- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

MÙA XUÂN Ở TRÊN CAO

08 Tháng Ba 20194:00 CH(Xem: 48214)



deo-hai-van-thien-ha-de-nhat-hung-quan-ivivu-4
Đèo Hải Vân - Đà Nẵng - ảnh Internet

     Hùng lấy rừng làm nghiệp chính để phụ giúp gia đình. Nói tiếng phụ nhưng anh là nhân vật không thể thiếu trong cái nhà gồm mười một con người. Sự sụp đổ của một chính thể - mà - cha và anh của Hùng là những thành viên đã kéo gia đình  rơi tự do. Bao nhiêu của nả sau hai mươi năm lính đã trôi tuột vào hư vô. Cha và anh đi cải tạo nên Hùng phải chủ trì chuyện kiếm sống và thăm nuôi. Một mình không xuể vì thế những đứa em buộc phải nghỉ học. Đứa đi bán cà rem đứa chạy chợ. Má và chị Hùng bê mỗi người một thúng bánh ít trần đi rao khắp làng trên xóm dưới. Thị trấn rất sầm uất trong chiến tranh đã nhanh chóng tẻ buồn bởi nguồn thu nhập  là lương lính đã chấm dứt. Ai cũng chạy chợ, ai cũng thúng bánh, nhà nào cũng có một cu con vác thùng cà rem nên tự ăn lấy cái mình bán là chính. Trẻ trai và không dính líu đến súng đạn như Hùng thì rừng là cứu cánh.

      Thành phần bị liệt vào lính đánh thuê sau cải tạo không kinh tế mới là không xong. Chí ít phải có mảnh vườn hay sào ruộng thì mới có thể sống được mà chờ thời. Thời gì? Ông Hiền - cha Hùng - và Bằng – ông anh trai – ngu tín rằng Cộng hòa và nước Mỹ không bao giờ bỏ miền Nam Việt-nam. Vì tin vào điều nầy nên họ bỏ lỡ hai đợt kinh tế mới. Một đợt đi Tây Nguyên và một lần lên Lâm Đồng. Đất đỏ Bazan và ma thiêng nước độc ăn thịt người nhiều hơn bom đạn. Chết ở đồng bằng dù sao cũng hơn trong núi thẳm rừng sâu. Và ông chắc rằng người Mỹ sẽ trở lại. Chính thể Cộng hòa phải trả lại cho ông mấy mươi triệu mà ông đã bỏ vào ngân khố quốc gia.

      Vậy nên họ chọn kinh tế mới giáp ranh Long Mỹ làm chốn tạm dung.

      Long Mỹ cách thị trấn chỉ bảy cây số đường bộ. Mỗi hộ được cấp ba sào đất vườn và sáu tháng lương thực. Được cấp cả hạt giống để làm mùa. Người dân có quyền lên núi phát rừng làm rẫy. Long Mỹ rừng núi bạt ngàn và những người muốn dựng lại đời dựng lại nhà phải chi thuận theo thời thì hay quá. Thuận là chi? Có đất đai vườn tược và lương ăn còn chi nữa mà không thuận?

     Xin thưa rằng chín mươi phần trăm dân số của kinh tế mới Long Mỹ là lính cộng hòa và con em của họ - những người mà – cả đời cầm súng ăn lương nên nào biết chi cuốc đất trồng khoai. Đa số nghĩ như ông Hiền rằng Mỹ không thua. Họ sẽ trở lại. Râm ran đâu đó Bảo Long phục quốc đang hành động. Đồn rằng ông Mỹ lôi ông Long về phục hận. Vì thế những nông dân cày đường nhựa nhận lương ăn rồi quấy quá cho xong buổi. Cán bộ kinh tế mới cũng có truyền đạt kinh nghiệm cấy hái trồng tỉa. Khốn thay có lương ăn nên dân tình ăn cái đã rồi mai hậu tính sau. Vụ mùa thất bát. Hết tài trợ. Để no bụng ba quân bèn lên núi chặt củi đốt than. Người người than, nhà nhà củi nên bọn thu mua ưng cho giá nào là chịu giá đó. Mùa nắng hạn còn thở được tí chút chứ mưa xuống thì ôi thôi rồi. Cái xứ mà mưa thâm ngày thâm đêm, gió bấc thổi vù vù lạnh buốt xương. Vậy là có cái chi ta cầm cố cái đó. Nhưng kinh tế mới thì có cái chi để cầm? Đừng nghĩ không là nhầm đó nghe. Mỗi hộ đều hưởng một đặc ân là ông nhà nước kính biếu một sổ mua hàng và mỗi người trong hộ đều có một phiếu mua vải ở cửa hàng thương nghiệp quốc doanh. Mỗi năm được mua hai lần theo giá của nhà nước. Mua xong bán lại cũng lãi được nhiều nhiều chút. Vậy nên kẻ có của sẵn sàng cầm cố cái gọi sổ và phiếu nầy.

     Nhà Hùng cũng vườn, cũng phát rẫy trỉa lúa trồng bắp, thất vụ cũng lên núi chặt củi đốt than và toe xơ mướp như bất kỳ ai trong cái đận thất mùa của năm 78. Nhà anh bi hơn thiên hạ một khoản rất quan trọng. Sau khi lên kinh tế mới ông Hiền sa vào trầm uất vì chờ đợi sự trở lại của một chính thể ngày một xa vời là một. Thứ hai là tiếc của cải đã mất. Cái sự tiếc ngày một cao vì thiếu đói ngày một lớn. Khi thiếu thốn đến cùng kiệt nhân phẩm mất luôn chứ thấp là tất nhiên. Chả có chi đánh sập ý chí con người bằng thiếu ngô khoai.  Ông Hiền ngồi trên võng than thân trách phận, luôn nhắc về một thời huy hoàng khi còn là lính. Ông làm bên quân lương và tiếp tế nên tiền bạc và lương ăn là từ dư đến dư. Nay thiếu đói thì tiếc đến cuồng cũng nên thông cảm. Anh Bằng của Hùng thì khác. Bằng học hành gần đến nơi. Rớt tú tài nên mộng sĩ quan trong Quân lực Cộng hòa rơi là đà vào quân trường Đồng Đế. Sau sáu tháng lăn lê bò toài Bằng mang lon trung sĩ ra tận Quảng Trị nhận lệnh hành quân. Trước khi đi anh ta ngâm rằng “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Đại khái chí của Bằng lớn tầm trời chứ không ít. Sau năm năm trở về trong phận bại binh và sau ba năm kinh tế mới chí lớn đã thành chí mén khi bị thiếu đói đánh gục. Bằng cũng ngồi mà : “Ta đứng giữa một vòng vây mộng ước. Với một hồn đầy ắp những thương đau. Với hoang mang của một kẻ đi tìm. Với đớn đau một gia tài đã mất...”.  (thơ Cao Thoại Châu)

      Hùng gần như là người làm ra cái ăn chủ lực trong gia đình sau khi cô em gái lấy chồng. Gió nam lào, gió bấc, nắng thủy tinh và mưa rền rĩ cùng khoai lang củ mì đã biến Hùng đen đúa và ốm nhách như một con cá lẹp phơi khô. Một cô bồ từ thị trấn sau vài lần lên thăm đã vội ôm cầm theo thuyền khác vì anh xơ xác quá. Khi cô người yêu thứ hai đi lấy chồng Hùng nhận ra nghèo đúng là một cái tội lớn. Anh ngồi bên chai rượu với miếng khô hố rẻ tiền mà nghiệm bốn từ “phi thương bất phú”. Nhận ra người tàu Minh Hương sang An-nam chỉ một gánh ve chai lông vịt mà nên ông nên bà. Hùng cũng muốn ve chai lắm nhưng vốn ở đâu? Và nếu có vốn thì anh buôn bán cái chi? Ve chai ư? Trai đâu mà ve?

      Đang buồn thì Thanh Xuội đi ngang.

   Thanh. Xuội một tay nhưng luôn ăn ngon và mặc đẹp. Trong kinh tế mới nhà Thanh dạng có của. Có mà phải kinh tế là bởi gia đình Thanh nằm trong dạng phản cách mạng thứ thiệt. Xuội do đu xe rác Mỹ bị té.

-         Làm gì mà bảnh dữ anh Thanh?

