- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,613

CHUYỆN NHẢM SỚM MAI

23 Tháng Mười Một 20193:42 CH(Xem: 6271)



ChNhSomMai-HC
Nhà văn Hoàng Chinh -Canada 2019

Chú cho cháu bao nhiêu cũng được. Cháu chỉ cần chú giúp cháu mở hàng.”

 

Giọng nói nhỏ nhẹ, mỏng mềm như trượt về từ một không gian xa lơ lắc. Tôi ngần ngừ, nhìn quanh. Một ngày mới thênh thang trước mặt. Nắng mới lên, vắt vẻo ngọn me già.

 

Okay chú nhé!” Vẫn cái giọng mỏng mềm. Tôi mỉm cười, nhìn xuống chân mình. Đôi giầy hôm trước lần mò cái ngõ hẻm lầy lội tìm người quen cũng lấm lem lắm rồi. Và cái chuyện mở hàng đượm nét dị đoan của chú bé mặt mũi ngây ngô thế kia gợi cho tôi sự tò mò. Cả đời tôi chưa bao giờ ngồi gác chân lên trước mặt ai. Dọa treo cổ tôi, tôi cũng không đưa chân mình cho người khác rửa. Nhưng thằng bé này làm tôi xiêu lòng.

 

Thấy tôi ngập ngừng, nó nhanh nhảu đẩy cái ghế cỏn con vào sát chân tôi, “Chú ngồi đỡ cái ghế này nhé.”

 

Cái ghế nhựa mầu xanh có bốn chân ngắn ngủn, tôi lóng cóng khom mình ngồi xuống, thấy hụt hẫng như sắp ngã. Thằng bé trải tờ báo xuống nền xi măng, trịnh trọng tuột từng chiếc giầy ra khỏi hai bàn chân tôi. Tôi ngượng nghịu nhìn xuống khung hình cô gái chải chuốt trên tờ báo trải trên nền xi măng lề đường. Hoa hậu lộ hàng. Chưa kịp đọc hết hàng chữ lớn thì thằng bé đã đặt đôi giầy của tôi lên ngay khuôn mặt có cặp môi đỏ chót của cô hoa hậu.

 

“Chú gác chân lên đây cho sạch.”

 

Nó đỡ hai chân tôi, đặt lên tấm khăn bông hình chữ nhật. Tôi áy náy. Hai bàn chân sần sượng như củi mục làm sao có thể sạch hơn cái khuôn trăng mặt hoa da phấn trên trang báo. Nhưng thôi, chuyện nhỏ mắc mớ gì phải bận tâm.

 

Một con chó lững thững đi qua, ngừng lại hít hà quanh chỗ tôi ngồi. Thằng bé đưa tay xua nó đi. Con chó nghếch mõm lên nhìn tôi bằng con mắt màu nâu, nhìn qua thằng bé, rồi mới chịu cúi đầu lủi thủi bước đi.

 

Tôi tò mò nhìn cái hộp gỗ vuông. Trên mặt hộp dán đầy những miếng stickers đủ mầu sắc, đủ hình dạng. Trong đám hình ấy tôi nhận ra khuôn mặt của vài ca sĩ Mỹ nổi danh lẫn với hình những diễn viên Hàn (Hyu, Park, Moon, Kim, Huyn…) hay Hán (Lương, Chu, Tần…) nào đó có những con mắt to tròn.

 

Thằng bé mở nắp cái hộp gỗ, lấy ra một chai thủy tinh trong vắt. Qua động tác lắc nhẹ của cánh tay, chất lỏng bên trong chai đặc sóng sánh.

 

“Trước hết, cháu phải lau một lớp thuốc làm mềm da cái đã.” 

 

“Thuốc làm mềm da à?” Tôi hỏi cho có chuyện.

 

“Vâng, làm mềm da, chú ạ.”

 

Tôi không biết gì về nghề đánh giầy. Nhưng tôi nghĩ là thằng bé nói đúng. Dù sao về cái công việc đang làm này, nó cũng có khả năng chuyên môn và kinh nghiệm nhiều hơn tôi. Hơn nữa, trước khi lau sạch những vết dơ bám trên da giầy thì làm cho da mềm lại là điều hợp lý.

