- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

MƯỜI LĂM, MƯỜI BẢY

09 Tháng Tám 201910:17 CH(Xem: 45998)

hc nam 17
hoàng chính – năm 17 tuổi



Nghe tiếng cót két dưới sân, tôi biết ngay thằng bạn trời đánh vừa tới. Chiếc xe đạp khô dầu, nói bao nhiêu lần là chỉ cần xịt vào đó chút dầu hoặc không có dầu thì quết lên sợi dây xích chút mỡ bò là trơn tru, mà cái thằng nhất định không nghe. Tiếng cót két cứ như tiếng nghiến răng của bà hàng xóm lúc ngủ mê, nghe đến nổi cả gai ốc.


“Thằng Thịnh có nhà không bác?” Đúng nó rồi; cái thằng có giọng nói ồm ồm như ông Thiên Lôi.

Tôi bỏ cuốn truyện của Gheorghiu xuống, nhoài người ra ngoài ban công, “Có tao đây. Lên đây, mày.”

Quốc nghểnh cổ lên, nhằn, “Tới giờ học rồi mà mày còn ngồi ì ra đó...”

Chưa kịp ngơ ngác, tôi đã bắt được cái nháy mắt chớp nhoáng của thằng bạn.

“Ấy chết! tao quên.”


Tôi chạy lại tấm gương ố, soi mặt mình trong đó. Hai cái má hóp thấy tội. Chiếc cằm loe hoe vài sợi râu. Chỉ được cái mũi cao. Người Việt Nam da vàng mũi tẹt. Bài học đầu tiên trong chương trình Việt Sử. Tôi được cái mũi không tẹt nên trông cũng không đến nỗi nào. Lại thêm cặp mắt kính. Hồi nhỏ, lúc chưa bị cận thị, tôi đã từng ngắm ông thầy dạy Anh văn không biết mệt, khi thầy chấm bài mà bọn học trò con gái bu chung quanh như mấy con ruồi bâu quanh miếng bánh ngọt. Mấy cô gái nhõng nhẽo làm trễ cả cặp mắt kính trên sống mũi ông thầy. Ông thầy loay hoay sửa mắt kính. Đôi mắt sau cặp kính thấy hiền ơi là hiền. Thế nên hồi đó, tôi chỉ mong được cận thị.


Mà Trời thì cũng không phụ lòng người.

Thằng Quốc lững thững bước lên cầu thang. Lại những tiếng cọt kẹt quen thuộc.

“Đi nhè nhẹ chút, mày!”

“Thì tao đã đi nhẹ rồi đấy thôi.” Vừa lên khỏi những bậc thang, Quốc ngồi thụp ngay xuống sàn gỗ. “Đọc gì thế?”

Giờ Thứ Hai Mươi Lăm.”

“Tới chỗ Moritz bị trở thành lính Đức chưa?”

“Chưa. Truyện hay quá!”

“Mày chịu Gheorghiu không?”

“Dĩ nhiên.”

“Hay vậy mà lại không được cái Nobel nhỉ.”

“Tao không tin bọn chấm giải.”

“Thôi, lẹ đi mày. Tụi nó chờ.”

Tôi xếp cuốn sách, loay hoay vuốt lại mái tóc, trước tấm gương hình chữ nhật của con bé em được móc vào tường bằng chiếc đinh rỉ sét.

Trời nóng âm ỉ. Người nhơm nhớp, khó chịu. Giờ này chạy lòng vòng ngoài phố, chắc là vui.

Hai đứa bước xuống cầu thang. Lại cót ca cót két.

“Sao mày không đóng thêm mấy cái đinh cho nó khỏi kêu.” Quốc nhằn, như ông bố chồng khó tính.

“Bận thấy mẹ!”

Nhà chật. Bố mẹ và lũ em ở tầng dưới. Một mình tôi được ở tầng trên. Giang sơn một cõi. Sách vở chất đống chung quanh tường. Chiếc chiếu trải trên nền ván gỗ. Chăn gối mùng mền cuộn tròn chân tường. Chiếc bàn viết, hai cái ghế vênh vẹo. Tuy bây giờ phòng không chiếc bóng, nhưng rồi cũng phải có lúc có bạn gái lại chơi. Con gái e dè, kín đáo. Ngồi trên này, người ta tự nhiên hơn. Mà mình có thể loay hoay chuyện nọ kia, cho dù có khởi nghĩa bất thành thì cũng không đến nỗi mất mặt với mọi người. Nhờ cái cầu thang kêu cót két. Bố mẹ hay lũ em có lên là biết ngay. Cái cầu thang gắn hệ thống báo động. Ngu gì mà gỡ bỏ. Lũ bạn đã dạy tôi điều đó.