-         Tao thì lúc nào cũng bảnh.

-         Có gì cho em út theo tà lọt cho.

-         Tao đi buôn.

-         Buôn gì?

-         Gạo. Tao đi gạo từ Diêu Trì ra Quảng Ngãi, Đà nẵng, Huế.

-         Có ăn không?

-         Cũng có nhưng không ngon. Tao tính đi than ngon lành hơn.

    Nghe đến than củi Hùng lắng nghe liền. Nghề của chàng mà.

-         Than ở xứ mình năm trăm một ký ra Quảng Ngãi một ngàn. Trừ chi phí ba trăm còn lời hai trăm. Đó là tụi buôn bình thường còn tao một ký phải lời bốn trăm.

-         Là sao?

-         Muốn biết và muốn thoát đói thì theo tao.

-         Tôi không vốn anh Thanh ơi.

-         Mày ra một lò than. Gom sao cho đủ một tấn rồi tập trung tại ga Diêu Trì. Lên tàu đã có tao lo.

   Hùng cũng có chút máu liều. Trắng tay mà muốn khá thì lấy liều làm tôn chỉ. Hùng ra hai lò than. Anh đóng một tấn trong mười lăm bao tải rồi thuê xe ra ga. Từ kinh tế mới về ga phải qua trạm kiểm lâm. May quá. Mấy anh bảo vệ cũng thiếu thốn nên cho qua miễn chung chi đẹp. Hùng tuy rách nhưng biết sống biết chơi - biết rằng - cái chi cũng mua được miễn có tiền. Than là mặt hàng cấm nên phải tập trung ở sân ga lúc ba giờ sáng. Bảo vệ ở ga cũng có quyền tịch thu nhưng hàng của Thanh Xuội nên họ ngơ miễn biết điều. Gì chứ tay chơi Thanh Xuội thì chung chi là chuyện hằng ngày.

     Hàng lên tàu xong Hùng hỏi:

-         Sao không mua vé hả anh Thanh?

-         Mua ở đây thì lấy gì chung chi?

     Kiểm soát viên đến và vé được xé ở ga cuối cùng. Tiền vận chuyển chỉ hết một nửa sạc cả lót tay cho kiểm soát. Xuống ga đã có bốc xếp đưa lên cộ bánh hơi kéo về vựa. Tiền trao và cháo múc. Chuyến đầu tiên trừ mọi cái Hùng và Thanh Xuội lãi ba trăm nghìn. Lò than năm trăm ký chỉ được năm trăm nghìn vừa chặt củi, đốt lò ra than cả chục ngày vất vả. Chỉ một chuyến Hùng thu trăm rưởi nghìn.

      Đúng là phi thương bất phú.

                                                                 ***

     
      Hùng nhận ra bán sức để ăn là bất trí khi ta có chút đỉnh vốn trong tay. Không chặt củi đốt than nữa mà thu mua. Để cạnh tranh và gom cho lẹ Hùng tăng thêm một giá. Vai u thịt bắp khoái bao nhiêu thì bọn mua đi bán lại ghét Hùng bấy nhiêu:

-         Sư cha nó – họ chửi – nâng giá kiểu đó là chết cả lũ. Nó đi lần cả tấn lời nhiều chứ bọn mình bán lẻ thì có mà ăn cám. Tao cầu cho kiểm lâm hốt cho nó biết thế nào là sạch bách.

-         Nó với thằng Xuội biết mua đường nên êm lắm mày ơi.

-         Rồi mày coi...

     Hùng gom được tấn rưởi. Lòng rất yên vì tết gần đến rồi. Gia đình chắn chắn sẽ thịt mỡ dưa hành và bánh tét bánh chưng. Hai thằng em út sẽ có bộ đồ mới mặc ba bữa tết. Đã mấy năm gia đình anh hiu hắt lắm khi xuân về tết đến. Hùng sẽ mua một ký thuốc lá rê cho ông Hiền hút thỏa thích. Chả là cha Hùng có một kiểu thưởng thức thuốc lá kỳ lạ nhất trần gian. Ông không hút như thiên hạ mà đốt thuốc rồi cho khói bay vào lỗ mũi. Ông sợ hít sẽ mau hết. Thiếu đói mà ngay cả điếu thuốc hút xong vẫn lưu lại cái tàn. Có câu đố rằng : “Ba tàn vô một điếu hỏi chín tàn mấy điếu?” ai trả lời ba điếu là sai bét. Phải bốn điếu mới đúng.