 

“Thuốc này siêu hiếm chú ạ. Chỉ dùng cho những giầy da thật mới đáng.” Thằng bé vừa nói vừa thận trọng mở nắp chai.

 

Tôi tò mò theo dõi từng cử chỉ của thằng bé. Nó chăm chú như người y tá chăm sóc vết mổ chưa cắt chỉ của bệnh nhân. Mỗi lúc nghiêng chai cho nước sánh ra miệng, thấm vào miếng bông gòn nắm chắc ở hai đầu ngón tay, thằng bé thận trọng nhìn chất lỏng sóng sánh bên trong. Cách nhìn của nó khiến tôi liên tưởng đến cách nhìn của người tín đồ trân trọng chai nước thánh. Nó ngồi dưới thấp, cái đầu lại cúi xuống nên tôi không thấy được đôi mắt nó nhưng mỗi lúc nó ngẩng lên, tôi bắt gặp vẻ mừng rỡ, tở mở trong ánh nhìn. Nước thánh này sẽ tẩy rửa mọi vết thương; sẽ làm cho những tế bào bị tổn thương lành lặn trở lại, sẽ làm cho lớp da giầy sần sùi vì thời tiết mùa đông khô quắt, mùa thu ẩm ướt, mùa hè bong da, mùa xuân lầy lội… của xứ sở tôi định cư, được mềm và dẻo như lúc vừa ra khỏi tiệm đóng giầy.

 

Một người đàn ông da trắng dừng lại nhìn chúng tôi, mỉm cười, gật nhẹ cái đầu có mớ tóc vàng xậm, rồi đưa máy ảnh lên chụp. Tôi bối rối nhìn những ngón tay thô cứng đè lên cái nút bấm chiếc máy hình Nikon, tôi nhìn lướt qua khuôn mặt có những vệt tàn nhang trên trán ông ta, cố nặn một nụ cười. Đầu ngón tay bấm lia lịa một loạt hình xong, cái đầu người đàn ông gật gật, cái miệng nói cảm ơn, những sợi tóc vàng vật vờ trước vầng trán cao. Tôi mỉm cười thay cho câu trả lời. Và người đàn ông da trắng chìm vào dòng người đang hong chút dịu mát sắp tan vào cái nóng sớm mai.

 

Giữa những người đi đường tất bật, con chó ban nãy lại trở lại. Nó đứng cách chỗ chúng tôi hai bước chân. Nó nhìn tôi. Tôi nhìn nó. Hai cái nhìn cùng lạ lẫm trong mắt nhau. Con chó lông trắng có những vằn đen viền quanh bụng. Những viền đen quấn quanh cái thân tròn, vắt lên cái nền trắng của lớp lông xù khiến nó trông giống con gấu nhỏ. Dưới bụng nó, có chỗ lông thưa thớt như bị rụng. Phố bắt đầu đông người. Nhưng con chó không để ý đến ai, cứ lảng vảng quanh chỗ chúng tôi. Nó mon men lại gần sát bên chân tôi. Nó làm tôi nhớ đến đám chó của cảnh sát ở những phi trường quốc tế. Lúc thằng bé bỏ miếng bông gòn xuống mặt cái khay nhựa, con chó hếch mũi ngửi. Rồi gầm gừ. Chắc cái mùi làm nó khó chịu.

 

“Con chó này, cút đi, muốn vào nồi à!” Thằng bé đánh giầy mắng con chó.

 

Con chó không để ý đến câu nói của thằng người. Hẳn nó đã quen với những quát mắng hằn học của đời sống.

 

“Làm rựa mận mày đấy, con ạ.”

 

Câu dọa làm tôi bật cười. Ai đó mới đây viết trên mạng rằng một năm dân Việt tiêu thụ năm triệu con chó. Một hình thức tiêu diệt chủng loại khác. Phải như tôi nói được cho con chó nghe điều đó nhỉ. Thằng bé đưa từng chiếc giầy lên ngang tầm mắt, xoay mũi giầy rồi tới gót giầy về phía nó, nghiêng đầu ngắm nghía.

