- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,468,109

CHÂN KHÔNG

28 Tháng Tư 20163:00 CH(Xem: 11212)

2514223_Tangoulis-Misty-Scapes-13-710x710
Ành- Vissilis Tangoulis





Chúng đang tiêu đi.

     Nhà của tôi. Cái cơ ngoai sáu tầng, với vườn tược, bể bơi, những gian kiến trúc Tây Âu, phòng để sách, rượu, đồ cổ…biến mất dần như bị nung chảy. Cái bể cá ở phòng khách đã không thấy nữa. Cũng trong phòng khách, tôi không còn thấy cặp sừng voi Tây Tạng, bộ lông Bạch Hổ trải lót sàn. Những chai rượu rắn hổ, bò cạp rỗng ruột. Một ít chai thì còn lưu lại một mẩu da rắn, hoặc một, hai cái chân rết. Nửa giây khi con mắt tôi nhìn vào, số tàn vật biến mất. Một ngày sau, tôi không vào được phòng khách vì cái cầu thang uốn hình xoắn ốc đã bị tiêu mất. Chỉ còn lại một khoảng trống lớn và xa giữa nơi tôi đứng và phòng khách. Tôi đoán rằng cũng chẳng còn gì thừa lại trong phòng khách. Mấy ngày trước tôi không còn nghe thấy tiếng xòe đuôi của con công trắng mua từ Pardubice. Con công vẫn ngoài vườn. Vẫn đi lại, vẫn ăn được thóc ngô, uống được nước. Nó không xòe đuôi nữa vì bộ lông vũ đã trụi sạch. Con công đi lại, ngúc ngoắc cái đuôi cụt ngủn trong bất lực. Đám giúp việc nhà tôi chẳng còn ai. Bọn chúng hoặc xin nghỉ, hoặc đã lén lút trốn mà không cần nhận tiền công. Một vài đứa hỏi tôi về bạn của mình. Tôi nói không biết. Lúc này đây, vách tường phòng đồ cổ bị khoét một lỗ lớn. Dưới đất không thấy vỏ tường, bụi dính lại. Nó đang bị tiêu đi.

     Đứng bên ngoài nhìn, nhà của tôi vẫn vậy. Còn khang trang, rộng lớn, toát vẻ khí phái. Tầng bốn đã bị tiêu hết. Chẳng còn tường, nóc hay mặt sàn. Lúc mở cửa phòng, chỉ thấy một khoảng không rỗng hoác. Từng có lần tôi vấp ngã và lộn cổ xuống tầng dưới. May sao tôi ngã đúng vào cái đệm. Tôi không biết nhà mình bị thế từ bao giờ. Thoạt tiên, tôi chỉ thấy mất đi mấy món đồ cổ, chậu hoa cảnh. Rồi những vật dụng mất đi. Phòng tranh ở tầng bốn chỉ còn trơ khung. Sơn dầu, Phố Phái, Dã Thú rồi Salvador biến mất một cách quái lạ. Tôi không nghĩ là có trộm vì camera vẫn hoạt động. Mở các đoạn phim, tôi được thấy tường tận. Một trong các đoạn phim ghi lại việc cái bình gốm thời Gia Long biến mất. Cái bình trong tủ kính chống đạn, có khóa mật mã. Không thấy một bóng đen khả nghi. Rồi thì, chiếc bình tan đi một nửa. Một chốc sau, nửa còn lại cũng tan biến theo. Thước phim được chiếu đi chiếu lại cả chục lần. Và vẫn thế. Từng món đồ cổ đều tan rữa vào hư không theo cách như vậy. Sau này, tôi không xem lại phim trên camera. Những món đồ đã bị cái gì đó hút mất ư? Không có một tên đạo trích nào. Tôi nghĩ về một loại mối phàm ăn có bộ hàm thép đang trú ẩn nơi nào đó trong nhà. Đoạn phim trên camera đã xóa bỏ giả thiết đấy. Không có con vật nào. Chỉ có sự tiêu biến vào cát bụi.

     Vách của từng phòng bị mòn đi và tiêu biến mất. Cái bể bơi bị rút cạn nước, khu vườn sau nhà cũng trơ trụi như mả đất hoang.

     Tôi phải đi rất cẩn thận vì bất cứ lúc nào cũng có thể mắc chân vào một lỗ thủng dưới sàn. Vết hổng nhỏ thì chân tôi bị tụt xuống, lớn hơn thì nửa người kẹt lại như sa xuống đầm lầy. Những vụ tiêu biến vô tăm tích vẫn như vậy. Kéo dài, và thường xuyên như một thời gian biểu. Tôi gọi một số người đến chơi. Bọn họ được tôi kể về cái nhà mình. Chẳng ai tin. Lúc nói về những hốc thủng quanh nhà, họ cười và bảo tôi có sở thích quái gở. Ngày hôm sau, đám người đã đi đâu mất. Gian phòng nơi đám người ngủ qua đêm, đã bị tiêu đi mất. Bên ngoài nhà vẫn thế. Thật quái lạ khi nhiều tầng nhà đã bị tiêu đến mức trở thành một cái khung. Vậy mà nhà tôi chưa nghiêng, chưa sập chỗ nào. Nhìn vẫn rất vững trãi.

   “Từ lúc nào?” – Tôi tự hỏi, tự nói, rồi trả lời bằng chính câu đấy. Tôi nằm ở tầng một, và nhìn thẳng được lên tầng ba. Sàn đá hoa bị thủng lỗ chỗ. Không một viên gạch nào rơi xuống, cát cũng thế. Nhìn những góc tủ bị gặm thủng, còn chẳng thấy mạt gỗ hay mùn cưa. Đường ống nước, điện đóm vẫn ổn định. Lúc mở vòi, nước vẫn chảy. Thoạt tiên nước chảy bé, rồi chỉ vài giọt rỉ ra. Mở vòi cả ngày, số nước rỉ còn chưa làm đầy một bát cơm. Đường ống không trục trặc gì, chỉ là vặn không ra nước. Tôi đoán mạch nước ngầm nhà tôi bị ứ đọng, hoặc thoát đi đâu đấy. Có thể lắm, nếu nghĩ số nước ngầm đã tiêu biến, như nhà của tôi giờ đây. Ánh sáng có thể đi qua một lỗ nhỏ trên tường và dùi đến tận móng nhà. Nếu tôi nằm, ánh sáng sẽ đâm thẳng và lột con mắt đang khép lại của tôi bằng luồng nhiệt nóng bỏng. Mười hai giờ trưa, nhà tôi như một cái lò lửa. Vô vàn tia nắng đâm xen kẽ nhau, kéo vào nhà. Vì chẳng còn vật dụng nào nên tia nắng chiếu thành đường thẳng, từ nóc tầng sáu xuống nền tầng một. Tôi bị bủa vây bởi các đường sáng. Nắm lấy một viên gạch lót nền để đội lên đầu thay mũ. Một tíc tắc, viên gạch tan mất như bọt xà phòng.

     Tổng thể nhà vẫn vững như bàn thạch. Tường nhà lõm sâu như dính phải Acid đậm đặc. Lần này tôi thấy rõ, sự bào thực rất nhanh và theo từng khắc. Cái két của tôi đã bị tiêu hết sắt thép, nắm kéo cửa. Ngay đến một cái đinh ốc cũng chẳng rớt lại. Riêng số đô la, vàng, tiền mặt và cổ phiếu là còn. Thế cũng là may vì tôi có thể mua nước, đồ ăn hay cái ra giường để nằm tạm dù biết chắc chúng sẽ tiêu biến đi.

     Tường nhà mỏng tang như làm bằng giấy. Một mũi kim nhỏ cũng có thể đâm xuyên thấu tường nhà. Chạm tay vào, toàn thể nhà ngả nghiêng. Một cơn gió nhỏ cũng có thể cuốn nhà tôi sang phương Bắc. Ấy thế mà nhà tôi vẫn chưa bị kéo sập, chưa bị thổi mất dù lúc này nó chỉ còn là một cái khung rỗng. Mái nhà chưa tiêu mất. Nó còn lồ lộ trên đầu tôi, nhưng nếu có nắng, có mưa thì tôi chẳng tránh đâu được. Lúc sấm sét, tôi cảm thấy như bị đánh ngay bên tai. Tôi còn nhìn thấy ánh sét ngoằn ngoèo in trên mái nhà. Hệt như vốn trên mái đã có hình vẽ ánh sét, và vô tình luồng sét đánh đấy ướm đúng vào hình vẽ. “Mái nhà làm bằng thứ nguyên liệu trong, bằng phalê, thủy tinh siêu bền hoặc băng hàn ngàn năm…” – Tôi tự lẩm bẩm nhiều lần để sáo ngôn ăn thẳng vào trí não, trở thành tượng hình. Dù thế, nửa não bộ của tôi vẫn biết mái nhà được làm bằng ngói, bê tông loại một.

     Nhân viên đưa cơm đến nhà tôi. Hắn chưa kịp lấy tiền hàng thì nửa bên người của hắn bị ăn cụt vào khoảng không. Chẳng có máu, thậm chí nửa còn lại chẳng còn lộ ra xương, thịt đỏ hay ngũ tạng. Phẳng lì, nhẵn hín như mảnh giấy. Tôi nhét tiền vào tay bên kia. Tập tiền rơi xuống. Nửa còn lại bị mòn dần đi. Và trước mắt tôi là cái đầu với một mẩu cổ lơ lửng. “Này!” – Tiếng gọi quá muộn. Cái đầu cùng mẩu cổ tan phụt đi. Thùng đồ ăn đóng hộp, nước khoáng lăn lóc dưới nền đất đã tróc hết gạch. Tôi cúi nhặt. Vì quá đói nên tôi chẳng buồn tìm bát hay đũa. Tôi bốc ăn. Mỗi chai nước, tôi nốc cạn bằng một hơi.

     Tôi gọi cho siêu thị để mua thêm hàng vì số thức ăn còn dư không thấy đâu nữa. Tôi ăn chưa hết. Chúng bị tiêu đi rồi.

     Vào đúng giờ đấy, cả một đoàn người nối thành hàng đi vào nhà tôi. Cũng như tên nhân viên nọ, bọn người này không lấy được một đồng nào của tôi. Từng kẻ bị tiêu biến cùng lúc. Ngay cả khi bọn họ chen chúc nhau và làm cửa ra vào như muốn vỡ tung ra, thì cũng chỉ mất vài giây để tiêu biến mất. Họ như những nét mờ vẽ từ bút chì, bị một cái tẩy loại tốt chà vào là trắng xóa. Mười thùng đồ hộp, mười thùng mỳ gói, hai mươi thùng nước. Lúc đếm lại, tôi thấy mất đâu ba thùng. Đếm một lần nữa, chỉ còn đúng mười thùng, cả nước lẫn đồ ăn.

     Tiêu biến.

   “Chó thật!” – Tôi ăn nhồm nhoàm, phồng cả hai má, thậm chí chẳng thèm bóc vỏ. Nhiều khi, tôi gặm một mẩu mỳ sống và phải nhổ ra bằng hết. Trong miệng tôi, chỉ là vỏ gói mỳ. Đến gói phụ gia cũng chẳng có. Mở chai, thì nước cũng bị tiêu cạn đi. Gạch nhà đã chẳng còn một viên. Chỉ còn cát vữa, và hàng chục chồng ngoại tệ, vàng thỏi và thẻ tín dụng. Số của cải dày đặc, lớp này chồng lớp kia và ngổn ngang quanh tôi. Tôi không nhai được thứ nào.

     Tôi ở tầng một và nhìn lên tầng trệt. Mọi kiến trúc nhà đã bị chảy thành bọt khí. Đến mấy bậc thang để bước lên, nhằm bám nhảy lên tầng trên cũng không còn. Nhìn ra ngoài. Không thấy vườn, bể bơi hay hàng rào. Mọi vật trơ trụi, tan tác như vừa trải qua địa chấn bom và bị sa mạc hóa.

     Tranh ảnh, giấy báo, sách vở hoặc một bộ áo quần để đắp lên người thay chăn cũng không còn nữa. Người tôi lem luốc và hoàn toàn trần truồng. Đói, khát, và vẫn sống khỏe re. Đi lại trong nhà, lúc nào tôi cũng vấp chân phải một miếng vàng, bó đô la và ngã sõng soài.

     Miếng đất ngoài vườn chẳng gieo nổi mầm cây nào. Đến một nhánh cỏ dại cũng chẳng thấy mọc. Không còn mạch nước dưới đất. Dưỡng chất từ đất có khi cũng bị tiêu cạn. Long mạch nhà tôi đã vỡ, hay bị cái gì đấy ăn nhẵn. Cái gì đấy, đó là gì, cái thứ chó đẻ nào, thứ ngoại lai với cái miệng tổ bố…Điều gì đã ăn tiêu đất tổ nhà tôi. Người vợ của tôi đã bị tiêu đi từ lâu. Đứa cháu tôi cũng thế. Bọn người làm, rồi đám bạn hữu của tôi…Cũng tuần tự bị ăn tiêu như vậy. Bọn họ hoặc bị tiêu liền theo phần nào đó trong nhà, hoặc bị bã ra ngay trước mặt tôi. Tôi thò tay, và không cứu được. Những người đấy, như một cốc nước bị nung dưới ngọn lửa trăm độ. Hóa hơi dần dần. Và hóa hơi hoàn toàn. Chẳng còn gì ở họ, ngoài những ký ức đang dần chết đi vì sự suy yếu trí nhớ lúc tuổi già. Tôi không bị tiêu. Tôi sống sót. Chỉ mình tôi còn lại và tạm bợ trong cái lõi nhà bị tiêu rỗng đến tận đáy.

     Miếng nước còn sót lại trong mảnh sành sau cơn mưa ngấm phụt như bị hớp mất. Tôi văng mạng, chửi thề, chửi lớn, chửi to và nguyền rủa, cũng thật to. Điện đóm chẳng còn nữa. Bấm máy điện thoại, còn không nghe thấy tiếng tút tút. Nhà tôi. Ngày cũng như đêm. Chẳng sáng, chẳng tối. Trông loạng nhoạng, lòe nhòe. Chả ra âm mà cũng không ra dương. Nhìn lên, vẫn thấy mái nhà. Nhìn từ ngoài, vẫn thấy sừng sững cái cơ ngơi hoàng kim của nhà tài phú hào hoa-Tôi.

     Không còn gì để tiêu.

     Tôi chỉ tay. Chỉ thẳng ngón tay. Chỉ phía này, phía nọ, bên này, bên kia. Tôi lại nguyền rủa, rồi tôi cười. Tôi đi lại, đạp vào tường, chẳng đổ. Dẫm xuống đất, cũng chả lún thêm. Vàng, đô la, ngoại tệ vẫn lúc nhúc dưới chân tôi. Chúng nhiều lên phải không? Bới chỉ thấy tiền vàng. Những khối vàng, hàng tầng lớp đô la, khế ước luôn bền bỉ theo thời gian và chẳng tiêu biến dù tôi có xé nát, đập vỡ hay nuốt vào bụng. Không có ai ở đây cả. Bửa đầu mình, tôi mơ hồ nhìn thấy họ. Rồi từng dư ảnh bị nhai cụt. Nghĩ, thấy, rồi bị tiêu đi. Lại nghĩ, lại thấy, rồi lại bị tiêu. Tiếp tục nghĩ, tiếp tục thấy, rồi tiếp tục bị tiêu…

     Trong lúc bới đất, chân tôi vấp vào khối tài sản kếch xù không cách nào xóa sổ. Vấp ngã, tôi lăn lộn và rơi tõm xuống tầng tầng lớp lớp tài sản. Chẳng còn nhà cửa, đất đai gì sất. Tôi ngoi lên, rồi vấp khi nhoài người. Giờ đây, tôi bới, đào. Mười ngón tay tôi hóa nhọn và sức mạnh như bộ vuốt chuột chũi. Hốc phía dưới mở ra, đùn lên cơ man biết bao nhiêu tiền vàng, ngoại tệ, những cổ phiếu rớt giá cùng vạn vạn thỏi vàng, bạc kim cương hình quỷ đầu sừng. Không hề có đất hay bùn, chẳng mạch nước. Tất cả là của cải và tôi lún sâu xuống. Tiếp tục đào. Đây, cái mộ lớn chưa tận đáy. Tôi chạm trổ tên mình như thế.

 

 

TRU SA

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2746)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6707)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3545)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 560)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 272)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./
23 Tháng Sáu 202011:48 CH(Xem: 1325)
tôi không một mình / thật ra có nhiều người quanh tôi / thậm chí có người luôn bên cạnh săn sóc tôi / nhưng tôi nghĩ đến anh, trong giấc mơ
10 Tháng Sáu 20205:57 CH(Xem: 1349)
Tôi không biết nói thế nào về nỗi buồn / Dưới từng lỗ chân lông có một đàn kiến đói / Ăn ăn ăn / thân xác tôi tê mỏi / Chiếc linh hồn đau nhói giữa cơn mê /
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 1007)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 1168)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 1097)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở