy nói thế nào?”

“Bả nói vầy: Em với anh xưa là nhân duyên hẹn ước thề bồi sống chết có nhau. Vì hoàn cảnh đất nước nên chúng ta mới phân ly. Em phải lấy ba sắp nhỏ cho đỡ bị o ép. Chứ lòng em lúc nào cũng chỉ có anh. Chỉ nghĩ đến anh. Nay anh về rồi, em nói với ổng kia rồi, em về với anh!”

“Chú có nói cho cô ấy biết là có vợ con ngoài Bắc rồi không?”

“Có chớ. Nhưng bả bảo: nếu lòng anh còn có em, yêu em. Vẫn nhớ lời thề xưa thì viết thư nói cô Hồng đi lấy chồng khác. Con mang vô đây em nuôi cả được mà! Tao lúc đó rối trí quá, chẳng biết tính sao bèn bỏ lên cơ quan ngủ.”

Tôi vốn biết đàn bà con gái miền Tây nổi tiếng đẹp và mãnh liệt trong tình yêu. Nhưng đến như bà vợ đầu của chú Cơ thì quả là tôi chưa từng nghe. Cuộc đời tôi giời bắt nên phải chứng kiến khá nhiều cảnh huống oái oăm, tình yêu ngang trái. Thế nhưng cái chuyện người đàn bà đã lấy chồng mới, có hai con rồi. Mà vẫn ôm con về với mối tình đầu không nửa giây do dự thì quả là tôi mới biết lần đầu...

       Hôm sau ông chồng của cô Hằng cũng tìm tới nhà chú Cơ.

Ông là người xã kế bên thôi nên hầu như biết nhau cả. Là trung sĩ coi máy trong đội giang thuyền của bên cộng hòa, nên sau bảy lăm chỉ phải đi học tập vài hôm rồi về chạy thuyền của nhà đi đánh cá. Ổng nói với chú Cơ:

“Hồi xưa khi lấy tôi, cô Hằng có giao hẹn, nếu ông còn sống trở về thì tôi phải để cho cô ấy quay lại với ông. Tôi đã đồng ý. Giờ ông trở về đây rồi... Thì mọi việc do cô ấy quyết định!”

Bữa ấy cô Hằng làm chầu nhậu ngay tại nhà. Cũng lẩu mắm.

“Cô Hằng nấu ăn ngon lắm. Hồi còn đang hẹn hò, tao du kích trong bưng, thỉnh thoảng có đợt yên yên là mò về nhà cổ. Cổ làm nồi lẩu mắm cho nhậu với ông già quên chết luôn.”

“Thế cái hôm gặp ông chồng cổ thì hai người nói chuyện sao?”

“Thì biết tính sao trong cái cảnh ấy mầy? Hai thằng đàn ông cứ nhậu thôi. Nhậu một hồi bỗng ôm vai bá cổ nhau khóc. Nói thương cho cái thân mình, thương cái nước mình. Rồi nhậu tiếp. Tao xỉn luôn. Sáng dậy thì ổng kia đã bỏ đi!”

Cô Hằng nói với chú Cơ là chồng cô đã viết giấy ly hôn để lại đây rồi. Từ giờ trở đi chúng mình lại đoàn tụ. Chắc cũng có một phần do ông ấy hơi lo ngại cái vụ mình thì là người của chế độ cũ. Chú Cơ là người chế độ mới, hứng lên quy cho cái tội cưỡng ép vợ cán bộ tập kết cũng nguy.

      Thế nhưng ngay hôm đó thì cô Hồng cũng dắt theo ba đứa trẻ từ ngoài Bắc vào, đến thẳng cơ quan giáo dục nơi chú làm việc.

Lúc này thì mọi người trong huyện đã biết hết mọi chuyện của gia đình chú Cơ. Nhưng cũng không ai biết khuyên phải quấy ra sao. Lãnh đạo huyện chỉ đành gọi lên bảo muốn xử sao thì xử cho êm thấm. Không được để xảy ra chuyện gì om xòm làm xấu hình ảnh cán bộ cách mạng.

“Thế chú đưa cô Hồng và bọn trẻ đi đâu?”

“Đi đâu được? Cổ kiên quyết không đi đâu mà đòi về nhà!”

