- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Truyện Ngắn Thái Thanh

14 Tháng Tám 20199:09 CH(Xem: 48926)

THAI THANH
Nhà văn Thái Thanh

LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Thái Thanh tên thật là Tạ Thị Thái Thanh. Quê ở Qui Nhơn, Bình Định. Năm 1979 là giáo viên dạy ở Hoài Ân tỉnh Bình Định, năm 1986 buôn bán nhỏ tại chợ Lớn Qui Nhơn. Hiện đang sống tại Sài Gòn cùng gia đình. Văn của Thái Thanh mộc mạc chân tình. Qua những câu chuyện của Thái Thanh bạn có thể  bắt gặp những mảnh đời vui buồn chung quanh, đôi lúc chính mình. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quý độc giả và văn hữu hai truyện ngắn “Gìa Thì Giống Nhau Mà” và “ Một Kỷ Niệm Xưa”  của người viết Thái Thanh.

TẠP CHÍ HỢP LƯU

 

GIÀ THÌ GIỐNG NHAU MÀ...

( Vu lan 2019 viết khi nhớ mẹ thương yêu)

Mẹ tôi ít muốn làm phiền đến người khác... Sau khi ba mất. Bảy anh chị em nhà tôi người nào cũng thương mẹ, có hiếu với mẹ nên muốn phụng dưỡng mẹ lúc tuổi già. Nhưng mẹ lại cứ thích và muốn ở với tôi. Đứa con gái thiếu hụt nhất trong nhà.

Thời đó nhà tôi chưa có ĐT bàn. Anh ba tôi được công ty cho đi du lịch ở đâu anh đều dẫn mẹ đi theo. Hôm đó anh được đi biển Nha trang mà mẹ thì đang ở với tôi tại Quy nhơn. Tôi đưa mẹ lên Tàu Chợ ở ga Quy nhơn, tôi tìm chỗ cho mẹ ngồi rồi tôi đứng đó chờ tàu chạy. Nhưng mẹ cứ hối: " Con dìa đi buôn bán kiếm ít đồng đi, má tự đi được". Tôi không an tâm nên đứng bên dưới chờ tàu chuyển bánh, rồi vẫy tay với mẹ cho đến khi tàu chạy xa khuất... Mẹ đến nơi an toàn vì có anh Ba ra đón.

Hồi ấy mỗi lần đi xe vào SG rất cực, xe nhỏ ngồi chen lấn chật hẹp. Có một lần mẹ được chị tôi mua cho một vé máy bay để vào SG chơi. Chỉ một vé cho mẹ thôi vì rất đắt mà tôi thì mắc buôn bán, đi đâu lại còn có hai đứa con đi kèm nên không thể mua thêm. Tôi đạp xe đạp chở mẹ lên chỗ xe đưa đón khách của hãng Hàng không ở Quy nhơn. Xe chạy, tôi mới đi về.

Mẹ đi một mình lên sân bay Phù Cát, tự làm thủ tục để lên máy bay vào SG. Lúc ấy là 9g sáng.

Đến 7g tối, thằng Hải em trai tôi gọi điện về, tôi chạy qua nhà hàng xóm nghe máy, nó báo là đón không thấy mẹ đâu. Hoảng hồn tôi chạy ra Bưu điện gọi lên sân bay Phù Cát, thì ra máy bay hoãn chuyến bay trễ hơn nên đến 8g tối mới bay... Mẹ tôi không có tính ăn vặt ngoài đường ngoài xá. Từ nhỏ hai chị em tôi thuộc nằm lòng câu ví von của mẹ: "...Ra đường trăm vật trăm ngon, từ từ cái miệng cho chồng con nó nhờ..." nên chị em tôi cũng không có tính ăn hàng ngoài đường. Hôm ấy, mẹ cứ ngồi yên đó chờ cho tới khi máy bay bay đến tối mới vào đến SG. Hồi đó nghĩ đến mẹ phải nhịn đói suốt gần cả ngày, tôi vừa thương vừa giận mẹ. Sao mẹ lại kỳ cục vậy không hiểu nỗi.

