- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

GIỐNG THỦY TINH

24 Tháng Mười 20198:54 CH(Xem: 44323)

Mùa Vàng - ảnh UL
Mùa Vàng - ảnh UL


C
ơn lạnh cuối cùng, gió mặc sức thổi. Làng Hiên yên ắng. Mưa rớt thấm bụi, kể cả con đường đầy lá vàng cũng nhơn nhớt. Đất bám vào bánh xe rồi tuồn từ rừng ra đường cái. Quết mưa, nhão, đường nhựa mà cứ như đường đất. Thún đi trước, Ton cắm cúi đi sau, đi không biết mỏi. Chốc chốc Thún nhìn lại, không biết Ton nghĩ gì. Làm con đực đã hơn ba năm, đi lang bạt khắp nơi con của Ton giờ chắc đã thành ngàn, thành vạn. Thún chợt chùng mình, trong hành trình đi phối giống, có khi nào Ton gặp những đứa con của mình? Lấy ý nghĩ của người đặt vào Ton thì cũng hơi quá đáng. Nhưng Thún đã không thể làm khác được, vì Thún là người, Thún sẽ suy nghĩ theo kiểu người. Ton là lợn, Ton hành động theo kiểu lợn. Cho nên lỡ có gặp đứa con nào của mình cũng là chuyện thường tình. Thún dừng lại vỗ lên bờm Ton, thôi kệ nó đi. Tối nay ở lại làng Hiên, mày thức, tao ngủ, miễn sao mày thực hiện hiệu quả nhiệm vụ để sáng sớm ngày mai chủ tớ còn đi. Thún buộc tạm Ton vào gốc dừa, chuẩn bị dọn đường cho Ton vào chuồng lợn mới. Thún nhìn con lợn cái mướt mát rồi nhìn Ton, chúc mừng mày, em này láng mượt thế chắc còn trinh tiết. Thún nhíu mày, chợt quên, không ghi chép xem Ton đã gom góp trinh tiết được mấy lần.

Chị chủ nhà là người điềm đạm, chừng ba lăm tuổi, da trắng, cổ xinh. Thún chưa bao giờ thấy người đàn bà nào có cái cổ đẹp đến thế. Không một thứ trang sức trên mình, chị vẫn toát lên vẽ kiêu sa của con nhà quyền quý. Chị chủ nhà lấy nước cho Thún rửa tay, vừa nói. Con đực của anh lớn thế, không biết con nái nhà em chịu được không? Thún không nói gì, chỉ nghe có chút trái ngược với suy nghĩ ban đầu của anh.

Đêm ở Hiên mưa tầm tả. Mưa quất vào mái tôn ràn rạt. Âm thanh đó không đủ khuất đi tiếng kêu của Ton và con nái. Cơn mưa không dữ dội bằng cuộc giao hoan của đôi tình nhân. Tiếng Ton thi thoảng lại ừn ựt, ừn ựt. Tiếng nái ré lên chói tai. Không tài nào ngủ được, Thún ngồi dậy pha trà. Từ chiếc bóng đèn bốn oát, gương mặt của Thún thấp thoáng vẽ liêu trai. Phòng bên, chị nhìn qua cánh cửa thông gió. Hơi thở hắt ra vô tình lọt vào tai Thún. Chồng chị đâu? Thún hỏi, khi vừa nhấp một ngụm trà. Người đàn bà lặng im hồi lâu, Thún nói tiếp. Ở đây lạnh thật, tôi đi nhiều nơi nhưng chưa có nơi nào lạnh như vậy. Khó ngủ, người cứ cồn cào. Thế anh đừng uống trà nữa... chị bảo. Thún liếc ngang, căn phòng nhỏ nhưng đẹp và ấm áp, chiếc áo đàn ông màu xanh mắc lên tường. Khi nhớ đến con nái, Thún nhếch mép cười, con nái lần đầu đúng không? Sao anh biết? Nó kêu ầm lên ấy. Anh giỏi thật. Nghề của tôi và Ton mà. Ton là ai? Là bạn tình của con nái chị, đang đào bới để tìm những đứa con trong bụng kia. Chị cười, Thún vẫn không xê dịch. Vì điều này, Thún quá quen.

- Chồng tôi ở tận biên giới, tháng về lần, có khi không. Chị chủ nhà nói.

- Tôi biết rồi.

- Sao anh biết?

- Nhìn chiếc áo màu xanh.

- Để đấy, cho vui nhà.

Chị lần tìm chiếc nịt vú trong chăn rồi đeo vào, lúc sang chỗ Thún nhìn chị đầy đặn. Thún chợt nhớ lại hình ảnh của Ton. Khi Thún đặt tấm ván, Ton thoăn thoắt bốn chiếc chân ngắn củn để bước vội vào chuồng và hành động ngay tức khắc. Thún cười, thấy Ton hạnh phúc. Giống lợn đến với nhau cực kì đơn giản. Thún ngồi nhìn chị hồi lâu, mọi thứ trong cơ thể dường như sắp vỡ ra nhưng phải dồn nén. Thún chép miệng và đi ra chỗ Ton, đi tìm tấm ván, chẳng lẽ đôi chân dài của Thún không bằng bốn cái chân ngắn của Ton. Thún bắt đầu tỏ ra là người có âm mưu, khi cứ đứng mãi ở chuồng lợn mặc cho lũ muỗi thả sức châm đốt. Chị ngồi trong nhà hồi lâu, cũng thấy lòng ngờ vực. Chẳng biết chuyện gì đã xảy ra. Chị nghe tiếng người lẫn vào tiếng lợn. Âm thanh khiến chị không thể không đến chỗ đó. Đúng là nghề truyền con giống, chị thấy những cử chỉ, động tác hết sức điên rồ nhưng nhìn rất thích thú. Thún đang cổ vũ cho Ton, rất phấn khích. Chị đứng nhìn trân trân, hai chân run rẩy nhưng đồng tử thì dán vào những nơi cần thiết trên người anh. Thún đã nhận ra chị đang đến gần mình, đang hừng hực mà không hề kìm nén. Không một tấm chiếu, trên nền đất trộn lẫn phân của Ton, Thún đè chị xuống, thân chị bẹp dí, mỏng tang, gãy gập. Tiếng Thún và tiếng của Ton nhập nhoạng vào nhau. Sau tiếng hực lên của Thún, chị thét lớn rồi duỗi thẳng hai tay, mắt miên man nhìn lên chiếc bóng đèn đã lâu bị bồ hóng và mạng nhện đan chằng chịt. Nó đẹp, bí ẩn đến vô chừng.

Chị mời Thún ở lại thêm một đêm, chủ nhà lo con nái chưa chắc chắn thụ thai nên giữ Ton lại chuồng. Việc đó đồng nghĩa với chủ của Ton cũng ở lại, và chị sẽ được những thứ mình cần. Chị hứa sẽ trả thêm tiền. Thún gật đầu đồng ý. Lần đầu trong đời Thún có ý nghĩ để cho Ton dừng lại ở một ngôi làng nhất định và Thún cũng không muốn đi lang bạt quá nhiều nơi. Tuyệt nhiên, Thún không nghĩ đến ngôi nhà của mình, mặc dù ở đó đời sống khá hơn. Nhìn chị, Thún chẳng thiết ăn, cứ muốn chui vào chăn để hưởng thú vui trong đó. Nhưng chị không đồng tình, chờ đêm xuống, chị lại ra chuồng lợn, Thún hiểu điều này có ý nghĩa gì. Đấy là nơi đầu tiên hai người tan vào nhau, tất nhiên, Thún thường nhập cuộc thô bạo và kết thúc như một bản tình ca. Có lẽ điều này làm nhiều người đàn bà nhớ. Và trên dặm đường Thún đi qua, họ thường lấy cớ từ con nái của mình, từ con đực của Thún có con giống khỏe chỉ cần một vài lần là lợn nái đã thụ thai, nên, không ít lần mong Thún dắt Ton trở lại.

Bữa sáng, chị chủ nhà nấu cho anh tô cháo ngon kèm mấy cái trứng lộn mua tận trại ấp. Nhìn những thứ này Thún hiểu được chủ nhà muốn gì, việc này Thún thường làm với Ton. Để khi đến chuồng mới, làm nhiệm vụ cũ với một con nái mới Ton còn có sức, có chất để giữ chữ tín cho chủ. Chị đẩy tô cháo về phía Thún, rụt rè.

- Anh học ở đâu ra mà thích đến vậy?

- Từ Ton.

- Cái gì, Ton phải học từ anh chứ?

- Chuyện đó động vật là bậc thầy. Ton lúc nào cũng mãnh liệt. Còn tôi lúc có, lúc không.

- Đôi lúc cũng chán. Anh đi nhiều nơi, có nhiều đàn bà...

- Không phải lúc nào cũng thế. Vì văn minh người, nên có lúc phải giữ.

- Anh cũng có văn minh sao?

- Ton còn có văn minh đấy.

Chị cười, không ngại ngoắt tay và kề sát đầu vào vai anh. Sáng đến vội vàng. Mưa ngưng nghỉ nhưng chủ nhà vẫn thèm cảm giác hôm qua. Được bê bết trên bùn đất, được cảm nhận hết mùi phân lợn phảng phất. Thún bắc tấm ván, Ton lặc lè bước ra. Con lợn nái trong chuồng cắm cúi ăn không hề để ý. Chị nhìn Thún lưng lẻo, định nói gì đó rồi lặng im, chị đưa cho Thún thếp tiền. Thún cầm rồi nói.

- Tiền mới quá.

- Lương biên giới đấy.

- Của chồng chị ư?

- Vâng.

- Tôi chỉ lấy một phần ba thôi.

- Anh cầm đi, xem như tôi cho thêm và bồi thường cho Ton.

- Bồi thường ư?

- Con nái đó không thụ thai được nên nó mới mướt như thế.

- Tôi cứ tưởng nó lần đầu.

- Tôi xin số điện thoại anh.

- Tôi là Thún.

- Tôi biết tên anh sau Ton, để tôi lưu số, có gì hẳn gọi.

- Con nái... chị làm thế để làm gì.

- Ở một mình buồn, nuôi con lợn cho vui. Mà đàn bà thì nên nuôi lợn nái, nhất là ở một mình. Để nó ở không cũng tội, lâu lâu tôi vẫn gọi con đực cho nó. Nhưng Ton nhà anh là được nhất, tôi chắc đấy. Chủ nào thì lợn nấy.

Câu nói này của chị khiến Thún chậc lưỡi. Thún chẳng cười, anh dắt Ton đi. Ra đến thị trấn thì Thún nhận được tin nhắn của chị “tôi cũng thế, chồng tôi lạnh nhạt vì tôi không sinh được con. Anh ta vừa về, anh ta sạch sẽ quá”.

Sau lần ấy Thún chẳng nhận được tin nhắn nào của chị. Thỉnh thoảng muốn dắt Ton về làng Hiên, thỉnh thoảng đi đến những nơi thơm tho hay thối khẳm thì Thún vẫn nhớ mùi phân lợn cùng mái tóc bê bết đất của chị chủ nhà. Thêm chuyến này nữa là Thún nghỉ, cuối năm rồi, Ton sẽ được đưa vào chuồng và bồi bổ thức ăn ngon để bù đắp những ngày đi lang thang theo Thún và làm nhiệm vụ của một con đực. Đi mãi thành quen, đôi lúc Thún hiểu Ton hơn hiểu người. Và gần gũi nhất là Thún nhận biết cảm xúc của Ton hơn biểu đạt của vợ mình. Mấy tháng liền trôi nổi, Thún đem về cho vợ thếp tiền. Nhận tiền từ Thún, chị chẳng hề quan sát xem Thún béo gầy ra sao đã ngồi lên giường đếm tiền. Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy.... tiền Thún đem về nhiều hơn thường lệ. Miệng chị ta tươi cười, lần này khá hơn nhiều anh Thún nhỉ. Thún cười, người ta cho thêm. Vợ Thún nháy mắt rồi đi cất tiền, Thún nằm thườn người trên chiếc ghế. Vợ Thún trở ra hớn hở.

- Giờ thì có tiền, có thêm tin vui...

- Gì thế?

- Có thai rồi Thún à.

- Mấy tháng.

- Anh hỏi thế là ý gì?

Thún nhún vai rồi đi ra chỗ Ton.

Chợ tết, Thún dắt Ton đi theo. Vợ Thún khóa cửa rồi vội vàng theo sau xem chồng giở trò gì. Chẳng phải đi chơi, Thún dắt Ton ra chợ, ra quảng trường, ra công viên và được nhiều người thích thú xúm lại nhìn. Ai muốn chụp ảnh với Ton phải mất mười ngàn đồng. Khách chụp ảnh với Ton rất đông, Ton đẹp mã, lại hiền và hay có những cử chỉ thân thiện nên việc chụp ảnh đưa lên mạng khiến mọi người rất thích thú. Vợ Thún khen chồng giỏi, thông minh và chịu khó kiếm tiền. Cứ lâu lâu chị ta lại đưa tay sửa bụng mặc dù cái thai chưa đủ lớn để phải làm như thế. Thún thở dài, hôm trước anh gặp bác sĩ Trung. Vị bác sĩ quen thuộc lắc đầu “vẫn thế, giống thủy tinh”. Thún chẳng buồn vì Thún thừa biết, lúc nhỏ mang nhiều bệnh, có hàng tá liều kháng sinh được chuyền vào cơ thể mình. Mặc dù khỏe nhưng Thún như con dã tràng se cát. Rất nhiều lần muốn vợ xin con nhưng việc vợ mang thai, Thún có chút thoáng buồn. Đàn ông vốn thế, đi khắp nơi nhưng không muốn người đàn bà mình ra khỏi nhà. Lang thang suốt buổi sáng, Thún dắt Ton trở về. Lúc nhốt Ton vào chuồng, Thún không muốn vào nhà nữa. Hình ảnh về cái chuồng lợn ở làng Hiên khiến Thún ngợp người, anh chần chừ đứng lại. Thún nhận được tin nhắn của chị chủ nhà “Kim Liên có chửa rồi...”. Trong nhà, vợ Thún ngồi đếm tiền. Nhìn ra, thấy Thún cười, chị ta nghĩ rằng nụ cười đó giành cho mình nên đáp lại, Thún không nhìn thấy điều đó, anh bỏ chiếc điện thoại vào túi quần. Con lợn nái của chị chủ nhà đã có chửa. Sau bao năm cứ nghĩ rằng nó không đẻ được, giờ như thế là vui rồi, còn có cả hi vọng cho người khác. Thún trở lại phòng khám của bác sĩ Trung, không phải để xét nghiệm y khoa mà chỉ để hỏi một câu. Và bác sĩ Trung mỉm cười “cũng có lúc nảy nở, nhưng hiếm. Thời điểm xét nghiệm là con giống thủy tinh...”

Tết, Thún trở lại làng Hiên. Chưa vào nhà chị, Thún đã ra chuồng lợn. Cái chuồng trống không, Thún vội vàng vào trong, căn nhà vắng vẻ, chị chủ nhà chắc đang chơi nhà hàng xóm. Nghĩ thế nên Thún ngồi đợi hồi lâu, cơn mưa kéo dài gần cả giờ đồng hồ, gọi điện chị cũng không bắt máy, lúc sau Thún thấy chiếc điện thoại trên bàn, nó được để chế độ im lặng.

Tận mưa thì chị về. Từ xa, Thún thấy chị sửa bụng như hành động của vợ Thún. Trông thấy Thún, chị cười.

- Biết thể nào anh cũng đến, cơn mưa dài quá.

- Kim Liên đâu?

- Thịt rồi.

- Kim Liên có chửa cơ mà.

- Thịt mới biết!

Chị vẫn giữ khuôn mặt tươi vui, Thún thấy lòng mình hơi trống rỗng. Thún sẽ về, có lẽ thế. Chần chừ ở lại làng Hiên cũng chẳng để làm gì. Lần đầu Thún quan tâm con lợn có chửa đến mức độ như thế, rất hào hứng, hi vọng. Dọc đường đi, Thún cứ nghĩ rằng. Sau khi ở làng Hiên về Thún sẽ vỗ lên bờm của Ton mà rằng, Ton, mi giỏi lắm, đến Kim Liên còn có chửa được nữa là. Thún nghĩ thế, nhưng giờ về, Thún sẽ chẳng có hành động nào hứng khỏi với Ton. Chị chủ nhà nhìn Thún vẻ khác đi nhưng cố níu câu chuyện.

- Sao anh không đưa Ton đi cùng?

- Cũng may tôi không đưa Ton đi cùng.

- Sao anh đến đây?

Câu hỏi này của chị chủ nhà khiến Thún im lặng. Lúc trở về, Thún lại nhận được tin nhắn của chị “tôi đã có thai...”

Hành trình trở về nhà của Thún chơ bao giờ dở tệ đến thế. Nó ngập bởi những suy nghĩ. Vợ Thún có thai, chị chủ nhà có thai. Bào thai nào là con của Thún? Có một hoặc cả hai, hoặc không có cái nào. Những đứa con của Ton thì đã không còn, người ta đã đem thịt Kim Liên. Nếu biết nghĩ, Ton sẽ xử sự như thế nào với cảm xúc của mình. Không về nhà vội, Thún chọn quán cà phê, bản nhạc buổi chiều nghe quá chừng xao xác. Tết nhưng mưa nắng vội vàng, Thún nhận được thêm tin nhắn của chị chủ nhà “tôi nghĩ cái thai là của anh, chồng tôi chưa tới mười ba phần trăm...”. Thún trở về nhà, ra đến chuồng lợn thì không thấy Ton. Chợt nhớ, thoáng trên đường về có chiếc xe gắn máy chở chiếc lồng, trong đó có một con heo...

 

Hoảng Hải Lâm

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 484)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 372)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1155)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1184)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1039)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 919)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3131)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2007)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2976)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2498)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9832)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16680)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15670)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16109)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1184)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3131)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2975)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2900)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1039)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5141)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7101)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6406)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 484)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 372)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1154)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2496)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2340)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2164)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2346)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2361)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 919)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13421)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29507)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35651)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10616)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12592)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2007)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2975)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3170)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3294)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4015)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7690)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7031)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9697)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.