Mẹ tôi ngồi trước cửa hóng gió. Hai tay vẫn không ngừng những mũi kim. Cái áo sơ mi rách vai bữa hôm tôi trèo cây, hái cho con bé láng giềng trái ổi xá lị. Chỉ tội bà cụ. Hết mạng áo cho con lại vá áo cho chồng.

“Tụi cháu đi công chuyện chút nghe bác.” Thằng Quốc nhanh nhẩu.

“Công chuyện gì vậy?”

Tôi ngập ngừng, “Đi... học.”

“Nghỉ hè rồi còn học gì nữa?” Con em tôi, đang ngồi thêu phía trong, xen vào.

“Học chứ.” Tôi trừng mắt với nó.

Con nhỏ cười trừ. Mỗi khi có khách là con nhỏ em coi tôi như pha. Nó chuyển mũi tấn công qua bạn tôi, “Học gì vậy anh Quốc?”

“Học.. cua. Tụi anh phải học cua thêm. Năm tới thi tú tài hai, ghê lắm...”

Thiệt tình, cái thằng lẻo mép!

Phóng lên xe, nhấn những vòng đạp hấp tấp ra khỏi sân nhà, tôi còn nghe tiếng mẹ tôi vọng theo, “Thế này thì cũng lại tốn mồi thôi!”

Mẹ tài thật. Tôi thầm nghĩ.

Học cua là chuyện có thật. Mỗi dịp nghỉ hè, học sinh náo nức đi học hè. Các “cua” toán, lý hoá, Anh văn mọc lên khắp chốn. Yếu môn nào thì phải rán nhịn ăn nhịn mặc mà đi học thêm môn ấy.

Bọn tôi, mười bảy, mười tám tuổi. Toán không đến nỗi nào. Lý hoá cũng được, vạn vật cũng vừa phải, Anh văn đã từng được thày khen. Mai kia vào đại học, tôi có thể chọn để thành kiến trúc sư, bác sĩ hay kỹ sư cũng được. Nhưng tôi phải học “cua”. Cả lũ chúng tôi ba bốn thằng, ngơ ngơ ngẩn ngẩn trước cuộc đời, đều phải ghi tên học cua hết ráo. “Cua” đặc biệt.

Hai thằng bạn nữa chờ chúng tôi ở Lăng Ông Bà Chiểu.

Tín đồ chưa tới à?”

“Chắc Tín đồ bận giặt tã cho con.”

Tín đồ là sư phụ của bốn đứa tôi. Sư phụ tên Tín. Nhưng khi sư phụ không có mặt thì chúng tôi gọi anh một cách thân mật là Tín đồ.

“Kính thầy mới được làm thầy nghe mày.” Một thằng rầy.

“Tao có nói gì đâu.”

“Mày thất lễ với thầy. Ca dao bảo không thầy đố mày làm nên. Quên rồi hả?”

Bốn thằng con trai vừa dắt xe đạp vừa cãi nhắng cả lên trên con đường nhỏ bò ngoằn ngoèo trong Lăng Ông. Áo trắng quần xanh. Tóc tai rẽ ngôi đàng hoàng tử tế. Cằm đứa nào cũng rán nuôi lưa thưa những sợi râu mềm như lông măng nhưng khuôn mặt nhìn thoáng qua, ai cũng thấy ngay là còn vương sữa mẹ.

          Nắng đổ những chiếc bóng khẳng khiu trên lề cỏ. Bốn đứa khóa xe dính chùm lại với nhau, rồi ngó quanh, tìm một chỗ ngồi thuận lợi.

“Sư phụ lại kìa!” Thằng Quốc luôn luôn là đứa tinh mắt nhất đám. Đó cũng là một lợi điểm. Sư phụ đã từng truyền rằng, mắt sáng giúp ta phân biệt được đâu là hư đâu là thực  giữa một cõi đời lẫn lộn thực hư.