Bây giờ tôi bằng tuổi mẹ hồi đó. Con gái tôi mỗi lần thấy tôi hà tiện không dám tiêu xài nó đều bảo. "Mẹ y Quại hồi đó!" Ngẫm lại. Nếu tôi gặp tình huống lỡ đường bất tử như vậy. Chắc chắn một điều, tôi cũng sẽ chẳng dám đi đâu và sẽ nhịn đói cho đến lúc vào đến nơi. Tôi giống mẹ keo kiệt khiếp lắm... nhưng mẹ còn lanh hơn tôi, mẹ đi đây đi đó một mình được. Còn tôi không dám đi nên đến bây giờ tôi cứ quanh quẩn ở xó nhà chẳng biết nơi đâu.

Mẹ tôi có tính tiết kiệm, ăn uống lúc nào cũng nhường món ngon cho chồng cho con ăn. Khi ba tôi mất, quần áo mới mẹ cứ cất tủ cho đến khi mất còn mới tinh, có cái mẹ chưa mặc. Tôi bây giờ y chang như mẹ, lâu rồi tôi cứ nghĩ rằng mình không có chồng có con nên đâu cần chưng diện làm gì. Con gái tôi thương mẹ nên nó sắm cho mẹ toàn bộ quần áo, son phấn... Tôi đơn giản không phấn son chưng diện... Nên đến hôm tôi dọn nhà tôi lôi ra đồ mới còn quá nhiều, áo quần đẹp, cả đồ lót phụ nữ còn nguyên lố lố mới kít. Tôi không thể mang hết vào SG nên tôi cho từ thiện hết toàn bộ. Tôi liên tưởng đến mẹ. Nếu tôi chết, con tôi nó sẽ chôn hết đống đồ này theo tôi như mẹ.

Mẹ tôi là một phụ nữ xinh đẹp. Chị tôi giống mẹ nhưng vẫn không đẹp bằng mẹ. Còn tôi thì không giống mẹ nên xấu xí nhất nhà. Nhưng mẹ tôi không hề biết làm đẹp ( cái này thì tôi y chang mẹ). Mẹ không bao giờ son phấn, uốn tóc hay làm gì cho khác một chút. Nhưng nhờ mẹ rất đẹp, rất sang nên chỉ cần mẹ mặc một bộ đồ mới là mẹ đẹp tuyệt rồi. Phải chi tôi đẹp như mẹ thì đỡ biết mấy, vì tôi đã xấu lại rất vụng về không hề biết làm đẹp chút nào dù là việc nhỏ như nhổ chân mày, tôi cũng để nguyên y chưa bao giờ biết nhổ. Ba tôi thương mẹ nên mẹ đơn giản như thế ba vẫn thương. Còn tôi thì bị chồng chê từ khi còn son trẻ. Thế nên số phận thì chẳng ai giống ai.

Con gái tôi nó cứ phải " tân trang" cho mẹ cho gột bớt lần cái chất " cù lần" . Nó bảo: " Mẹ y chang như Quại, ăn không dám ăn, mặc không dám mặc... Đâu có đói khổ nữa đâu mà mẹ cứ phải như vậy". Tôi sống đơn giản mà lại thích sống như thế mỗi ngày. Mà giờ tôi cũng đã qua rồi thì son sắc nên bây giờ tôi sẽ sống theo ý mình mà thôi.

Nghĩ đến mẹ rồi nhìn lại mình. Tôi thấy:

Ừ , mà giống thiệt vì tôi nay cũng đã già già rồi.

Già thì phải giống già phải không ta...