      Hùng chung chi qua trạm. Hầu hết bảo vệ là bạn nên chả khó nhọc chi. Khi cho than xuống xe để tập trung vào ga thì sự cố xẩy ra. Đã nói là hàng cấm thì ai có súng trên vai đều có quyền hỏi xuất xứ. Đây là địa bàn hoạt động của Thanh Xuội – và – lạ quá. Chả hiểu sao giờ nầy Thanh không có mặt:

-         Dạ... – Hùng nói – đây là hàng của Thanh Xuội...

-         Thanh Xuội là thằng nào? Không có giấy tờ là tịch thu đó nghe.

    Gì chứ lót tay Hùng cũng biết chút chút. Anh ấn vào tay kẻ có súng ít bạc giấy:

-         Anh thông cảm...

    Kẻ mang súng nhận tiền và bước. Những tay đi ăn lẻ thì xin xỏ chỉ tổ tốn thì giờ vô ích. Họ chịu cầm tiền là tốt rồi. Hùng chưa kịp thở phào và toán bốc xếp chưa kịp đưa than lên xe kéo thì nguyên một tốp khác lại đến. Nguy rồi – Hùng nhủ thầm – cả toán đi truy quét hàng lậu như thế nầy là mất trắng. Lời cảnh báo coi chừng ba ngày tết họ làm gắt lắm đến vào ba giờ sáng thì chỉ có mất sạch:

-         Than của ai đây?

    Hùng không lên tiếng. Họ lôi về nơi làm việc thì bị nhốt là chắc. Anh chạy đến những nơi mà Thanh Xuội tạm đóng đô. Quán bi-a, quán nhậu đều không có. Thời điểm này nếu không ôm gái thì Thanh đang trong sòng bạc. Tay chơi nầy tứ đổ tường chả chi sót. Sư cha nó – Hùng chửi thề - làm ăn chung mà thế nầy thì chết mẹ tao rồi Xuội ơi là Xuội. Hùng săn đến tận sáng nhưng Thanh bặt vô âm tính. Quay trở lại thì tấn rưởi than đã bị di lý về phương trời vô định rồi.

     Hùng ngồi ở sân ga nhìn thiên hạ ngược xuôi với cái bụng đói và chán nản đến cùng cực. Nghĩ đến một gia đình chật vật và tết đang đến. Màu của mùa xuân trong mắt Hùng đen ngòm ngòm như hắc ín. Mua bán kiểu nầy là ra ăn mày chứ bất phú bất phiếc chi nữa trời hỡi. Không một xu một chữ trong tay Hùng lại ra bàn bi-a chầu đồng. Bây giờ Xuội mới ló mặt:

-          Ủa… sao còn ở đây?- Thanh hỏi- không có tao mày không đi được à?

-         Bị tó hết rồi. Ông làm cái con mẹ gì mà bỏ tui một mình? Đù mà… vốn liếng của tui, ông chỉ có cái mạng chia lời mà như củ thìu biu…

-         Tao… tao ghé sòng chơi cho vui ngờ đâu thua quá… tao quên mất…

-         Cái con tườu… giờ tui bó tay luôn. Gia đình tui chuyến này chết vì đói.

   Thanh Xuội và Hùng ghé quán bánh bèo. Gì cũng phải ăn cái đã. Thanh nói:

-         Yên tâm. Tao về nhà chôm chỉa ông bà già cái chi đó kiếm vốn làm lại. Mày có thể kiếm đâu đó chút đỉnh không? Từ đây đến tết kiếm hai chuyến nữa là êm ru bà rù liền. Tin tao đi... buôn bán mất là thường, có gì mà mày bấn lên vậy? Binh gia thắng bại là đương nhiên.

   Nghe nói chỉ hai chuyến khả năng làm lại cuộc đời là có nên Hùng phấn khởi lên. Nhưng mà vốn? Làm sao cho có để hùn hạp đây? Chung chạ là Thanh Xuội không dám sống chết thây kệ. Có hắn là trăm phần thắng lợi. Vốn đâu bây giờ?

     Hùng sực nhớ đến cuốn sổ mua hàng và mười cái phiếu vải.

                                                             ***

    Hùng tính toán rằng muốn lôi mấy cái phiếu và cuốn sổ đi cầm cố thì phải kịch cạc sao cho không ai biết mình mới bị sạch bách. Phải làm sao cho bọn mua bán ở kinh tế mới tin mà bán thiếu cho vài chục ký gạo, chục ký nếp và những cái linh tinh đủ cho ba bữa tết. Phải lôi chừng ấy về nhà tạo niềm tin thì mới mở được cái va ly mà lôi tài sản đi thế chấp. Hùng phải tươi như hoa và bố láo trơn như mỡ để qua ải. Anh ngồi trong quán bánh xèo kiêm tạp phẩm bảnh như công tử:
-         Cho xị rượu sương sương chị Hai.

-         Chà... bảnh dữ Hùng. Buôn bán ngon lành ha?

-         Bảnh gì chị Hai ơi. Chuyến nầy chủ vựa nó thiếu nên kẹt chết bà luôn.

-         Chủ vựa thiếu thì lo gì... chừng nào họ thanh toán.

-         Đi chuyến tiếp lấy luôn.

-         Mày giao bao nhiêu một ký than?

-         Ngàn rưởi.

-         Mẹ cha quơi... lời một ngàn một ký luôn...

     Có rượu vô Hùng mạnh miệng:
-         Chị đong cho tui ba chục gạo, chục ký nếp với ba cái linh tinh... đi chuyến nữa về tui thanh toán luôn được không?  

     Bán thiếu cho dân buôn bán lơn lớn thì ngu chi ta không để mất cái lãi ngon. Với lại chỉ vài ngày và nhà nó đây thì mất đâu mà sợ. Chủ quán đắc co liền. Tất nhiên là giá của thiếu phải khác với tiền tươi. Hùng mượn luôn chiếc xe đạp của chủ quán cho toàn bộ lương ăn dành cho một cái tết thồ về. Ông bà Hiền tin con trai đang ăn nên làm ra nhờ chuyển hướng. Thiên hạ còn tin nói chi hai ông bà già. Vậy là can ke bà già tội nghiệp vắng nhà Hùng mở va ly.

      Hùng cố tài sản cho vợ chồng Liên Thọt. Thọt tuyên bố một tháng mà không chuộc là xem như mất. Ô kê thì nhận tiền. Tại sao có lời hâm dọa nầy? Nếu không cho chuộc và kẻ đứng tên trong sổ không có mặt để ký xác nhận thì làm sao mua được hàng? Chả là Liên Thọt là cửa hàng trưởng mua bán quốc doanh. Hắn mua không được thì cầm cố mà tế à? Hùng đang trong thế tận không đồng ý là không xong. Với lại chỉ hai chuyến là xong thôi mà. Chuộc chứ. Không chuộc lại thì anh không yên với ánh mắt xa vắng của cha, nước mắt của mẹ chưa kể đến các thành viên trong nhà sẽ có thái độ thích nghi liền. Đói còn chịu được với khoai lang củ mì chứ không phiếu vải thì ở truồng là chắc.

        Hai tấn than qua trạm, qua sân ga, lên tàu êm ru nhờ có bàn tay Thanh Xuội. Có đi buôn lậu mới tường tận thế nào là biết sống biết chơi. Mới biết thế nào là sức mạnh của kim tiền. Thuốc lá Samit Thanh trao tay kiểm soát viên cả gói hút cho thơm râu, nhét vào túi anh vài đồng để ăn trưa uống nước... Cái phong cách nầy khó học lắm. Phải từng trãi. Không quen lớn đố ai dám nhận tiền. Hai tấn than là cả một gon tàu mà đến ga cuối mới xé vé thì đủ biết Thanh Xuội uy biết là bao nhiêu.

      Nhưng đến Quảng Ngãi mà Thanh vẫn không cho than xuống:

-         Đi Đà Nẵng luôn.

-         Sao vậy? – Hùng hỏi.

-         Đã Nẵng ngàn rưởi một ký.

   Nghe nói ngàn rưởi Hùng khấp khởi mừng. Cho chi phí hết năm trăm thì lãi ròng năm trăm nhân cho hai tấn thì một chuyến là lên luôn trời đất ạ. Và ngon nhất là kiểm soát viên của tuyến Quảng Ngãi – Đà Nẵng với Thanh như thủ túc mới là trên cả tuyệt vời. Anh ta xé vé Nông Sơn-Đà Nẵng sau khi nhận chung chi. Ông tàu hỏa mất chứ của ai mà bận lòng cho mệt. Đôi bên cùng có lợi chả phải hay lắm ru?

     Tàu vào ga Đà Nẵng lúc bảy giờ tối. Một toán bốc xếp bu quanh gon hàng:

-         Thằng Châu Huế đâu tụi bây? – Thanh Xuội hỏi.

-         Anh Châu ra Huế rồi anh Thanh. Hàng anh em kéo cũng được mà. Giá cả thì như làng chứ có hơn đâu mà anh lo.

-         Rồi... kéo về vựa than trong chợ Cồn cho tao.

    Hai tấn than chất lên bốn cộ bánh hơi. Một kéo một đẩy vào phố. Thuở xe như con xăng như máu phố cũng lù mù. Sang cả lắm mới có đèn bình accu còn lại thì tất tật chìm trong bóng tối. Điện hả? Bốc xếp trả lời rằng - thì có - nhưng cúp một tuần sáu buổi là thường ngày ở huyện nhưng mắt của bọn em là “thép đã tôi thế đấy”. Ra bọn bốc xếp nầy cũng biết Pa-ven Cócsaghin và Tania.

   Giờ này vựa than đóng cửa rồi. Cái gì cũng phải đợi đến mai. Mai thì mai. Nhưng bây giờ phải bỏ hàng xuống để bốc xếp về ga kiếm chuyến khác:

-         Nhưng không thể để đây được. Công an và dân phòng đi tuần là mệt cho mấy anh. Để bọn em đi kiếm nơi tập trung cho. Có gì mai bán xong hai anh bồi dưỡng thêm cho bọn em tí chút.

     Than được tập trung vào sân nhà một bốc xếp. Tất nhiên là Thanh và Hùng phải ngồi lại để trông coi. Bóng tối và sân nhà là nơi tập trung của muỗi. Muỗi ơi là muỗi. Chúng vo ve bên tai như ong vỡ tổ. Cả hai đập riết rồi cũng phải ngủ. Mệt quá mà. Cả một ngày cật lực với tàu hỏa và cộ bánh hơi thì tề thiên còn mệt nói chi người trần. Lúc mệt ngủ ngon lắm. Đỉa hút máu còn không ngại nói chi ba con muỗi nhép. Bẩy giờ sáng bốc xếp lại cho than lên cộ lần thứ hai và kéo đến vựa:

-         Toám trem được thì cân.

   Hùng giật thột. Tám trăm một ký thì có mà đi ăn xin kiếm tiền xe về xứ. Lại kéo đến vựa khác. Từ sáng đến mười giờ trưa qua mười vựa giá chỉ tám trăm không hơn. Thôi thì cân quách cho rồi. Bốc xếp kéo từ ga về vựa, vựa về nhà, từ nhà lại qua mười vựa họ lấy tiền công một ký hai trăm đồng. Lại phải cho nơi tạm gửi qua đêm vài đồng uống nước ăn sáng.

     Cả hai buồn rầu kéo nhau lội bộ ra ga chờ tàu đi cọp. Chao ôi là buồn. Buồn không thể nào hơn. Người yêu đi lấy chồng cũng chưa qua được nỗi buồn nầy. Cái loa ở sân ga thông báo rằng “vì lý do… đoàn tàu chợ đi từ ga Huế sẽ đến ga Đà Nẵng vào lúc hai mươi mốt giờ… xin quý khách thông cảm”. Ừ thì thông. Không thông cũng phải thông. Lại lang thang trên sân ga. Ga Turan lớn thiệt nhưng mà khai ôi là khai mùi nước tiểu. Đói rồi. Khai cũng phải ăn. Ăn cái đã tính sau. Đời còn sống là còn thay đổi. Tiền nay trong tay anh mai vào tay tôi ấy lẽ thường.

      Ăn xong ta tựa vào tường sân ga kiếm giấc ngủ chờ tàu đến.

       Mệt quá – gần tết nên trời lạnh. Hùng vừa ngã lưng đã vào giấc. Và tỉnh dậy không phải tàu mà truy quét tệ nạn đi tuần tra.

       Thanh Xuội và Hùng và nhiều nữa tứ cố vô thân kéo một đoàn về đồn công an. Hùng và Thanh bị hốt về tội để tóc dài. Hippy hả? Ma cô ma cạo sân ga hả? – Một dân phòng gằn giọng.

       Lúc ấy đã là hai mươi bẩy tết.

                                                                  ***

       Hai ngày sau tức hai mươi chín tết Hùng mới về lại Long Mỹ.

       Anh phải náu mình dưới thị trấn chờ đến chiều rồi lết bộ những tám cây số đường để về nhà. Đường về phải qua một con đèo lằng ngoằng những năm trăm mét. Ngồi trên đỉnh ngắm cái thung lũng có mái nhà tranh nơi anh cư ngụ. Ngắm thôi chứ chả cảm nhận được chi với một kẻ thua trận. Hùng cháy túi đúng nghĩa đen của nó. Vào phòng làm việc của công an sân ga bao nhiêu của nả trong túi phải lôi ra trình lên bàn. Bán than xong tiền đã được xé ra làm hai. Hùng một nữa và Thanh một nữa. Nhìn xấp tiền đặt trên bàn, viên công an nói với Hùng:

-         Bao nhiêu đây cũng chưa đủ để nộp phạt cái đầu tóc cao bồi của mày.

     
      Sáng hôm sau anh ta lôi ra một cây kéo và mái tóc của Hùng là nơi để anh ta chơi trò múa kiếm. Sau đó một dân phòng đưa Hùng ra tiệm hớt tóc. Nhìn cái đầu gã thợ nói:

-         Cạo trọc nghe chú mình? Xắp kiểu nầy anh không thể nào sửa được.

    Vừa cạo anh ta vừa khuyên Hùng nên biến đi. Không biến mày bị tống lên Ba-tơ là hết đường về quê mẹ luôn. Tội hả? Tóc dài là bị liệt vô ma cô sân ga, là tệ nạn xã hội... tao nói ít mày hiểu nhiều. Khôn hồn thì biến đi.  

     Lợi dụng gã dân phòng hơ hỏng Hùng đâm đầu bỏ chạy. Chạy được một đoạn thấy không có ai đuổi theo anh ngồi xuống thở và ngộ ra mình ngu. Rõ là họ cố tình gài thế cho mình chạy. Chạy là bao nhiêu tiền xem như mất. Sao mà mình ngu dại quá trời ơi. Không một xu dính túi Hùng ra sân ga chờ tàu đi cọp... Thêm một đêm vật và vật vờ ở sân ga Hùng xơ xác như con gà đá thua trận. Trên đỉnh đèo Long Mỹ vào đêm hai mươi chín, năm nay lại không có ba mươi. Trời đen một màu của bóng tối. Thăm thẳm đen.

     Xuống đèo. Đi thêm ba cây số đường đất. Những căn nhà tranh vách đất của cư dân khu kinh tế hiện ra. Giờ này thì chắc chắn chủ nợ đã cơm no rượu say rồi. Giờ nầy chắc chắn ông Hiền đang ngồi trên võng... nghĩ đến cha, đến mẹ và anh em... nghĩ đến cuốn sổ mua hàng và chục cái phiếu vải Hùng hết muốn về nhà. Anh đứng lại tần ngần một lát rồi ngước nhìn đỉnh núi có tên Hòn Quỳ. Ở Long Mỹ người ta đặt tên núi là hòn. Hòn Quỳ. Hòn Ngang. Hòn Nhọn và Hòn Vàng. Lò than của Hùng nằm ở Hòn Ngang. Đỉnh cao chừng ba trăm mét.

     Nghĩ một lát Hùng quyết định lên lò than ngụ cho qua ba ngày tết. May quá. Dân kinh tế nhà nào cũng có bàn thiên. Bàn nào cũng có vài cây bánh tét để cúng trời đất. Hùng ăn cắp của đất trời ba cặp bánh. Anh lột một đòn bánh rồi nhồm nhoàm nhai. Đói quá mà. Qua một con suối anh dừng lại nghỉ mệt và vục mặt xuống dòng chảy để uống. Đường lên đỉnh cao không hề tăm tối. Trong rừng đêm ánh dạ quang của cây chết lâu năm rực khắp nơi. Đóm đóm lập lòe và tiếng côn trùng rền rĩ dội tư bề. Những một tiếng đồng hồ Hùng mới lên đến lò.

      Nằm trong chòi lá kè che chắn lò than phòng mưa gió, Hùng nhắm mắt nhưng không tài nào ngủ được. Lạ thực. Anh không buồn, không vui, chả còn chi nữa để lo âu cũng không lạ chỗ bởi lò than là nơi thợ rừng ngủ lại thường xuyên. Vậy mà không ngủ được là sao? Lại vô cùng mệt mỏi sau mấy ngày sương gió. Là sao? Hùng chong măt nhìn vào thăm thẳm bóng tối.  

      Có tiếng pháo giao thừa mừng năm mới từ khu kinh tế vọng lên non cao.

                                                                    ***

    
      Hùng tỉnh giấc. Thật lâu anh mới nhận ra mình đang ở lò than. Mặt trời đã xế qua đầu cho hay Hùng đã qua một giấc ngủ dài. Đưa tay sờ cái đầu trọc và anh thèm tắm kinh khủng. Hùng đứng dậy vươn vai, lắng nghe tiếng róc rách của dòng suối chảy bên dưới. Trên đỉnh cao lò than luôn được đào gần suối để tiện sinh hoạt. Hùng lắng tai vì anh nghe có tiếng động như có ai đó đang bên dưới dòng chảy. Ai? Tết nhất lên lò than để làm gì? Khỉ? Cùng có thể. Ba ngày tết rừng cao yên ắng quý vị trở về cũng là có lắm. Heo rừng? Cũng có luôn. Hùng thò tay vào cái hốc nơi anh dấu lưỡi rựa chặt củi. Rựa trong tay, anh nhẹ chân bước xuống dòng chảy. Mới đi được mươi mét Hùng dừng lại vì có tiếng hát vang lên.

    Đó là giọng hát của Hồng Loan.

    Đã lâu anh không gặp cô. Yêu nhau nhưng má cô bảo đã hứa hôn khi má Hùng bóng gió về một nối kết thân tình. Hùng chủ động không gặp cô ít cũng vài tháng. Anh nhíu mày không hiểu cô lên núi làm chi vào cái ngày thiêng liêng nầy. Hùng vọng xuống suối vì e cô đang tắm:

-         Loan hả?

    Bóng hồng hiện ra. Cả mùa xuân nở trên nụ cười của cô.

    Hùng ngồi xuống gộp đá nghe Loan nói. Rằng hôm qua em có gặp anh Thanh. Anh ấy kể cho em nghe chuyện anh bị bắt. Khi hôm em ra sân đứng thì thấy anh đi ngang nhà. Em biết anh lên lò...

      Cô ngồi xuống bên Hùng và chủ động tựa đầu vào vai anh. Hùng thở dài:

-         Bao giờ em lấy chồng?

-         Có đâu… má em nói vậy thôi. Bà sợ em khổ.

-         Thực vậy… ngày mai của anh tăm tối quá.

-         Không đâu mà… không có ngày mai nào tối hết… có nhiều nơi trên thế giới nầy trời vẫn nắng suốt đêm.

NGUYỄN TRÍ

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 941)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 727)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1486)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1587)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1228)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3170)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9943)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16781)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15767)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16207)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1587)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3170)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3124)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5305)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7318)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6665)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 941)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 726)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1486)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2422)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2266)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2509)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2493)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1228)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13620)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29724)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35749)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10863)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12701)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3170)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3340)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3624)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4171)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7859)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7170)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10010)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.