          Hôm nay sư phụ mặc sơ mi trắng giống hệt đám đệ tử, chỉ khác áo sư phụ bỏ vào trong quần trông cứ ngỡ như người mới tốt nghiệp trường Sư Phạm ra. Ôi cái mẫu người mô phạm!

          Một thằng chạy lại đỡ chiếc xe từ tay anh Tín, đem lại khóa chung với xe của cả bọn. Năm chiếc xe dính chùm dưới một gốc me già. Lá vàng nhỏ li ti lấp lánh bay trong gió nhẹ.

“Bữa nay chắc anh Tín bận công chuyện...” Một đứa thăm dò.

“Ư, bận.” Sư phụ vừa nói vừa xoa cằm. Sư phụ có cái oai của một ông tướng có hàm râu quai nón. Cái viền xanh mờ mờ bò từ cằm lên tận mang tai nói lên điều đó.

“Vợ anh Tín kêu đi mua tã phải không anh Tín?” Một thằng học trò móc ngoéo.

Cả bọn phì cười. Sư phụ vẫn nghiêm trang.

“Tụi mày làm mất thì giờ.” Tôi nóng ruột, nạt, “Để anh Tín nhập đề...”

“Tìm chỗ nào ngồi đi chứ mấy cậu.”

“Lại đàng kia, có hai cái ghế trống gần nhau. Chỗ ấy lại có nhiều học trò Thánh Mẫu với Lê Văn Duyệt...”

Cả bọn nhìn theo hướng tay chỉ của Quốc. Cái thằng thế mà được việc. Sư phụ đã chẳng phán là mắt tốt có lợi cho đại cuộc đó sao.

Buổi học cua bắt đầu ngay khi cả bọn vừa an vị. Gió hây hây ngọn lá. Nắng lung linh trên những đầu tóc còn xanh của lũ học trò mười lăm, mười bảy. Lũ chúng tôi bên này, nhìn qua phía bên kia hàng rào trường con gái. Những mái tóc dài phất phơ trong gió. Tà áo trắng ôm gọn thân thể thon gọn, mượt mà. Con mắt bồ câu của văn chương, con mắt lá răm của ca dao tục ngữ. Tóc thề trong thi ca, tóc demi-garçon trong âm nhạc. Chúng tôi ngất ngây trước cuộc đời huyền diệu. Một bóng dáng con gái đi qua. Tiếng guốc sẽ sàng gõ trên lề đường xi măng thô cứng. Tiếng guốc làm điếng cả linh hồn những học trò con trai đang tập tễnh si mê. Tiếng guốc làm ù tai thằng học trò mới lớn. Tiếng guốc át đi tiếng giảng kinh tình yêu của sư phụ.

“Mê ngủ hở Thịnh?” Tín Đồ đánh thức tôi dậy một cách phũ phàng. Tôi quay đầu trở lại. Cũng may, nếu không, hồn tôi đã bay theo tà áo cô học trò trường nữ trung học Thánh Mẫu vừa mất hút sau khúc quanh.

“Những gì tôi nói nãy giờ chắc cậu quên mẹ nó hết rồi!” Sư phụ quở.

Tôi nghe mặt mũi mình bừng bừng cơn sốt.

“Nãy giờ cậu có nghe tôi nói gì không?”

“Nghe chứ, anh Tín.” Tôi xạo.

          Giọng sư phụ u trầm, “Đời người chỉ có một thời ngắn ngủi. Tôi tuy học cùng lớp với các cậu thật nhưng đường đời tôi đã đi một đoạn dài hơn các cậu nhiều lắm. Giờ này tôi vẫn ì ạch ở cái lớp đệ nhị với ba cái tam thức, nhị thức, phương trình bậc hai, hằng số Avogadro, bộ tiêu hóa, hệ bài tiết vân vân là vì cái chuyện học tài thi phận. Bằng cấp chỉ giúp mình khỏi đi quân trường chứ chưa chắc đã đem lại những giây phút tuyệt vời của tình yêu...”

          “Anh Tín nói chí lý.” Một thằng nịnh sư phụ. Tôi biết hết lý lịch thằng này. Gia phả nhà nó ba bốn đời chưa hề có một lần nào chính thức “yêu” và “được yêu”. Toàn là lấy vợ nhờ mai mối. Chắc nó sợ sư phụ giận, không thèm truyền hết những bí quyết chân truyền của con đường tình ái nên xuống giọng dỗ ngọt đàn anh.