Thái Thanh

 

 

 

MỘT KỶ NIỆM XƯA

 

 

Khi đến tuổi chiều, người ta thường thích đơn lẻ một mình, thích lặng ngắm trầm tư về năm tháng cũ của ngày xưa. Năm nay tôi đã gần tròn 60, cái tuổi về chiều. Có những điều rất gần, rất quen thuộc hằng ngày mà sao tôi lại lẫn quên nhưng có những điều rất xa trong quá khứ mà sao cứ còn hoài còn mãi ở trong tôi.

Hồi ấy tôi chỉ mới học lớp đệ tứ, tuổi đời vừa chẳn trăng rằm. Hồi ấy, tôi là cô nữ sinh Nữ trung học Ngô chi Lan mà người người thường gọi một cách âu yếm là nữ sinh " Ngu chi Lạ".

Hồi ấy đi học, dù trường xa cách mấy chúng tôi cũng đi bộ đến trường chứ không đi xe máy như bọn trẻ bây giờ. Nữ sinh Ngô chi Lan đi học, lúc nào cũng mặc áo dài trắng thướt tha, sạch sẽ tinh khôi như những bông hoa trắng, suốt cả tuần.

Tôi 15 tuổi hồi ấy thật sự đúng là ngu chi lạ nào biết tình yêu là gì !? Nhưng cũng đã đến tuổi tò mò muốn biết xem hương vị nó thế nào. Trái cấm bao giờ cũng hấp dẫn cơ mà...

Hồi ấy nhà chàng ở trên đường tôi đi học mỗi ngày. Cổng nhà chàng có giàn hoa giấy trắng trong rất đẹp, có cái bảng hiệu to đùng màu đỏ chót trên cao với cái tên ngộ nghĩnh là "Đồng ý ".

Tôi với Linh Lan những buổi tan trường về áo dài trắng tung tăng như cánh bướm. Linh Lan học cùng lớp với tôi nhưng lớn hơn tôi hai tuổi, tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu. Thế nhưng nhỏ lại xinh đẹp, điệu đàng trông rất đáng yêu. Do vậy nên tuy mới học lớp chín nhưng nàng đã " lắm người theo" còn tôi thì hầu như chả ai để ý. Tuy vậy, nhưng tôi không lấy làm buồn mà lại rất thân với nhỏ, lòng tôi chưa bao giờ nhuốm lên màu ganh tị bạn.

Hồi ấy khi ngang qua nhà chàng, cả hai đứa chúng tôi đều thích cái giàn hoa giấy trắng uốn lượn và cái bảng hiệu "Đồng ý" bên dưới. Nhỏ Linh Lan e lệ thường nói nho nhỏ "Đồng ý không T". Tôi đúng chất là con gái Bình định dũng cảm dõng dạc hét to "Đồng ý" rồi hai đứa phá ra cười nắc nẻ. Khi ấy nhìn qua song cổng, chúng tôi thấy chàng mặc quần xà lỏn , áo mayo, đang ăn xoài sống chấm mắm ruốc ngon ơ. Chàng ngẩn lên nhìn, cặp kiếng cận trễ xuống và ngớ ra trước đôi mắt tinh quái của tôi với tiếng cười hai đứa.

Và như thế hôm nào cũng thế, chúng tôi đồng thanh đọc bảng hiệu trêu chàng. Nhưng từ hôm ấy chàng thì không như thế nữa, chàng thay đổi phong cách, không ngồi ăn cái món xoài khoái khẩu nữa. Chàng mặc áo sơ mi quần dài, ngồi ghế mây trước cổng chờ đợi. Dần dần sau này tôi mới biết chàng đang học lớp đệ nhất trường Cường để, mà học sinh trường Cường để thì rất được bọn nữ sinh chúng tôi ngưỡng mộ. Cũng như bao chàng trai khác thời ấy chàng đã say nắng cô bạn gái xinh đẹp của tôi tự lúc và Linh Lan mặc dù nhỏ luôn có ong bướm lượn quanh mình nhưng nhỏ cũng xao xuyến bởi chàng...