 

“Đôi giầy siêu tốt,” nó suýt soa. “Cháu nghĩ chỉ có bọn I-ta-lia mới làm được loại giầy như thế này.”

 

Tôi không trả lời. Đôi giầy này Denize mua tặng tôi trong chuyến về thăm nhà ở Brasil. Tấm hình chụp bằng chiếc máy ảnh kỹ thuật số tôi mua tặng dịp sinh nhật Denize cho thấy cảnh nàng đứng trước tiệm giầy trên con phố chính đô thị Rio de Janeiro còn in đặm trong trí nhớ tôi. Hàng chữ Made in Brazil in nổi trên lớp da đệm trong lòng hai chiếc giầy. Thành ra tôi thấy không cần nhắc thằng bé này rằng giầy của tôi không chế tạo tại Italia. Và dù sao thì cả Brasil lẫn Italia đều cùng nổi tiếng về môn đóng giầy. Thằng bé kẹp lớp da phía gót giầy giữa hai ngón tay. Một chân chống, một chân quỳ bên chiếc ghế tôi đang ngồi. Nó xoa xoa đầu ngón tay trỏ lên lớp da.

 

“Da của tụi nó siêu mỏng mà lại siêu bền, chú nhỉ.”

 

Denize cũng nói thế với tôi lúc tíu tít kể về cảm giác đầu tiên lúc xoa những đầu ngón tay lên lớp da giầy mềm mại. Vừa chạm vào lớp da mỏng của nó là em nghĩ phải mua nó về cho anh ngay. Hai bàn chân anh lao động cày cuốc lâu năm, bây giờ chúng nó phải được chút phần thưởng chứ.

 

“Cháu tên gì?”

 

Tôi xô tôi ra khỏi khung kỷ niệm và cắt ngang dòng suy tưởng của thằng bé đánh giầy mơ mộng. Nó giật mình, đờ người ra vài giây, nhìn tôi, ngơ ngác như kẻ vừa bị lôi ra khỏi giấc chiêm bao. Rồi nó bừng tỉnh, nói một cái tên con trai rất phổ biến. Một cái tên quen thuộc.

 

Và tới phiên tôi sựng lại, ngẩn ngơ nhìn nó.

 

“Thật không?”

 

“Thật không gì chú.”

 

Tôi cười, “Hai chú cháu mình xài cùng một tên.”

 

“Ơ vậy à. Chú cùng tên với cháu à. Hay nhỉ.”

 

Tôi hân hoan chìa bàn tay ra. Nó đặt vội chiếc giầy xuống – dù vội nhưng vẫn rất thận trọng như người ta đặt một quả trứng gà xuống nền xi măng - chùi vội hai bàn tay vào vạt áo sơ mi cũ, và nhanh nhẹn nắm lấy tay tôi bằng cả hai bàn tay xương xẩu.

 

“Sự tình cờ thú vị đấy nhá,” tôi gật gù.

 

“Chuẩn không cần chỉnh đó chú.”  

 

Câu nói của thằng bé đánh giầy làm tôi buồn cười. Bỗng dưng tôi muốn cúi xuống ôm choàng lấy cái kẻ trùng tên với tôi. Từ chiếc ghế tôi ngồi, nhìn xuống, cái đầu thằng bé đánh giầy như lệch méo qua một bên. Ơ cái thằng đầu méo. Chắc ngày trước mẹ nó sơ ý thế nào để con nằm nghiêng mãi một bên nên bây giờ cái đầu méo như trái xoài.

 

Tôi nhìn những lọn tóc dính bết vào nhau thành từng cụm. Chắc nó đã nhúng bàn tay vào bồn nước trong một nhà vệ sinh hay một vòi nước công cộng nào đó, rồi đứng trước tấm gương ố vuốt vội lên mái tóc lởm chởm những sợi đen lẫn những sợi nâu cháy nắng. Tôi biết, bởi ngày xưa tôi cũng hay làm thế. Năm ngón tay nhúng nước, vuốt vội lên mái tóc. Và tung tăng hẹn hò dài những con phố quen tên chốn này. Những con phố bây giờ đã mất tên.