          “Tao trốn vợ con ra đây là cũng vì cái tình với tụi bay...” Có cái gì đó u uất trong giọng nói người con trai đã bị khoác lên người chiếc áo đàn ông một cách vội vàng. Mới chưa đầy ba mươi tuổi mà sư phụ đã ủ ê như một ông già.

Cả bọn bắt đầu lo âu. Khi sư phụ “mày tao” là lúc sư phụ bắt đầu chửi đời. Tụi tôi đi học cua, chứ ai mà muốn ngồi nghe những lời cay đắng. Thành ra cả bốn đứa co lại, ngoan như những con cừu trước ngọn roi của gã mục đồng trong cơn phẫn nộ.

          Suốt buổi, cả bọn nghe no nê những lý thuyết rất người. Những cái đầu gật gù. Những con mắt mở lớn, mơ tưởng xa xôi. Có đứa nào muốn hỏi gì không? Có em. Nếu mình gợi chuyện mà đứa con gái cứ lặng thinh hoài thì mình phải làm sao hở anh Tín. Nếu mình đưa thư mà nó không thèm nhận thì sao anh Tín. Nếu mình chào mà nó cứ lờ đi như không thấy mình thì mình phải làm sao...

Chờ cho cơn bắng nhắng của lũ bạn vơi xuống, tôi hỏi cái câu ấp ủ không biết từ bao lâu trong đáy lòng, “Anh Tín ơi, mình nên... hôn tụi nó ở chỗ nào cho an toàn?”

Sư phụ trừng mắt, “Mày mới học vỡ lòng mà đã hỏi chuyện bậy bạ.” Câu mắng yêu. Tôi biết vậy. Bởi vì những ngón tay sư phụ đang xoa chiếc cằm lún phún râu xanh. Sau một lúc đăm chiêu, sư phụ ngập ngừng, “Tao thấy hôn má an toàn nhất.”

“Không, em muốn hỏi là hôn trong phòng khách hay trong rạp xi nê thì an toàn nhất.”

“Con bò!”

Sư phụ không thèm trả lời cái câu vớ vẩn. Lũ bạn tôi  cười nói lao xao. Rồi cả bọn lặng thinh như những thiền sư khi một nhúm tóc dài, áo trắng đi qua. Những cái đầu chụm vào nhau như những trai trẻ mưu đồ đại sự. Những chiếc bóng con gái trôi qua, những cái đầu ngơ ngác trông theo.

“Bây giờ tới phần thực hành.” Giọng sư phụ lạnh lùng.

Thôi chết rồi. Tôi than thầm trong bụng. Thực hành. Giá không phải thực hành có phải tốt hơn không. Nhưng tránh làm sao được. Học lý thuyết biết bao nhiêu rồi, không thực hành làm sao mà tốt nghiệp. Chúng tôi như những sinh viên học nghề thuốc, miệt mài với những sơ  đồ cơ thể học, đến khi thầy dúi vào tay một chiếc dao mổ lấp lánh ánh thép mới biết thế nào là lo âu.

“Thằng Thịnh thực tập trước.” Lời truyền của sư phụ.

Tôi há miệng, nuốt gió; cố tìm một câu thật khéo để chối từ.

“Tao thấy cái ghế đằng kia có con bé tóc đờ mi gạc xông, ngồi ôm cặp lâu lắm rồi. Thằng Thịnh có bổn phận lại làm quen. Rồi về làm bài tường trình cho anh em học hỏi.”

Sư phụ giết tôi rồi. Chọn lựa chi đâu mà lại bốc ngay con bé ngồi biết bao lâu trong công viên. Lỡ “nó” chờ ai thì có phải chết tôi không.

Tôi xuống giọng, yếu ớt, “Hình như nó chờ ai, anh Tín à.”

“Thì đã sao!”

Thì đã sao là châm ngôn thành công của sư phụ.

“Lỡ đang nói mà bồ nó tới thì sao, cái này anh Tín đâu đã chỉ tụi em...” Tôi lập lại câu nhằn mà bọn con gái cùng lớp hay ỉ eo với mấy ông thầy:“cái này đâu có trong bài.”

“Thì đã sao! Tán gái thì phải biết sáng tạo. Mày làm trước. Lính mà cãi lệnh cấp trên là không được.” Sư phụ viện dẫn tới ca dao tục ngữ, “Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.”

Tôi run như thằn lằn đứt đuôi, như thằng bé vô gia cư khai trương nghề ăn trộm.

“Đứng lên đi mày.” Lũ bạn vừa đốc vừa xô tôi. Thằng chết nhát. Thằng thỏ đế. Chúng nó rủa không tiếc lời. Tôi muốn đứng dậy lắm chứ, nhưng sao hai đầu gối rụng rời.

“Thôi, anh Tín à, để chọn con nhỏ nào khác đi.”

“Mày, gà chết!”

Tôi cãi bướng, “Nhiều khi cứ để ngắm như vậy lại hay hơn.”

“Lý sự!”

Tôi trích dẫn văn chương nghệ thuật, “Tôn Nữ Thu Hồng đã chẳng bảo hãy là hoa xin hãy khoan là trái, hoa nồng hương mà trái lắm khi chua đấy sao.”

“Cậu càng nói thì tôi càng thấy cậu gà chết.”

“Anh Tín nói đúng.” Thằng Quốc xen vào, “Cứ để là hoa mãi lỡ thằng khác hái mất rồi đứng đó mà khóc à!”

“Mày ngon thì mày thử trước đi!”

“Để tao biểu diễn cho tụi mày học luôn thể.” Anh Tín xen vào cuộc cãi vã bằng cái kết luận chắc nịch. “Mở mắt lớn ra mấy thằng khỉ ạ.”

Sư phụ có lý. Không đứa nào dám cãi, bởi vì ngày xưa sư phụ đã từng cua được một cô gái dễ thương và mướt như nàng Giáng Kiều trong Bích Câu Kỳ Ngộ, rồi lại còn cưới được nàng làm vợ. (Giờ này chắc chị Tín đang lồng lộn đi tìm ông chồng về để mua sữa, mua tã cho con.)

Tụi mày phải nhớ những đứa con gái đẹp thường là đã nghe cả trăm ngàn lần những câu tán tỉnh, thành ra cái kiểu tôi trông cô quen quen, hình như tôi gặp cô ở đâu rồi thì phải... thì đừng bao giờ xài nữa, kẻo nó cười cho vỡ mặt. Cũng đừng có ba hoa chích chòe cô bé ơi cô bé dễ thương quá hoặc là lảm nhảm nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát. Tên trong căn cước không phải là Trần Bích Lan thì đừng bày đặt đọc thơ ông Nguyên Sa. Tụi mày phải nhớ...

Lời sư phụ dạy gió thổi tai này lọt qua tai kia. Tại những cô gái tóc dài xoã ngang lưng đi ngang còn che miệng lén cười. Tại gió mềm, tại nắng mỏng, tại tôi mười bảy tuổi, ngu ngơ, Hãy là hoa xin hãy khoan là trái. Tôi ngây ngất. Tôi mơ tưởng một cánh hồng thắm như màu máu, như màu son thoa vội trên môi một người con gái.

Sư phụ lững thững bước đi. Tám con mắt nhìn theo. Bốn trái tim hồi hộp đập theo những bước chân vững chãi của gã đàn ông kinh nghiệm đầy mình. Sư phụ sẽ dẫn cô gái về giới thiệu với tụi tôi. Ngày xưa, vợ sư phụ là hoa khôi trong lớp. Bao nhiêu học trò mơ tưởng, bao nhiêu thầy giáo ầu ơ. Vậy mà anh Tín cua cái một. Tôi làm sao quên được cái lần anh Tín dẫn vợ đi vòng quanh khắp xóm, giới thiệu với bạn bè.

“Anh Tín ngon hả tụi bay.”

“Dĩ nhiên rồi. Anh ấy đã từng tham chiến ở Triều Tiên mà mày.”

Mỗi lần muốn nói về những người kinh nghiệm đầy mình, lũ chúng tôi thường bảo là người ấy đã từng tham gia Thế Chiến Một, Thế Chiến Hai hay Chiến Tranh Triều Tiên.

“Thằng Thịnh nhát quá!” Lại cái thằng Thiên Lôi nhiều chuyện.

Tôi biện bạch, “Tao thích cái gì nhẹ nhàng. Không phải là hoa thì dễ thương hơn là trái sao?”

“Nhát!”

“Mày ngon sao mày không đi cua về cho anh em coi.”

“Im đi tụi bay, anh Tín tới chiến luỹ Maginot rồi kìa.”

Tôi nín thở vái trời cho anh Tín thành công. Anh Tín có vợ rồi, nếu cua được thêm em nữa, chắc anh Tín sẽ nhường cho bọn tôi. Mà trong bọn thì tôi là đứa thuộc nhiều thơ nhất. Tôi sẽ đọc cho “nàng” nghe thơ của Đinh Hùng. Ơi đắm đuối thân hình em băng tuyết, gợn xuân tình lên bộ ngực thanh tân, ta gần em mê từng ngón bàn chân, nhắm mắt lại để lòng nguôi gió bão... Ơi cái ông Đinh Hùng! Nhờ những câu thơ tuyệt vời, tôi sẽ quen “nàng”. Tôi sẽ có một người thương. Mười bảy tuổi, chữ “yêu” nghe có chút gì trần thế. Tôi thích chữ “thương” hơn. Người thương. Ơi người thương. Thương quá là thương... Ngôn ngữ quá đỗi là dịu dàng.

Băng ghế đá công viên. Áo dài trắng phất phơ đôi tà. Mái tóc xõa ngang lưng. Cô gái ngồi tuốt ở một đầu. Sư phụ đứng chơ vơ ở đầu kia. Cầu trời cho sư phụ thành công. Nhưng chắc ăn là thành công, bởi vì sư phụ đã từng tham chiến ở Triều Tiên...

Sư phụ nói gì đó. Cái đầu hơi cúi. Vẻ băn khoăn, thành khẩn trên nét mặt. Mái tóc buông xuống trước trán. Hai bàn tay đong đưa trong không gian. Rồi hai bàn tay xoắn lấy nhau. Tụi tôi rán quan sát để học hỏi từng chi tiết. Sư phụ ngước nhìn mây trời. Bàn tay phải quơ lên, vạch một nét phẩy mơ hồ trong không gian. Nụ cười lại nở trên môi. Xong rồi. Tôi lẩm bẩm Xong rồi. Tín Đồ chì không thể tưởng tượng.

Gió từ đâu bỗng lùa qua vùng biên trấn. Tà áo người con gái bay bay. Một bàn tay thon thả đưa lên vuốt tóc. Hai bàn tay sư phụ lại mở ra như đang cố dẫn giải một điều gì. Ôi, những con người xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan!

Chợt cô gái đứng dậy. Nhìn xuống chỗ mình ngồi như xem thử có bỏ quên gì không, rồi tất tả bước đi. Hai tà áo quyện lấy đôi chân. Sư phụ ngơ ngác nhìn theo. Gió. Bỗng dưng trời nổi gió. Gió đem đến tai chúng tôi loáng thoáng câu nói chanh chua của người con gái, “Xưa như trái đất!”

Suốt quãng đường về, Tín Đồ chỉ nói với chúng tôi mỗi một câu, “Cái bà Tôn Nữ gì đó nói đúng tụi mày ạ. Hoa thì thơm mà trái thì chua gì gì đó, phải không thằng Thịnh?”

Hoa nồng hương mà trái lắm khi chua, anh Tín à.” Tôi nhanh nhẩu.

Đó là buổi học “cua” cuối cùng của thời mới lớn. Đời sống toàn những khúc đường quanh co, chả đề thi nào giống đề thi nào. Những học sinh học tủ làm sao mà thi đậu. Chúng tôi không đứa nào đủ tiêu chuẩn tham dự cả hai cuộc Thế Chiến lẫn Chiến Tranh Triều Tiên. Sư phụ bận đi làm mua sữa, mua tã cho con. Bọn chúng tôi như rắn mất đầu.

Và cho đến bây giờ vẫn chả có đứa nào tốt nghiệp để có được cái bằng mà treo lên vùng ký ức của thời mười lăm, mười bảy.

Hoàng Chính

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1799)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1335)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1927)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1633)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1958)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1856)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1719)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1537)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2316)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2463)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9470)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16308)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15280)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15655)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1797)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1927)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1958)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2316)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4382)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6191)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5518)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6118)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1632)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1856)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2042)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1919)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1719)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1537)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1731)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1717)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12486)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28693)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35237)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35111)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 10012)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12084)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1335)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1927)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2316)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2463)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2853)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7134)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6546)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8566)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.