Cho đến một buổi chiều, trời thu gió mát, chàng gởi cho L Lan một lá thư tình để làm quen. L Lan mắc cỡ nên chẳng dám cầm thư, tôi thấy chàng luống cuống tội quá nên tôi cầm hộ lá thư giúp chàng. Tôi không nhớ là thư chàng viết gì, chỉ nhớ là chàng đã viết là một bài thơ. Khổ nỗi người trả lời thư cho chàng lại chính là tôi, cả nét chữ cũng là của tôi, chỉ ký tên bên dưới là Linh Lan. Vì tội tôi lớn lắm đã to miệng hét hai chữ "Đồng ý" làm chàng chú ý. Tội tôi nhanh nhẩu cầm hộ thư chàng và rổn rảng nói chuyện trên trời dưới đất với chàng. Tội tôi chữ nghĩa rõ ràng ,văn vẻ nhẹ nhàng , đã từng viết thư tình hộ cho nhỏ Sang ở lớp. Chao ơi! tình yêu của nó mà nó buộc tôi phải viết đây nè. Tôi cắn bút rặn hoài mà không ra chữ. Cuối cùng tôi đành "ăn cắp" thơ của Huy Cận bốn câu mà tôi rất thích để trả lời:

Em ép trong sách vở 
Một chút gì hắt hiu 
Nhiều khi hồn bỡ ngỡ 
Hình như là Tình yêu...

Tôi ghi tên Linh Lan ở dưới, Linh Lan không thích thơ, nên cứ tưởng của tôi làm nhưng chàng là dân thơ nên chàng biết đây là thơ " cop". Khi người ta yêu người ta bỏ qua tất cả, rồi thư đi thư lại nhiều lần... Trả lời thư những lần sau đều chính tôi là tác giả. Cho đến những lần cả hai hẹn hò dưới bãi cát vàng ngoài biển, dưới gốc cây dừa cũng có mặt tôi. Hồi đó sao tôi ngu lắm, cứ ngồi chung chỗ hẹn hai người, cả hai người thì nói chuyện trời mây non nước, còn tôi thì ngồi xơi hết lon đậu phộng luộc một cách ngon lành. Tình yêu cứ thế nẩy mầm, lớn lên xanh tốt.

Tháng 3 năm 1975 miền trung chiến tranh nổi lên khốc liệt. Ở Quy nhơn người người thấp thỏm, xôn xao trước quyết định sẽ đi hay ở. Bảng đen, phấn trắng, thầy cô bạn hữu ở trường cũng rời rã, thưa thớt âu lo. Nhà tôi có xe tải lớn, những ngày cuối tháng 3, chính tay ba tôi cầm lái chở những chuyến xe từ Quy nhơn vào Sài gòn di tản. Nhà Linh Lan cũng đã dọn đi, nghe bạn bảo rằng đi sớm để tránh bom đạn chiến tranh. Những ngày cuối chỉ còn lại tôi và Dĩ Kha ( tên của chàng), chúng tôi ngồi bó gối ở bãi cát vàng nhìn ra biển xa khơi mà nghe tiếng bom đạn, tiếng súng nổ thật gần. Tôi đã bớt xí xọn tía lia cái miệng mà lắng nghe Dĩ Khang tâm sự về mình. Ba anh là một sỹ quan quân đội VNCH đã mất tích từ năm 1968 đã có giấy báo tử nhưng anh biết rõ rằng ba anh còn sống. Có một đêm khuya, mẹ và anh đã nghe trộm đài Hà nội trong Radio, đúng là tiếng nói và tên của ba anh, nhắn cả nhà là ba vẫn còn sống và được đối xử rất tốt ở miền Bắc. Tôi nhìn gương mặt Dĩ Khang, đôi mắt u buồn nhìn rất đỗi xa xăm mà thương cảm.


