- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,267,020

KHI KHÔNG MÀ GỌI TÊN NGƯỜI

05 Tháng Mười Hai 20188:27 CH(Xem: 2023)

Lac Duong - photo UL
Lạc Dương - photo UL


Những tháng ngày vay mượn

 

Cho em mượn bàn tay
Vuốt ve nỗi nhớ này
Cho em một đêm vui
Mở toang hàng cúc áo

 

Cho em thêm hơi ấm
Một chiều trời chớm đông
Con chim chuyền khản giọng
Trong chiếc tổ mặn nồng

 

Thèm một bờ vai rộng
Đã phai dần tuổi xanh
Những đường gân cảm xúc
Nối liền em với anh

 

Em chìm sâu xuống biển
Anh trôi theo gió mây
Đêm của bao trắc ẩn
Chỉ riêng mình thơ ngây

 

Cho em mượn nhé anh...

 

Nguyễn thị Bạch Vân

 

 

Khi không mà gọi tên người

 

Đôi khi quên nhớ lưng chừng
Quên cầu Phú Hữu đã từng đi qua
Nhớ con đường cũ về nhà
Cầu Ông Nhiêu cổng số ba hở người

 

Đôi khi buồn rách con ngươi
Tìm nhau chỉ thấy biển trời mênh mông
Bây giờ trời đã chớm đông
Đường mưa quận chín còn nồng hơi sương?

 

Dốc Mai chí Thọ có buồn
Bánh xe xuôi ngược anh còn nhớ tên
Ngày xưa hai đứa khùng điên
Đèo nhau đi giữa mưa đêm sài gòn

 

Rượu mời hôm trước còn ngon
Vòng tay đêm trước có tròn đêm sau
Đánh lừa mình vẫn còn nhau
Dù trong gang tấc đã vào thiên thu

 

Nguyễn thị Bạch Vân

 

 

Người ngoại cuộc


Cho em xin tá túc
Trong cuộc đời anh không
Có thể là hạnh phúc
Mà không phải vợ chồng

 

Mai rụng dần từng cánh
Mà xuân vẫn còn xanh
Mùa hạ còn tất bật
Xuân ơi đi sao đành

 

Có thể là chút xíu
Cũng có thể là nhiều
Đêm nằm nghe tiếng gió
Giật mình bỗng đòi yêu

 

Anh muốn em tá túc
Trong cuộc đời anh không
Tình như trò trúng thưởng
Không qua hết một vòng

 

Nguyễn Thị Bạch Vân

 

 

Tạ lỗi mình

Tôi ví dầu tôi, tôi ví dầu
Tự ru mình một giấc thiên cơ
Nửa trăm năm đời còn mê sảng
Mộc đè tôi nửa giấc mộng thơ

 

Tôi tạ lỗi tôi, tạ lỗi đời
Ân nghĩa nào như lục bình trôi
Lời nào đã xót như muối xát
Câu trần tình tôi nói mình tôi

 

Tôi chuộc lỗi tôi, chuộc lỗi người
Chiều trượt chiều đêm trượt về đêm
Bàn chân trần trụi buồn đã mỏi
Máu biết còn đủ chảy về tim

 

Tôi thả đời tôi sông suối ơi
Hồn xiêu phách lạc thoát ngoài ngàn
Nửa trăm năm có là mộng mị
Mây cũng từng tụ đó rồi tan

 

Nguyễn thị Bạch Vân

 


Còn chút gì để nhớ

 

Xoè tay tôi kiểm mất còn
Ai người xưa cũ vẫn còn mới tinh
Xoay đi quẩn lại cũng mình
Ngờ đâu có kẻ vẫn rình rập nhau

 

Đau thì mình cũng đã đau
Tay buông tay giữ xa nhau đã đành
Mưa chiều mấy bận khóc nhanh
Tôi hong khô ướt cũng thành thói quen

 

Tôi dung túng nỗi buồn tôi
Cất vào tâm nhỉ để rồi nhớ thương
Biết đâu đời đã chia đường
Chim bay mãi chẳng biết phương nào dừng

 

Kệ người đi kệ cả tình
Đêm nằm nghe lá trở mình than đau
Rình rập cứ rình rập nhau
Người đi trước kẻ bước sau đều buồn

 

Nguyễn Thị Bạch Vân

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20192:35 CH(Xem: 1023)
Việt Nam cổ thời chỉ được ghi phụ chép trong cổ sử Trung Hoa như các xứ man di phương Nam rồi Tây Nam từng đến xin cống lễ, hay liên quan đến chiến công xâm lược, thực và giá lẫn lộn, của các triều đại—dưới các chiêu bài giáo hóa, phép thờ nước lớn, và/hay chinh phạt. Lịch sử thành văn của Việt Nam thỉ chỉ xuất hiện từ đời Trần (10[20]/1/1226-23/3/1400)—tức Đại Việt Sử Ký (1272) của Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (1230-1322)—nhưng đã tuyệt bản, chỉ còn những mảnh vụn sao chép và sửa đổi theo ý thích của các dòng họ cai trị mà Phó bảng Phan Chu Trinh từng chỉ trích là “hủ Nho” [ultra conservative confucianist].
30 Tháng Mười Một 20187:32 CH(Xem: 3548)
Pétrus Key (sau này trở thành Trương Vĩnh Ký) thường được ca ngợi là một học giả lớn miền Nam. Ông có công quảng bá loại tiếng Việt mới, tức quốc ngữ hiện nay mà các giáo sĩ Portugal và Espania đã sáng chế vào thế kỷ XVII. Tuy nhiên, Petrus Key cũng đóng một vai trò đáng kể trong cuộc xâm lăng Việt Nam của Pháp. Ông là một trong những thông ngôn người Việt đầu tiên hợp tác với Pháp, bên cạnh những giáo sĩ thuộc Hội Truyền Giáo Hải Ngoại đã tiềm phục trong vương quốc Đại Nam từ nhiều thế kỷ.
17 Tháng Tư 20197:44 CH(Xem: 99)
Tám bài thơ viết về Khuất Nguyên hoặc có liên quan tới Khuất Nguyên mà chúng tôi đã/ sẽ khảo sát đều được đại thi hào Nguyễn Du viết khi chu du trên sóng nước Tiêu Tương, vùng Hồ Nam - nơi nổi tiếng với “Tiêu Tương bát cảnh” từng thu hút cảm hứng vô hạn của bao thế hệ văn nhân, nghệ sĩ Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…
17 Tháng Tư 20197:36 CH(Xem: 133)
Sau năm năm tám tháng trong cái án tám năm tù vì tội giết người Sơn trở về xóm nhỏ của mình. Nhà vẫn còn nhưng rêu phong. Những vài năm không người chăm sóc thì cũ như trái đất là phải rồi. Nó phải như một người tù cải tạo tốt thì nhanh chóng trở lại đời thường vì giảm án. May cho Sơn là tay luật sư đã nêu ra những luận cứ hết sức thuyết phục nên chỉ ngộ chứ không cố sát. Anh ta còn khuyên Sơn làm đơn xin kháng cáo. Hy vọng khi phúc thẩm có thể giảm được chút đĩnh nào đó chăng? Nhưng Sơn không. Suốt buổi xử Sơn thừa nhận bằng một thái độ hơn cả hối hận. Cứ như anh ta muốn toà tuyên cho mình cái án tử cho rồi.
11 Tháng Tư 201910:13 CH(Xem: 663)
hoa nở dồn trên sóng \ sóng đập vào thời gian \ tự cái vuông ô cửa \ chợt thấy mình mong manh.
11 Tháng Tư 20199:19 CH(Xem: 485)
Đi từ câu mẹ ru nôi / Em qua trăm nẻo đường đời nắng mưa / Lâu rồi em đã về chưa / Dòng sông vẫn giữ ngày xưa em hiền /
11 Tháng Tư 20198:38 CH(Xem: 648)
Thật ra thì Hiên chưa bao giờ là con nhang đệ tử cửa Phật. Nhưng Hiên rất chăm đi chùa. Mà chả cứ chùa, nghe chỗ nào có đền thờ miếu mạo linh thiêng là mang lễ vật đến. Đến chỗ nào Hiên chỉ cầu xin có một thứ, ấy là tiền.
08 Tháng Tư 201910:51 CH(Xem: 601)
Chiều tiễn anh như chiều tiễn nắng / Nắng vẫn chờ sau liếp hoàng hôn / Sông không chảy để lòng lưu bóng nắng / Và nỗi đau cũng đã hoá tâm hồn
08 Tháng Tư 20199:47 CH(Xem: 461)
Khoảng thời gian ba thế kỉ XVII-XVIII-XIX là thời thịnh của thể loại truyện nôm. Các nhà văn thời này đều có chấp bút và đã lưu lại nhiều tác phẩm văn chương lôi cuốn nhiều thế hệ người đọc. Truyện Phan Trần là một truyện nôm ra đời trong thời kì này, cụ thể là khoảng cuối thế kỉ XVIII, trễ lắm là đầu thế kỉ XIX.
08 Tháng Tư 20199:11 CH(Xem: 628)
"...một người bạn thân thiết nhất, gần như “con chấy cắn đôi”, đã rạn nứt khó có cơ hàn gắn; lạm dụng từ ngữ của giới kinh tế - chính trị, là phá sản! Và sự phá sản đau đớn này, không ngờ lại có liên quan, theo quy luật quả báo của đạo Phật, tới những chùa và biệt phủ ở một tỉnh miền núi vẫn phải xin Trung ương cấp gạo cứu đói..."