- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,459,228

THƠ TRẦN THỊ HẰNG

06 Tháng Mười 20189:21 CH(Xem: 6997)

Trần Thị Hằng 1
Chân dung Trần Thị Hằng - Hà Nội


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Trần Thị Hằng sinh năm 1990 tại Thanh Oai - Hà Nội. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quý bạn đọc và văn hữu những thi phẩm của người làm thơ tuổi trẻ này.
Tạp Chí Hợp Lưu

 

THÀNH PHỐ NGÀY 20

Anh mang gì cho cuộc chiến ngày mai?

Người ta mang gươm và hoa hồng

Vinh quang cho mỗi lần máu đổ

Chẳng ai xem như một trò đùa


Đừng giận em

Đôi bàn tay bé xíu lặng im

Con đường quanh thành phố

Những ngọn đèn phờ phạc đứng yên


Dấu vết loài người

Vệt trầm cổ tích

Chúng mình đi thôi

Bay như cánh chim gọi mùa xa ngái

Ai mang hoa đến đây

Thắp mộ người thắng cuộc

Để viết lời ngợi khen

Những đứa trẻ không quần

Cụ già không khăn

Thành phố vẹn nguyên

Xuống cấp

và lai căng...


Chỉ cho em

Góc nào là thành phố

Em đóng lại cánh cửa

Bấm một ổ khoá

Để thành phố khỏi lang thang

Để lũ chúng mình có nơi tìm về trú ngụ

Chờ lành những vết thương.

 

Trần Thị Hằng


RỪNG

 

Không tiếng chim kêu

Không chân thú dữ

Chỉ loài sâu ẩn mình…

         

Rừng không tiếng bom gầm réo

Không máy bay thả chất độc lụi tàn

Núi vẫn khô

Cây vẫn đổ

         

Có khi nào giận hờn hoang vắng

Bao yêu thương không nổi một lần nước mắt

Chúng mình chọn lặng im

Như con sâu chọn nép mình trong lá

Mong mưa qua

 

Tiếng thét nơi cuối rừng

Của chiếc xe bánh xích

Những người con lương thiện

Bị đẩy vào cuộc chiến mưu sinh

Mồ hôi chưa vơi bàn tay đã rỗng

Ánh sao băng vừa rơi nơi vũng nước

Ai đã vội đặt tên ngọn khói để mơ về trời

Chiếc lều màu cam nằm im

Những thân người đang run

Họ đố nhau về ngày mai

Về những chòm sao chưa bao giờ chạm tới

Và ngủ quên…


Và không biết gì về cánh rừng lặng im

Chỉ loài sâu đêm gặm thầm giọt mồ côi trên lá

 

Ngày tháng năm nào đó

Nơi đây đã là cánh rừng

Cho loài chim di trú hót mừng buổi sáng đầu tiên

 

Ai đã chọn hàn gắn bằng nước mắt

Rừng hàn gắn bằng nước lũ

Khi cuốn trôi tất cả

Chúng ta ngang nhau ở điểm khởi đầu

 

Bầy kiến đỏ đen mải miết dắt nhau tìm cỏ mật

Em đừng quên

Những lần nguyện cầu

Những giờ nước mắt

Để mình ăn năn.

 

Trần Thị Hằng

 

 

 

DẬY ĐI

 

Dậy đi

Chúng ta ngủ quá lâu rồi

Trên thềm đầy hoa

Khúc nhạc

Lời ca

Người ngủ vùi không nghe được

Dậy đi

Thềm hoa đầy bóng nắng

Gay gắt ngày

Bức phù điêu thời thượng cổ

Bức tranh tình mẫu tử

Mắt sáng mặt trời quờ quạng đêm

Dậy đi

Ánh trăng nào cũng sáng

Ai về từ phía hoàng hôn.

 

Trần Thị Hằng

 

 

 


 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2397)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6336)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3268)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
23 Tháng Sáu 202011:48 CH(Xem: 613)
tôi không một mình / thật ra có nhiều người quanh tôi / thậm chí có người luôn bên cạnh săn sóc tôi / nhưng tôi nghĩ đến anh, trong giấc mơ
10 Tháng Sáu 20205:57 CH(Xem: 851)
Tôi không biết nói thế nào về nỗi buồn / Dưới từng lỗ chân lông có một đàn kiến đói / Ăn ăn ăn / thân xác tôi tê mỏi / Chiếc linh hồn đau nhói giữa cơn mê /
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 654)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 815)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 714)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 921)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 930)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.