Những ngày còn lại của tháng ba, tôi cùng anh chị em trong nhà di tản trước vào Ngã ba Thành tị nạn. Ba tôi vì thương cho nhà bác, nhà cô, nhà cậu của tôi nên đã quay lại chuyến chót để đưa họ đi. Chiến tranh khốc liệt mỗi lúc một cận kề. Chuyến xe cuối cùng chở ba tôi, mẹ tôi, chị tôi và bà con nội ngoại đã đi giữa lằn tên mũi đạn kinh hoàng. Cái sống và cái chết chỉ còn trong gang tất. Tôi đã cảm nhận được nỗi hãi sợ chiến tranh, tôi thấp thỏm lo âu và cầu nguyện từng phút. Có lẽ Bồ tát đã nghe được tiếng cầu nguyện của tôi nên đã đưa được chuyến xe của ba đến Ngã ba Thành được bình an.


Ngày 31 tháng 3 năm 1975 thị xã Quy nhơn hoàn toàn thất thủ, đoàn quân Bắc Việt lần lượt tiến vào Nam.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 Sài gòn lại bị thất thủ, toàn lãnh thổ Miền nam Việt nam rơi vào tay Bắc quân. Những ngày tháng di tản , cả nhà chúng tôi sống chật vật thiếu thốn , nên ba tôi quyết định chở cả dòng họ quay về. Nhờ có xe tải của nhà, nên chúng tôi về đến Quy nhơn trước hết mọi người. Trên đường về tiếng súng đã lặng yên nhưng hai bên đường xác người nằm la liệt. Những người lính thất thủ chạy ra đón xe ba tôi xin nước uống , xin thức ăn .Những người lính Cộng hòa còn mặc áo chiến trận nằm chết la liệt bên đường không một nén nhang, không một giọt nước mắt của người thân bên cạnh..Xe về đến Quy nhơn vào buổi tối , thành phố cúp điện tối đen không một bóng người .Một thành phố đầy âm khí , chết chóc bao trùm .
Đêm ấy rất dài tôi không ngủ được, trời vừa hửng sáng tôi đã dậy và đi ra khỏi nhà. Tôi lang thang một mình ra biển, đến trường. Cổng trường Nữ mở toang hoang vắng, xác người nằm chết trong sân dưới hàng Dương liễu đầy la liệt. Phía sát cổng, những nấm mộ chôn vội vàng trong sân hoang lạnh cũng không một nén nhang. Tôi đứng ngẩn ngơ trước cổng chỉ một mình, không dám vào sâu trong trường. Tôi lại đi dần ra biển, chiếc xe tăng giao tranh trong cuộc chiến nằm sát trong bờ sóng vỗ. Xác người lính nằm chết cảnh thê lương. Biển hôm ấy sóng vỗ rất to, dập dềnh vào bờ cát trắng, xác những người lính chết oan thê thảm. Trời tháng tư không nắng mà u sầm, biển tháng tư mà không người đi tắm, phố tháng tư bên đường cây cối xác xơ, nhành Phượng vĩ chưa nở hoa đỏ. Tôi lặng buồn nước mắt nuốt vào tim.

Mấy tháng sau biến động, người người về lại chốn quê nhà. Lịch sử đất nước đã sang trang, tôi tiếp tục đến trường để học. Trường của tôi bây giờ không còn là trường Nữ như xưa nữa, mà trộn lẫn tất cả trường khác có cả nam sinh. Các bạn xưa đã tứ tán không còn chung lớp cũ, thầy cô giáo cũng đã thay người mới, tất cả đã đổi thay, có kẻ được người mất khóc cười bên nhau. Linh Lan cũng theo gia đình chuyển hẵn vào Nam, ba của Lan là một Việt cộng nằm vùng có công rất lớn với chế độ đương thời. Nhà Dĩ Khang thì ngược lại, thuộc diện ngôi nhà của người "có tội với nhân dân" nên không được ở đó nữa mà ở một căn nhà khác nhỏ hơn, chờ ngày đi kinh tế mới. Giàn hoa giấy và bảng hiệu Đồng ý đã bị phá bỏ, nhà được trưng dụng ngăn che thành nhà tập thể cho cán bộ ở. Ba anh cũng mất tăm không có ngày về. Dĩ Khang cùng gia đình đi vượt biển nhưng không thành, bị bắt. Cả ba chúng tôi mất liên lạc nhau từ đó.