“Chú nhốt hai sư tử một chuồng à?”

“Tầm bậy! Hai cổ đều hiểu lẽ mà. Không có chuyện nhẩy bổ vào nhau cắn xé như mấy bả phố mình đâu mày ơi!”

      Tôi bỗng chợt nhớ cái chuyện đánh ghen lừng lẫy ở phố tôi hồi xưa.

Ông Lam trưởng ngân hàng huyện (hồi ấy chưa gọi là giám đốc) tuy có vợ ở quê nhưng vẫn chăm sóc liền hai cô nhỡ nhàng, chồng chết hay chồng đi xa gì đó tôi không nhớ. Một cô là nhân viên ngân hàng ở ngay khu tập thể kế bên. Một cô bên cửa hàng thực phẩm tươi sống đối diện qua đường. Cả tuần ông cứ đánh võng qua hai chỗ. Chiều thứ bảy thì, “cắt cơm, bơm xe, nghe thời tiết, liếc đồng hồ”, về quê với bà vợ già, tối chủ nhật lại lên. Thế nhưng có một tuần ông ốm, không về quê được. Mà chủ nhật thì nhân viên cấp dưỡng cơ quan cũng nghỉ nên không có người nấu ăn. Hai cô bồ bèn te tái chạy về nấu cháo cho vào cặp lồng xách lên phòng bón cho người tình. Giá như ông Lam phân công cho một cô nấu trưa, một cô nấu tối thì không nên chuyện. Đằng này ông chả nói gì thế là trưa ấy cả hai cô cùng vào. Họ vốn biết nhau. Và cũng biết rõ mọi chuyện của nhau. Cơ mà không nhìn thấy thì cũng mặc kệ coi như không ai biết ai. Bởi bình thường ông Lam là một tay đàn ông to khỏe. Rất cường tráng. Chiều đến ông vẫn đánh bóng chuyền với cánh cơ quan xung quanh, nhảy lên đập cắm vạch ba mét uỳnh uỳnh. Thế nên chăm hai cô vẫn rất ổn!

Hai cô xách cặp lồng cháo vào cho người tình.

Cô ngân hàng mua con gà ri nấu.

Cô tươi sống có tim cật lợn mới mổ.

“Anh ăn cháo gà với ngải cứu cho giải cảm.”

“Anh ăn cháo tim cật với hạt tiêu cho chóng khỏe.”

“Chóng khỏe để làm gì! Để lại hầu lồn con đĩ à?”

“Cái con đĩ này! Tội mày suốt ngày ám lồn vào nên đang khỏe như vâm mới thành ốm bề bệt ra thế này chứ!”

Lời qua tiếng lại, hai cô bỏ cháo, mặc kệ người ốm nhảy xổ vào túm tóc đánh xé nhau. Chủ nhật mọi người đi vắng hết nên chẳng có ai can. Hai cô nhảy ra sân ngân hàng vật lộn gào thét chửi bới giằng tung quần áo nhau ra. Om xòm. Dân phố hiếu kỳ, lũ trẻ ranh chúng tôi chạy vào xem cười bằng thích. Ông Lam phần vì mệt, phần vì nhục nên đóng chặt cửa không ra. Mặc kệ hai bà nhồng nhỗng tiếp tục nhảy nhót chửi nhau rồi lại nhảy bổ vào túm tóc móc nhau. Người nọ gào dọa người kia là hôm nay tao phải xé tan lồn con đĩ ra chấm muối!

May mà có người đi báo công an chứ không có khi tan tành thật. Thế là công an cho người lên áp giải hai cô về đồn giải quyết. Sau vụ ấy thì ông Lam bị mất chức trưởng ngân hàng, về hưu non. Còn hai cô nghe nói cũng bị kỷ luật rồi chuyển đi làm chỗ khác... Nên chuyện đàn bà mà lên cơn ghen thì sợ lắm, bất chấp lý lẽ phải trái thể diện. Kinh hoàng. Lúc ấy họ hoàn toàn bản năng...

       Tôi quay sang hỏi tiếp chú Cơ:

“Thế lúc đầu tiên cô Hồng và cô Hằng gặp nhau thế nào chú?” Máu tò mò cố hữu của tôi nổi lên bừng bừng không kìm được.

“Thì về cơ bản là họ cũng biết mọi chuyện cả rồi nên biết làm sao? Đành cứ đưa về nhà thu xếp ăn ở cơm nước cho bọn trẻ thôi.”

“Là cháu hỏi lúc đầu giáp mặt nhau kia?”

“À, vụ đó tao chủ động chớ. Tao bảo đây là Hồng, còn đây là Hằng. Có nguýt nhẹ nhau cái rồi xoay sang người sắp cơm, người thu xếp chỗ nằm cho bọn trẻ thôi.”

Cơm nước tắm rửa xong, bọn trẻ đã lên giường thì ba nhân dắt nhau ra vườn nói chuyện. “Mà thực ra tao cũng đếch biết nói thế nào. Một đằng người yêu cũ, vợ cũ tuy chưa có con chung nhưng tình sâu nghĩa nặng từ thủa còn thơ. Vả lại cổ đã tuyên bố nếu tao hắt hủi mẹ con cổ, cổ sẽ ôm cả hai đứa nhảy xuống sông Tiền cho khuất mắt. Cái vụ này thì dám lắm, tao chơi với cổ từ nhỏ tao biết tính mà. Còn cô Hồng cũng nói, em đã bán hết nhà cửa ôm cả ba đứa con máu thịt của anh vào đây rồi, anh có định đem chúng ra ngoài đường bỏ là tùy! Rối ruột quá đâm cùn, tao bảo hai bà là, tôi cán bộ đảng viên nên không được hai vợ, tôi chỉ được chọn một. Hai bà tự đàm phán với nhau. Xong rồi thì một bà vào buồng với tôi, một bà ngủ với con!”

“Thế rồi sao?”

“Hai bả rì rầm ngoài vườn khuya lắm. Tao đã thiếp đi rồi thì thấy vô buồng. Cả hai! Một bà vào nằm trong. Một bà nằm ngoài. Tao nằm giữa.”

“Ái chà chà! Trò chơi ba người, bánh mì kẹp pa tê à! Sướng nhất chú!”

“Tầm bậy! Sướng cái khỉ khô! Đời đàn ông của tao chưa bao giờ khổ như đêm đó chứ sung sướng cái nỗi giề!”

Chú Cơ kể, hai bả nói bên tình bên nghĩa ông bỏ ai cũng không đành. Khó cho ông. Mà bọn tôi cũng không ai muốn bỏ ông cả. Thôi thì bọn tôi chấp nhận làm chị em. Không gây lộn thắc mắc kiện cáo chi hết. Ông cứ xử sao cho công bằng là được!

“Tao nằm ngay đơ ở giữa giường. Bên trong là cô Hằng. Bên ngoài là cô Hồng. Cả hai người đàn bà năm ấy mới gần bốn mươi. Gái trẻ có cái non tơ mơn mởn của gái trẻ. Gái một con có cái rực rỡ của gái một con. Gái đẻ hai, ba lứa xong, con hết sài đẹn. Đến kỳ thảnh thơi son rỗi. Lúc bấy giờ lửa nồng mới đượm. Mới tới cao trào đàn bà mầy ơi... Hai bả nằm bên cạnh tao trong đêm mà thấy hơi nóng bốc lên muốn xém sườn luôn. Nói thiệt mày nghe, thậm chí tao còn nghe rõ tiếng thân thể đàn bà của hai cổ đang chuyển rần rần kia. Thế mà tao phải nằm yên thúc thủ. Mà năm đó tao mới hơn bốn chục, đang sung lắm chớ. Lại mấy tháng ròng chưa được tí gì! Tao dợm mình xoay nghiêng bên này định tính thì bả kia đã nhéo sườn đau điếng. Hai bả bắt tao nằm thẳng tắp ngay đơ cả đêm. Không cho cụ cựa quờ quạng bên nào. Không được cư xử thiên lệch!”

“Kakaka... Thế là mỡ không treo mà mèo vẫn nhịn thèm à chú?”

“Thì thế!”

Cả đêm ba người không ai ngủ được chút nào nữa. Sáng ra họ ngồi dậy nhìn nhau. Bỗng nhiên phá ra cười. Cười sằng sặc. Cười như điên. Cười như bọn trẻ con chơi trò thọc lét. Hai cổ túm vào vai tao mà đấm, nhéo mà cười sặc sụa, giàn cả nước mắt nước mũi. Nếu bọn trẻ không nghe tiếng ngạc nhiên quá, dồn hết cả vào cửa buồng, trố mắt đứng nhìn ba người lớn thì không biết bao giờ mới dứt cơn cười lạ kỳ ấy.

Cô Hồng bảo, thôi anh đưa chị Hằng với hai đứa nhỏ về quê, lo chỗ ăn ở nhà cửa cho ổn rồi lại lên đây. Trên này để em trông nom.

Cô Hằng thì cười hí hí bảo, cho chị mượn tạm ảnh mấy bữa nghe, rồi lại trả về đủ bộ.

Chú Cơ nghe họ nói mà cứng họng.

Chả biết đêm qua hai người đàn bà thỏa thuận với nhau thế nào mà giờ nghe chừng có vẻ thân ái đoàn kết lắm. Nghe mà rối bời ruột gan. Bởi ngày ấy chuyện vợ nọ con kia rất phức tạp. Còn tổ chức, còn cơ quan đoàn thể... Không đùa được đâu!

Chỉ có bọn trẻ con hai nhà tổng cộng năm đứa là vô tư. Chúng đã kịp nhận nhau và phân ngôi cao thấp theo tuổi. Và đã kịp gọi má Hằng, má Hồng. Đến lạ. Hình như trẻ con nó dễ làm thân nhau hơn. Và có vẻ như chúng đã cảm nhận được tình thế bất khả của người lớn mà nương theo chăng...

“Đời chú thế là quá ổn còn gì?”

“Ổn cái con tườu! Đó mới là bắt đầu chặng đường khổ ải nhất của đời tao.”

       Bởi không dám quyết phụ bà nào nên chú Cơ đành gánh cả. Một bà dưới vườn. Một bà trên thị trấn. Thế nhưng biết sẽ không ổn với cơ quan nên chú Cơ chủ động xin nghỉ việc. Chú bắt đầu cuộc vật lộn mưu sinh kiếm ăn nuôi con đúng nghĩa khi đã ở tuổi ngoại tứ tuần. Chú làm đủ việc từ thuê mướn rồi sang làm chủ ghe thương hồ đó đây khắp miền Tây.

Rồi cô Hằng sinh thêm một đứa con gái. Tổng cộng sáu con hai bà. Cũng may mà  đất miền Tây dễ sống, kiếm đâu cũng được cái nuôi con. Chỉ có cái sự dạy bảo bọn trẻ và vất vả đi lại giữa hai nơi mà thôi.

“Thế ông chồng cũ của cô Hằng đâu không đón hai đứa con ruột của mình về mà lại bỏ mặc cho chú cả vậy?"

“Ồ. Quên chưa kể bay nghe. Cô Hằng hồi trẻ đẹp nhiều người mê lắm. Chồng thứ hai của cổ cũng mê sẵn. Tao đi tập kết ra Bắc cổ ở nhà bị bên cộng hòa hăm he gây khó dễ. Ổng bèn tới gạ gẫm về với ổng. Cổ giao hẹn gá tạm cho yên, khi nào tao về là thôi. Ổng gật đầu cái rụp, nhưng bụng nghĩ chiến tranh liên miên thế này đâu có ngày đó. Thế mà rồi có thật! Hôm uống rượu chia tay ở nhà tao, sáng sớm ổng lẳng lặng ra về. Sẵn thuyền máy đi đánh cá của nhà, ổng dông tuốt một mạch sang biển Mã Lai tị nạn luôn. Rồi qua Mỹ. Xong.”


       Tôi lặng người ngồi ngắm chú Cơ. Tôi vẫn không tìm thấy nét nào của một ông giáo dạy chính trị thủa xưa nơi ngôi trường cuối phố. Một người đàn ông miền Tây điển hình đang ngồi trước mặt tôi. Da đỏ rám nắng. Tóc bạc cắt ngắn. Ánh mắt vẫn rất tinh nhanh. Và rượu thì, hình như đàn ông miền Tây họ uống rượu thay cho nước, hệt như cánh đàn ông trên rẻo cao phía Bắc, nơi tôi cũng đã từng ở mấy năm. Vốn là thày thuốc, nhiều khi nhìn họ uống như vậy tôi tự hỏi, chả lẽ lục phủ ngũ tạng của họ bằng thép sao. Họ không biết rằng thế là hủy hoại sức khỏe kinh khủng thế nào sao? Nhưng tôi cũng đã quan sát và âm thầm rút cho mình kinh nghiệm ở đời là, những nơi mà người ta uống rượu với nhau hết mình, thậm chí say xỉn tại trận thì thường là họ rất thật thà, hiếu khách quý người. Chú Cơ vẫn chạm cốc đều với mấy anh em trong tốp chúng tôi. Chạm xong là cạn. Kệ không so đo để ý người đối tửu. Nhưng chú vẫn hoàn toàn tỉnh táo. Giọng nói vẫn rành rẽ chưa hề có biểu hiện gì méo tiếng mất hình...

“Thế rồi mọi việc cũng dần qua mày ạ. Sắp nhỏ nuôi mãi rồi cũng lớn. Cũng được học hành đầy đủ, công việc đàng hoàng. Cơ mà khổ thân hai bà nhà tao quá...”

“Sao chú?”

“Hồi vất vả khó khăn bóp mồm bóp miệng nuôi con thì không sao. Đến hồi bọn trẻ trưởng thành thì bà nọ rủ bà kia lăn ra ngã bệnh rồi đi cả trong một năm. Bỏ tao chơ vơ hơn chục năm rồi! Hình như hai bả rủ nhau đi xuống đó cho có chị có em sao đó mầy ơi...”

       Chú Cơ kể, sau hơn chục năm vượt biên thì ông chồng thứ hai của cô Hằng trở về nước xin bảo lãnh cho hai thằng con trai sang bển. Nói mãi cô Hằng mới đồng ý. Cô bảo hỏi ý kiến ông Cơ. Bởi ông là người đã nuôi dạy chúng thành người và cư xử với chúng không khác gì con ruột.

“Thế chú bảo sao?”

“Ồ. Lúc đó thì đất nước mình đổi mới rồi, cởi mở rồi. Mọi việc đã được nhìn nhận khác chứ không còn thiên kiến như xưa nên tao bảo hai thằng nhỏ, các con nên đi sang bên đó có điều kiện phát huy tốt khả năng của mình hơn. Vả lại ổng là ba ruột các con, nay cũng già rồi ở mình không có người chăm sóc cũng không tiện. Thế giới nay nhỏ, đâu cũng là nhà mà.”

Nghe xong câu này của chú Cơ thì tôi quên hẳn cái hình ảnh ông giáo xưa. Trước mắt tôi là ông già miền Tây tốt bụng phóng khoáng nay đang ngồi kể lại chuyện đời cho nghe. Hình bóng ông thày nghiêm cẩn ngày xưa trên bục giảng ngôi trường phố huyện như chẳng có gì liên quan đến người đàn ông hiện tại. Đời biến đổi thật lạ lùng. Nhiều cái không thể đem sách vở lý lẽ ra giải thích được. Mà chúng ta đành tin vào số phận cuộc đời của mỗi con người.

Thậm chí là của cả một dân tộc, của cả một đất nước hình như đã được một đấng tối cao nào đó quyết định cả rồi. Đó gọi là định mệnh. Nghe kể thì các con chú đều học hành thành đạt cả. Cô út nay cũng là thạc sĩ dạy một trường phổ thông trên thành phố.

“Thế sao chú không lên thành phố với các con mà ở dưới này làm nhà hàng chi cho vất vả?”

“Tao ở phố không quen mầy ơi. Hồi ra khỏi nhà nước đi làm ăn buôn bán thương hồ riết thành quen. Tao đâm nghiện sông nước. Hai thằng bên Mỹ cũng về bảo đón sang bển ở cho vui. Nhưng tao không đi. Chúng bèn bảo ba già rồi nghỉ ngơi sông nước đi, chúng con gửi tiền phụ ba dựng cái nhà hàng bên sông, thuê người làm, ba trông coi thôi. Ba cứ ngắm sông nước hàng ngày là được mà!”

Chợt chú Cơ khoát tay chỉ ra mé bờ sông cạnh nhà hàng: “Tao đã phải gieo cả một vạt điên điển kia kìa. Tay bển ấy đến mùa điên điển trổ bông mà khỏe người là cũng bay về đây đó. Hai thằng già ngồi nhậu ngắm bông điên điển rồi chảy nước mắt với nhau bay ơi...”

Tôi nhìn theo hướng tay chú Cơ. Xa xa xấp xới bên mép nước một vạt cây điên điển đang trổ hoa vàng rực rỡ. Gió từ sông thổi vào, vạt hoa xao động rung rinh rập rờn như một dải lụa mềm óng vàng tươi. Tôi chợt nhớ, hình như ngoài Bắc độ này triền đê đầu phố quê tôi cũng đang phủ đầy sắc hoa tươi màu nắng của điền thanh, điên điển...

TRẦN THANH CẢNH


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 274)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 279)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 318)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 327)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 557)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
08 Tháng Hai 20268:09 CH(Xem: 568)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Việt Nguyên là bút danh của Bùi Văn Long, quê ở Long Xuyên, An Giang. Thơ Việt Nguyên viết về những góc đời rất nhỏ — một góc phố đêm, bữa cơm một người, một cử chỉ tử tế thoáng qua. Thơ lặng, buồn vừa đủ, không than thở, chỉ nhắc ta rằng giữa đời sống mỏi mệt này, nhân gian vẫn còn ấm. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn thi hữu những bài thơ của Việt Nguyên sau đây. (Tạp Chí Hợp Lưu)
08 Tháng Hai 20267:36 CH(Xem: 312)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
08 Tháng Hai 202612:04 SA(Xem: 547)
*** Đài Phát Thanh của Thi Sĩ - RADIO del POETA 01/02/2026 MUSICA y POESIA del MUNDO - Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới *** Trong chương trình Âm nhạc và Thi Ca Thế Giới ngày thứ bảy tuần 31/01/2026 Đài Phát Thanh của Thi Sĩ CALIDOSCOPIO, phát sóng từ Mexico và Argentina cho khắp Châu Mỹ La tinh và TBN cũng như Ý, lại tiếp tục trình bày Thơ NCT.
07 Tháng Hai 202610:48 CH(Xem: 614)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
07 Tháng Hai 202610:40 CH(Xem: 436)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7000)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13938)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 12807)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13378)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 274)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 279)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 318)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 557)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
(Xem: 312)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 614)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
(Xem: 2678)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
(Xem: 2831)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 546)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 664)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 3470)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
18 Tháng Mười Một 20257:07 CH(Xem: 3868)
“Trên từng cây số” là tên một bộ phim truyền hình nhiều tập của Bun-ga-ri vốn quen thuộc với khán giả Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Nhưng chưa tới thập niên sau, “Trên từng cây số” của màn ảnh xứ hoa hồng đã biến thành nỗi ám ảnh đậm nước mắt, và cả máu nữa của nhiều người Việt đi xuất khẩu lao động tại các nước Đông Âu. Đây chỉ là vài mẩu chuyện do em trai tôi – một họa sĩ kể lại sau khi đã trải nghiệm trên từng cây số cuối cùng của con đường khổ ải này…
10 Tháng Hai 2026(Xem: 327)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 436)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 596)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
30 Tháng Mười Hai 2025(Xem: 2842)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 9626)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26068)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 32421)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 32743)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 7365)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 9783)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2433)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 2476)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 2510)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 2855)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
(Xem: 5040)
Giữa khoảng lặng mênh mang của một đêm trăng rụng, bài hát “Sao Sa Khẽ Rụng Thiên Hà Xẻ Đôi” vang lên như một khúc chiêm nghiệm về tình yêu, định mệnh và sự buông bỏ. Từ những câu thơ thấm đẫm nỗi trầm tư của Trương Đình Trác, ca khúc mở ra một không gian mờ ảo – nơi nỗi buồn hóa thành ánh sao, nơi tiếng lòng con người hòa cùng nhịp ngân của vũ trụ.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4352)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 3979)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5090)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.