 

Thế là chúng tôi đã vượt qua được ranh giới của sự ngại ngần. Cũng nhờ cái sự trùng tên. Nó vừa chăm chú gỡ một vệt kẹo gum dính dưới gót chiếc giầy của chân bên phải vừa phỏng vấn tôi như tay nhà báo chuyên nghiệp.

 

“Giầy này bạn gái chú tặng chú phải không?”

 

“À, ư…” Tôi ậm ừ.

 

“Cháu biết bạn gái chú tặng chú.”

 

“Sao cháu biết?”

 

“Cháu cũng chẳng biết vì sao,” nó đưa chiếc giầy lên vạt nắng, nghiêng đầu ngắm nghía. “Nhưng cháu biết.”

 

Tôi cười. Cười để khỏi phải trả lời.

 

“Cháu đoán; đoán thôi nhé… Hai người chia tay rồi phải không nào?”

 

Tim tôi hụt mất một nhịp. Denize của tôi đã là kỷ niệm. Dẫu có một thời chúng tôi yêu nhau đến điên cuồng.

 

“Cháu làm nghề thầy bói nữa mới đúng.” Tôi nhún vai, gượng gạo một khóe cười.

 

“Chia tay rồi chú mới về Việt Nam một mình được như thế này.”

 

Tôi phì cười. Thằng nhỏ làm tôi nhớ Denize. Bao nhiêu lần hứa đưa Denize đi thăm Việt Nam mà đâu có thành. Tôi nhớ lọn tóc đen nhánh lượn lờ trước trán và lúm đồng tiền trên má Denize. Tôi nhớ cả tiếng cười mềm như tơ lụa của Denize mỗi khi nghe tôi kể chuyện khôi hài.

 

“Nhưng cháu đoán sai rồi. Chú với người yêu chú vẫn còn…”

 

Tôi nói dối, bởi tôi tin vào chuyện hàn gắn.

 

“Ô, sorry chú.” Thằng bé cười. Khoe những chiếc răng lởm chởm.

 

Thằng bé không tò mò chuyện tình cảm của tôi nữa. Nhưng nó tra vấn tôi về tình yêu. Làm như tôi là chuyên viên về tình ái. Không là chuyên viên làm sao chinh phục được một nhan sắc mượt mà vùng biển ấm Nam Bán Cầu. Không là chuyên viên làm sao cuốn hút được cánh chim hiếm quý từ Rio de Janeiro, về tận Bắc Mỹ. Thằng bé đánh giầy phục tôi sát đất. Nó đâu biết Denize đã vuột khỏi vòng tay tôi, như cánh chim nhớ khung cảnh núi rừng Amazon hùng vĩ, đã chắp cánh bay xa. Thằng bé đánh giầy tra vấn tôi. Nó muốn biết thế nào là tình yêu đích thực. Bỗng dưng tôi thành nhà tâm lý học, say sưa thuyết giảng. Nó gật gù tán thưởng từng câu từng chữ tôi nói ra. Dần dà, nó kể cho tôi nghe về tình yêu của nó.

 

“Nó chia sẻ với cháu mọi thứ; thế có phải là tình yêu chưa nào? Nói chú đừng cười, nhưng ngay cả cái quý nhất của đời con gái – cái ấy đó chú - nó cũng không ngại ngần.”

 

Tôi toan hỏi sao cháu biết cái ấy là cái quý nhất của cô ta (tôi đoán “người kia” của nó là một cô gái, dù vào cái thời trắng đen nhập nhòe này nhiều khi tưởng như thế nhưng lại không phải là như thế), nhưng suy nghĩ một giây, tôi bỏ qua. Tôi sợ thằng bé không hiểu ý tôi rồi tôi lại mất công giải thích.

 

Với người này, cái quý nhất của người kia chỉ là thứ bỏ đi.

 

“Nó mua cho cháu chai thuốc đánh giầy này đấy chứ. Quý lắm đấy.”

 

Thằng bé vừa nói vừa gõ nhẹ những đầu ngón tay lên cái chai thuỷ tinh. Móng tay dài viền đen gõ lạch cạch lên thành cái chai đựng chất thuốc hiếm quý.

 

“Như vậy mình có thể nói là nó không thấy xấu hổ khi có người yêu đi đánh giầy, phải không chú?”

 

Tôi gật gù, “Đúng rồi.”

 

Cái thời kỳ kinh tế suy thoái, hãng tôi sa thải bớt nhân công, tôi mất việc làm, phải đi giao báo qua ngày, Denize của tôi đã mua cho tôi cái túi vải khoác trên vai để khỏi mất công ôm chồng báo quảng cáo. Tôi ngần ngừ cầm cái túi vải mát lạnh trên tay, lòng chùng xuống. Cảm xúc tràn lan. Cô gái không thấy xấu hổ khi có người yêu là kẻ đi giao báo quảng cáo. Dù gì đi nữa người ta cũng không nỡ bỏ nhau.

 

“Đúng rồi,” Tôi gật gù nói ra cái ý nghĩ - thuở ấy - trong đầu. “Khi đã yêu nhau thì dù gì đi nữa người ta cũng không bỏ nhau.”

 

“Vậy tại sao…” Thằng bé ngừng tay xát bàn chải. “Vậy thì tại sao nó không bao giờ đi cùng với cháu ra ngoài phố. Nó không bao giờ đi shopping, đi xem phim, đi dạo phố với cháu. Nó sợ đi bên cháu, sợ cầm tay cháu… như thể cầm vào tay cháu thì mất trinh không bằng.”

 

Tôi cắn môi, ngập ngừng.

 

“Mà có còn trinh đâu mà sợ mất!” Thằng bé buông ra cái giọng chua cay.

 

Không, không nên như thế. Lòng tôi dằn vặt và áy náy vì cái nhận xét độc địa. Không nên nghĩ thế. Trinh tiết của tâm hồn mới là điều đáng nói. Nhưng làm cách nào giải thích cho thằng bé lớn lên ở lề đường - mà lại là lề đường của đất nước Việt Nam khốn khổ - để nó có thể hiểu được trinh tiết của tâm hồn mới là cái ngàn vàng. Tôi nhìn mớ tóc rối trên cái đầu méo của thằng bé đánh giầy. Thiên hạ đi qua đi lại trên đường phố. Chẳng ai để ý đến chúng tôi. Tiếng còi xe inh tai không làm gián đoạn cuộc trò chuyện của chúng tôi. Màu nắng làm tôi nhớ Denize. Những ngày đông giá đầy tuyết trắng ở Bắc Mỹ, Denize cứ than là nhớ nắng Rio.

 

“Thường thì phụ nữ mơ có một người đàn ông có công ăn việc làm vững chãi,” tôi nói.

 

“Cháu cũng có xin cái job bảo vệ đấy chứ, nhưng mà…”

 

Tôi nhìn những ngón tay xương xẩu. Cặp xương đòn gánh nhô ra hai bên cái cổ dài ngoằng. Tướng tá thế này thì bảo vệ cho ai đây. Tôi nghĩ nhưng không nói ra ý nghĩ của mình.

 

“Dạo này xin làm bảo vệ là dễ nhất. Chỗ nào cũng cần. Nhà hàng, tiệm mát-sa, nhà nghỉ, ca-si-nô. Nhà riêng của đại gia. Ngay cả nhà chùa cũng cần bảo vệ. Chú biết không?”

 

Ừ thì tôi biết. Không muốn biết cũng phải biết bởi cứ ra phố, nhìn ngang nhìn ngửa là thấy ngay. Thanh thiếu niên đứng ngồi đầy những con phố, những cửa tiệm. Nam thì làm bảo vệ, nữ thì son phấn đặm màu rồi khoác vài mảnh vải lên người, ngồi trước những cửa quán, chen chúc nhau dạt cả xuống lề đường. Để làm gì, ai mà biết được.

 

Thằng nhỏ nghịch ngợm búng đầu ngón tay vào những ngón chân tôi, “Chú đã đi mát-sa chân chưa. Chú nên đi mát-sa bây giờ. Mai mốt có bạn gái đi cùng, bạn gái sẽ không cho chú đi mát-sa đâu.”

 

“Sao lại không cho?” Tôi hỏi.

 

“Tại mấy đứa mát-sa hot girl lắm đấy. À, nhưng mà chú chẳng nên đi mát-sa một mình. Yêu nhau thì vui buồn sướng khổ gì cũng phải có nhau, phải không nào?”

 

Tim tôi hụt đi một nhịp. Có phải tôi đã kéo được tin yêu trở về trong lòng kẻ vừa đánh mất tin yêu?

 

Thằng bé nghịch ngợm bóp mạnh đầu ngón chân cái của tôi. “Bọn hot girl bây giờ mát-sa đỉnh lắm.”

 

Tôi nhìn bàn tay nó. Những móng tay viền đen. Ô, vậy là không được rồi. Dơ bẩn như thế làm sao những đứa con gái chịu cho cầm tay. Ngước lên, bắt gặp cái nhìn của tôi, hay chợt nhận ra những móng tay viền đen, thằng nhỏ bỏ chiếc giầy xuống, xoa hai bàn tay vào nhau ngượng ngùng.

 

“Tới giờ nghỉ cháu mới rửa tay.”

 

Nó nhìn chăm chú vào hai bàn tay đang xòe rộng. Những ngón dài với những cục xương gồ lên ở đốt.

 

“Tay này tụi girl chúng nó chê là phải.” Thằng bé lẩm bẩm rồi chùi hai bàn tay vào vạt áo.

 

“Thế cháu với cô bạn gái có còn…”

 

“Nó chảnh như con cá cảnh, ai mà chịu nổi, chú ơi!” Thằng bé ngắt lời tôi.

 

“Cho nó một cơ hội nữa đi. Yêu là phải biết tha thứ cho nhau những chuyện nhỏ. Những chuyện lặt vặt.” Tôi lên mặt dạy đời, như một lần kia tôi cũng đã dạy tôi như thế.

 

Hai con mắt rời chiếc giầy, ngước nhìn tôi. Giọng nói mềm, tẩm đầy cảm xúc, “Cháu thương nó thật đấy chứ.”

 

“Hãy cho tình yêu một cơ hội, bởi vì tình yêu có thật.” Tôi nói, chắc như đinh đóng cột.

 

Thằng bé lại ngước nhìn tôi. Lặng im một thoáng, rồi nở nụ cười hiền. Tôi thấy trong nụ cười ấy, hình ảnh đôi trẻ nắm tay nhau, tung tăng trên đường phố, những buổi chiều nắng vàng phản chiếu từ những khung cửa kính cao ốc, nhạt nhòa trên tóc.

 

Tiếng còi xe trộn lẫn vào nhau. Thành phố cuồn cuộn tràn xuống lòng đường. Người đi qua đi lại nườm nượp hai bên đường. Chẳng ai để mắt đến chúng tôi. Ai cũng vội vàng, hấp tấp. Chỉ có chúng tôi là nhàn hạ, nói toàn những chuyện không đâu. Con chó ban nãy luồn ra khỏi đám đông, mon men đi về phía chúng tôi. Nó dừng lại khi cách chúng tôi một bước chân. Hai con mắt nâu hiền. Cái mõm dài nghếch lên, chờ đợi. 

 

“Lại mày nữa đấy à!” Vừa loay hoay với miếng bông gòn, thằng bé vừa nói. “Bọn ăn trộm chó chúng nó mà trông thấy mày là mày toi đấy!”

 

Con chó không hiểu. Nó dợm bước lại gần. Thằng bé nhặt viên sỏi ném con chó. Con chó tuông chạy, cách xa chỗ chúng tôi một khoảng, ngừng lại tiếp tục xốc mũi ngửi những mảnh thức ăn vụn quăng trên lề đường. Rồi lại lân la đến chỗ chúng tôi. Một lát, nó lủi lại sát bên chân tôi, hít hà một cách nồng nhiệt như khám phá ra điều gì lạ lẫm. Con chó lại làm tôi nhớ lũ chó của cảnh sát, siêng năng đánh hơi tìm bạch phiến hành khách giấu trong người ở những phi trường quốc tế.

 

Thằng bé vẫn say sưa kể cho tôi nghe về cái lần nó yêu cô bạn gái trong phòng ngủ của bố mẹ cô, lúc hai ông bà đi sinh. Tôi hỏi đi sinh là đi đâu. Nó ngớ ra, nhìn tôi một giây rồi phì cười, “Chú là người nước ngoài có khác. Đi Sinh là đi Sin-ga-po đấy.”

 

Bàn tay cầm bàn chải thoăn thoắt lướt trên da giầy càng lúc càng nhanh, như động tác thân thể đứa con trai đang dồn dập trên cái tròn trịa thân thể gây gây mùi thiếu nữ.

 

Bất chợt, cái lưỡi mềm mại của con chó chạm vào lưng bàn chân tôi. Tôi giật mình co chân lại, gạt chai nước đổ nghiêng. Chất lỏng đánh bóng trào ra, loang vũng trên mặt xi măng lở lói. Thằng bé bừng tỉnh. Đứa con trai bị giật ra khỏi cơn mê đắm xác thịt. Mắt nó long lên. Cái giọng nhỏ nhẹ ngọt ngào bỗng tẩm đầy nét  cọc cằn, hung bạo, “Chết con mẹ mày. Đéo mẹ con chó khốn nạn này!”

 

Những ngón tay cuống cuồng vồ lấy cái chai nước thánh. Nhưng muộn mất rồi. Nước thánh đã loang một vũng nhỏ trên mặt đường và len lỏi vằn vèo theo những kẽ nứt của gạch đá như những con cuốn chiếu tìm nơi ẩn náu.

 

Thằng bé nắm chặt cái chai trong lòng bàn tay. Nó đứng bật dậy đuổi theo con chó. Con chó vừa sủa vang vừa cong đuôi chạy. Lẫn vào đám người tất bật trên đường phố. Thằng bé luồn lách giữa những người qua đường một lúc rồi lủi thủi trở lại chỗ tôi ngồi. Từ tuốt đàng xa, con chó đứng lại, cụp đuôi, vênh vang sủa như thách thức. Chất thuốc trong chai của thằng bé đánh giầy chắc có mùi gì đó làm con chó khó chịu.

 

Thằng bé không ngừng lẩm bẩm nguyền rủa con chó. Tôi nhìn đôi giầy loang lổ chất thuốc làm mềm da. Những vệt thuốc làm lớp da giầy dộp lên, như thể sắp bong ra. Hệt như những đốm lang ben trên khuôn mặt thiếu niên dậy thì. Làm sao bây giờ đây. Chẳng lẽ bắt đền thằng nhỏ. Nó nghèo mạt lấy tiền đâu ra mà bồi thường.

 

Chợt thằng nhỏ bật người lên mừng rỡ, “Xong rồi. Để cháu chạy qua góc đường, hỏi xin thằng bạn...”

 

Nó ngần ngừ nhìn tôi. Tôi cũng ngần ngừ nhìn nó. Rồi nó nhanh nhảu, “Chú chờ cháu ở đây. Cháu gửi thùng đồ nghề lại đây chú coi giùm cháu. Cái thuốc này phải tẩy ngay mới được. Chú chờ cháu nhé.”

 

Nó cầm đôi giầy, thoăn thoắt bước đi. Cái tung tăng trẻ thơ làm lòng tôi mềm lại. Tôi nhìn theo cái bóng mảnh khảnh của đứa thiếu niên đang nhòe dần vào tảng màu loè loẹt của hàng trăm bóng người trên đường phố.

 

Tôi ngồi trơ ra đó. Hai bàn chân trắng bệch, trần trụi, trơ trẽn. Bây giờ khách qua đường mới nhìn tôi. Tôi co những ngón chân, cố giấu những móng dài lười cắt. Thiệt tình. Khi không lại tháo bí tất bỏ ở nhà trọ. Dù trời có nóng cách mấy đi nữa thì cũng đâu đến nỗi phải đi giầy không vớ. Con chó ban nãy lân la trở lại. Hít hà một cách say sưa chỗ lề đường ẩm ướt. Nhất định cái chất lỏng kia có mùi gì đó lôi cuốn nó.

 

Và cái thằng bé đánh giầy này, đi đâu sao mà lâu lắc.