Tôi học tiếp 3 năm Cấp ba, học hành sa sút. Tôi thi rớt đại học, giấy báo "nghĩa vụ lao động" thay cho giấy báo đậu đại học đã làm cho ba tôi rất lo lắng. Cuối cùng nghe lời ba, tôi nộp hồ sơ vào Sư phạm vì lúc này ngành giáo rất thiếu. Tôi trở thành cô giáo ở miền núi xa xăm với đám học trò nhỏ của mình. Rồi tôi bỏ dạy lấy chồng, sinh con , rồi... cô độc một mình với những ngày vất vả cơm ăn áo mặc để nuôi con... Tôi không có thời gian thơ thẩn như xưa, tôi quên hết những ngày xưa xa xôi ấy...

Năm năm sau ngày tôi lấy chồng, vào tháng 9 năm 1985 trong một đêm khuya khoắt, đứa con gái út của tôi bị sốt rất nặng. Hồi đó thuốc thang rất hiếm, trước đó tôi đã bồng cháu đi khám chui ở nhà bác sỹ tư. Vì khám chui nên bữa được, bữa mất, đến phút cuối bác sỹ lắc đầu và bảo cho cháu nhập viện. Ba cháu không có nhà, tôi gởi đứa con lớn cho bà ngoại rồi bồng đứa bé đi trong đêm đến bệnh viện. Con gái tôi chỉ mới 9 tháng tuổi , cháu nằm phòng Cấp cứu .Cái đầu tròn trắng lơ thơ mấy sợi tóc, bác sỹ đã tiêm thuốc thẳng vào các đường gân xanh trên đó .Hồi ấy tôi gầy nhom, má hóp, hai mắt trỏm lơ, không thiết gì ăn uống dán mắt vào cửa kính của bệnh viện thắt thỏm từng giây. 

Qua đêm sau, một người đàn ông bế xốc đứa con của mình nhập viện. Đứa bé sốt cao cũng nằm phòng cấp cứu như con tôi. Tôi sững người khi nhận ra người đàn ông ấy chính là Dĩ Khang. Cả hai chúng tôi cùng nhận ra nhau nhưng trong giờ phút căng thẳng của phòng cấp cứu, chúng tôi không nói được nhiều lời với nhau. Con gái tôi lúc đầu phát bệnh là Viêm phế quản nặng, nhưng khi nhập viện thì tôi chẳng biết cháu bị bệnh gì. Con trai anh lớn hơn con tôi 1 tuổi, cũng bị bệnh y như vậy.


May mắn cho tôi đêm ấy tôi gặp bs Trung , BS Trung là bác sỹ miền Bắc đi du học ở nước ngoài về, tôi quen được vì bs là chồng của bạn tôi. Tôi đã nhờ Bác Trung giúp cho tôi. Bác sỹ vào phòng cấp cứu và khám cho các cháu khoa Nhi. Biết rõ bệnh của con gái tôi, bs Trung đã ra ngoài nói nhỏ với tôi " Bệnh của cháu phải dùng thuốc ấy ( tôi không nhớ ) thì chữa kịp thời. Nhân đó anh cũng hỏi bs Trung khám cho con anh, bác sỹ bảo cháu cũng như thế, rồi bs ghi toa thuốc cho tôi đi mua. Nhưng thuốc này mua rất khó, vì năm đó việc buôn bán thuốc không được cho phép toàn là bán chui .Thấy vậy bác Trung mang cho tôi 2 chai để chích cho cháu, nhà bác chỉ còn mỗi 2 chai. Tôi nhìn đôi mắt thắt thỏm của Dĩ Khang lúc đó đầy sự khổ đau van nài , câm nín.