 

Tôi ngồi hoài như thế tới khi mặt trời đã xuyên nghiêng những mái nhà cao ốc phía bên kia đường, quăng xuống lề đường phía tôi ngồi những vệt nắng lam nham. Cổ họng chợt ngứa, tôi cất tiếng ho khan. Ngóng trước, trông sau, tìm cái hình ảnh quen thuộc. Cho đến khi có tiếng người đàn bà quét đường đánh thức tôi, “Chờ ai dzậy anh Hai?”

 

Đứa bất lương không trở về nữa rồi. Tôi tò mò mở hộp đồ  nghề của nó. Hai cái bàn chải cùn. Một hộp xi trầy trụa có chữ Kiwi vàng óng và hình con thú ăn kiến lưng gù, còn sót lại từ thế kỷ trước. Cái hộp xi hiếm hoi. Làm cách nào nó còn giữ được cái hộp xi đánh giầy từ thời tôi còn là đứa bé, chưa biết đi giầy; cái thời bố tôi vẫn quẹt cái bàn chải lên mặt lớp xi đen rồi phất lên chiếc giầy Gia Định. Bố đánh giầy nhẹ như phủi bụi mà lớp da bóng lên như gương. Tôi hay cúi mặt sát chiếc giầy của bố để nhìn khuôn mặt mình vênh vẹo như hình vẽ trong tranh hí họa.

 

Tôi lắc đầu, hất những hồi tưởng quá khứ sang một bên. Tôi ngóng nhìn hai đầu đường. Người đàn bà quẩy quang gánh. Cái lưng cong oằn. Tiếng rao lảnh lót. Ai ăn tàu hủ  hôn. Tôi nheo mắt cho bớt chói. Chút gió ve vẩy cái dịu nhẹ xế trưa. Vậy là chắc chắn đứa bất lương không trở về nữa rồi. Nó lấy đi của tôi chứng tích của những ngày tình yêu nồng cháy. Tôi thở dài, kềm giữ câu chửi thề. Mà đúng ra bây giờ tôi cũng chẳng muốn giữ làm gì nữa. Đến người cũng không còn giữ được, tiếc làm chi đôi giầy. Sau cái mất mát lớn nhất đời người kia tôi chẳng còn gì để mất hay chẳng còn gì đáng mất. Nó lấy của tôi như vậy mà lại hay, bởi tôi không thể tự mình quăng đi cái kỷ niệm ấm cúng. Tiếc là cái thằng trộm cắp cùng tên với tôi ấy không biết rằng tôi đã đưa cho nó viên thuốc nhiệm mầu giả hiệu. Viên thuốc dạy nó hãy tin tưởng vào Tình Yêu. Hãy cho Tình Yêu một cơ hội bởi Tình Yêu có thật. Viên thuốc giả mà bao nhiêu kẻ đã hí hửng nuốt vào để cầu xin phép lạ. Đứa bất lương ấy đang lấp ló ở khúc quanh con hẻm nào đó hí hửng với món đồ cướp được, rạng rỡ với tin vui rằng Tình Yêu có thật.

 

Thằng nhỏ bất lương chỉ ăn cắp của tôi đôi giầy nhưng nó lầm to. Trong lúc kể cho nó nghe về tình yêu, tôi chỉ kể cho nó nghe cái phần rạng rỡ; tôi giấu đi cái khoảng âm u. Chính cái khoảng âm u kia mới kèm theo những lời cảnh giác, giúp nó tránh được những hang hố chết người.

 

Những con người trân quý Tình Yêu may ra trên thế gian này còn sót lại vài mạng. Với tỷ lệ quá nhỏ ấy, tôi có thể  nói một cách mạnh miệng rằng trên thế gian này làm quái gì có Tình Yêu chân thực. Những gì tôi nói với thằng bé bất lương kia từ sáng đến giờ toàn là chuyện nhảm hết. Chuyện nhảm cho một sớm mai vô tích sự.

 

Đời mày tàn rồi, đứa bất lương ơi. Hãy tin tao đi, bởi trên thế gian này làm quái gì có Tình Yêu. Tất cả chỉ là sự hiểu lầm.

 

Tất cả chỉ là ngộ nhận.

 

Hoàng Chính

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1585)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1630)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2306)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6327)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6186)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13567)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30693)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81715)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20525)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 391)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.