-Bác sỹ ơi chuyền 1chai có đủ không ạ?

- Có thể mà cũng không thể vì nếu sức đề kháng tốt cháu sẽ qua .

Không lúc nào tôi thương đứa con gái bé bỏng của tôi bằng lúc này, tôi không thể đánh cược mạng sống của con tôi , tôi phải dành trọn cho con tôi. Lòng tôi dằng xé, tâm tôi bần thần đau khổ khi nhìn Dĩ Khang bật khóc. Một người cha, một người đàn ông khóc, thật đau lòng.

Nhưng may quá con gái tôi đã hồi tỉnh khi chỉ chùyên mỗi một chai thuốc. Đắn đo và suy nghĩ, cuối cùng tôi đưa chai còn lại cho anh. Tôi chỉ còn biết cầu nguyện Bồ tát Quan Âm, còn anh thì cầu Chúa nhân từ cứu giúp. Cả hai chúng tôi quỳ gối giữa trời mà cầu nguyện theo cách riêng của mình. Có lẽ lòng thành của chúng tôi đã thấu được đấng trọn lành nên đã cứu sống hai cháu được an toàn cho đến ngày xuất viện. Bồ Tát đã giúp tôi vì tôi đã làm một việc ngoài hẳn sức của tôi. Có lẽ nhờ cái ân đức đó mà đứa con gái của tôi sau này lớn lên trở thành một cô gái tuyệt vời. Rất ngoan hiền, hiếu thảo, học giỏi. Nó chính là ngôi sao thắp sâng cho cuộc đời đầy bóng tối của tôi. Ra viện tôi và Dĩ Khang lại chia tay nhau, đầy thương mến, ngậm ngùi.

Rồi thời gian trôi đi, 18 năm sau, với bao điều thay đổi. Các con tôi đã vào Đại học ở Sài gòn. Nhà của ba má tôi đã bán không còn ở chỗ cũ. Tôi đã trở thành một cô bán hàng ở chợ để nuôi con, tôi đang sống cùng mẹ ở Quy nhơn. Dĩ Khang trở về, dắt theo cậu con trai năm xưa để tìm tôi. May sao, những người bên cạnh nhà ba má tôi, biết tôi bán ở chợ nên chỉ giúp cho, nhờ đó nên anh đã tìm ra tôi. Con trai anh lúc này đã 20 tuổi, cao lớn, đẹp trai. Chắc được nhắc đến nhiều lần, được nuôi dạy kỹ, cháu khoanh tay, quỳ gối cảm ơn tôi và gọi tôi bằng mẹ. Tôi mừng vui và xúc động vô cùng. Đây là lần cuối cùng chúng tôi được gặp lại nhau, cha con anh đã có được giấy bảo lãnh đi Mỹ. (Thời đó tôi sống khó khăn và lạc hậu chưa biết xài ĐT, nhà thì đang tranh chấp chỗ ở chưa ổn nên tôi mất hẳn liên lạc nhau).


Đêm cuối cùng Dĩ Khang đưa tôi, mẹ tôi và con trai anh cùng đi ăn ở một nhà hàng nơi khu đầm Đống đa. Rồi chúng tôi ngồi ở bờ kè Phan đình Phùng hóng gió. Dĩ Khang ngập ngừng dường như muốn nói điều gì với tôi. Tôi hỏi bâng quơ:
- Anh còn nhớ Linh Lan không? 
-Nhớ chứ em, anh nhớ rõ cả những ngày tháng cả ba chúng ta bên nhau thời xa đó. Nhưng T ơi, biết là muộn rồi nhưng anh muốn nói thật lòng với em một điều sâu kín nhất trong lòng anh. Người mà anh nhớ và yêu nhất đó là em. Anh biết rõ lòng mình từ năm 75, lúc QN còn trong biến động. Em ấm áp, hiền hòa và như một thiên thần mà Chúa đã gởi tới cho anh... Ngày ấy anh biết rõ người viết thư cho anh chính là em, linh hồn của em đã gởi trọn trong đó. Ngày ấy đã bao lần anh muốn ngỏ cho em, nhưng anh không dám, em như lá ngọc cành vàng còn anh thẳm sâu bóng tối.
-Cảm ơn anh đã nghĩ đẹp về em. Gía như hồi đó mà anh nói với em, có lẽ em sẽ đợi anh về dù cho lúc đó anh có đi kinh tế mới, anh có đi tù. Nhưng số trời đã định anh ạ và tất cả đã qua rồi, ta đã sống và chấp nhận hết những gì ta có mãi cho đến hôm nay. Lâu rồi ta cũng quen và ta cũng vẫn còn được hạnh phúc khi còn ngồi lại bên nhau bình an như bây giờ.

Từ đêm chia tay cuối cùng ấy chúng tôi xa nhau - xa mãi cho đến bây giờ. Tôi mang kỷ niệm ấy, cất sâu tận đáy lòng mình , trân trọng và thương yêu mãi. Một kỷ niệm xưa trong đời tôi có được để nhớ nhung. Tôi vẫn mong, cõi đời này còn cho chúng tôi có được mối Duyên lành để còn gặp lại nhau lần nữa, nhưng con đường đi còn lại đã ngắn dần cùng với thời gian...

Thái Thanh

 

 

Ý kiến bạn đọc
06 Tháng Mười Hai 20198:38 SA
Khách
Cảm ơn Oanh đã khen hình Thai Thanh nha. Mong được bạn đọc văn Thai Thanh. Hình chụp Thai Thanh chụp năm 46 tuổi. Bây giờ đã 61 tuổi rồi không như xưa nữa đâu. TT xin lỗi vì đến hôm nay mới trả lời bạn vì đến hôm nay Thai Thanh mới mở được Hợp lưu net đó. Chúc an vui nha
06 Tháng Mười Hai 20198:33 SA
Khách
Cảm ơn Le minh Hiền nhiều lắm nha. TháiThanh xin lỗi đến hôm nay mới đọc được tin nhắn của anh vì đến hôm nay mới mở được Hợp lưu net. Chúc anh vui khỏe hạnh phúc mỗi ngày nha.
20 Tháng Chín 201912:55 SA
Khách
Mình tên Lê Minh Hiền. Trên bạn hai lớp đã từng học tr. Cường Để. Hay đạp xe ngang trường bạn! Đồng hương thì dễ đồng cảm bạn nhỉ. Cảm động lắm. À mình cũng có thơ đăng ở đây. Chúc bạn cùng gđ hai cháu luôn vui, khỏe nhé!
21 Tháng Tám 20199:33 SA
Khách
mình chưa đọc nhưng xem hình thấy Thái Thanh đẹp quá, lại có nét hao hao giống ca sĩ Thái Thanh 'tiền bối'!
cs Thái Thanh hát nhạc Phạm Duy thì không còn gì để nói, vậy văn của Thái Thanh 'hậu bối' chắc là không tệ ?
Mình sẽ đọc và gửi comment sau.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Chín 20262:41 SA(Xem: 141)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 210)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 325)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 590)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 462)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2649)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1770)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1439)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2536)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 2043)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1880)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11749)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18349)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17373)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 325)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2536)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2656)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 4035)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 590)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 2042)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3834)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3325)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2648)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2545)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2918)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2907)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Chín 2026(Xem: 141)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 462)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1770)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1438)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4696)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14920)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31051)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37830)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12759)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14052)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5305)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7856)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6920)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7337)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8301)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 210)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9914)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9104)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi