- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NGÔI NHÀ CÁNH CỬA KHÔNG BAO GIỜ KHÓA

18 Tháng Mười 20151:00 CH(Xem: 62069)

 

PhamHoaiNam 4
Thiếu nữ- ảnh Phạm Hoài Nam













 

LTS: Minh Lâm đang làm việc và định cư tại "Thung Lũng Điện Tử" - San Jose, lần đầu cọng tác cùng Hợp Lưu. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu truyện ngắn đầu tiên của Minh Lâm: " Ngôi nhà cánh cửa không bao giờ khóa"

TCHL

 

 

Ngôi nhà hai tầng xây bằng gạch nằm trên ngã tư con lộ có những con đường song song một chiều chạy ngang qua một khu dân cư nằm ngay downtown, và phía bên kia mặt đường là những tòa nhà thuộc khuôn viên trường đại học San José State. Tầng dưới ngôi nhà trước kia là một tiệm bán quần áo, bây giờ là một quán ăn do một người Việt Nam làm chủ. Lối dẫn lên tầng hai là một cầu thang nằm bên ngoài có cánh cửa gỗ không bao giờ khóa.

Lần đầu tiên đến ngôi nhà này cách đây hơn một năm, tuy bề ngoài đã được sơn phết trông có vẻ bề thế trước mặt tiền của một quán ăn, nhưng khi bước lên tầng hai gian phòng cho thuê, Khang lấy làm lạ trước cái vẻ xập xệ gần như là một căn nhà bỏ hoang đã lâu năm. Gian phòng khách vuông vắn nằm phía trước khá rộng, bốn bức tường vây phủ kín bưng, màu sơn đã tróc lở những mảng đen ố như chưa bao giờ sơn phết lại lần nào. Sàn nhà bằng gỗ lót thảm màu huyết dụ đã ngả màu đen xỉn bám đầy bụi đất, và không biết bao nhiêu vết giầy đã giẫm lên, vết ói mửa, thức ăn đổ xuống từng mảng đen bám khắn; mùi ẩm mốc bốc hơi thum thủm. Căn phòng khách khá sáng nhờ khuôn cửa sổ lớn áp kính, hai bên có cánh cửa nhỏ hé mở được để mang luồng gió bên ngoài thổi vào. Đứng gần cửa sổ Khang có thể nhìn thấy rất rõ quang cảnh bên ngoài. Đối diện căn nhà là tiệm bán sách cho sinh viên. Xa xa dưới lùm cây xanh rậm là khu nội trú của sinh viên. Phía dưới giữa ngã tư con đường xe cộ qua lại ngày đêm, và hai bên lối đi rộng chạy dọc theo con đường nhiều người đi bộ qua lại. Thỉnh thoảng có vài chiếc xe bus đi ngang qua đón khách dọc đường. Phòng khách không có đồ đạc, chỉ lèo tèo vài chiếc ghế xếp cũ kỹ dựng sát bên tường. Một căn phòng hoàn toàn thiếu tiện nghi. Phía sau ngôi nhà là gian bếp chật hẹp, một phòng tắm, nhà vệ sinh, và một phòng ngủ. Ở sau gian bếp có cánh cửa gỗ đã mục nát có một cầu thang bằng gỗ ọp ẹp dẫn ra phía sau bãi đầu xe chung với một dãy nhà trọ, một nơi duy nhất thoáng rộng khi được bước ra khỏi căn nhà hít thở được bầu không khí mát mẻ.

Đến chơi nhiều lần, Khang mới khám phá lý do tại sao anh Hàn Phong lại chọn căn nhà này làm nơi trú ngụ. Lý do đơn giản: anh muốn gian phòng khách rộng, phần lớn anh dùng để làm việc hằng ngày. Anh thích cái vẻ cũ kỹ, xập xệ của nó vì thích hợp công việc của anh. Người ta thường gọi anh là họa sĩ, dù chưa thành danh, anh vẫn miệt mài làm việc và sống bằng nghề vẽ quảng cáo. Anh không đủ tiền để thuê hết căn nhà, phía sau gian bếp người chủ nhà thuê lại cho người khác, thông thường chẳng ai ở lâu, họ đến rồi đi, đi rồi đến, ngôi nhà luôn luôn có người ở. Dù nó trông đã quá cũ kỹ, nhưng khi cần có một chỗ ở tạm, giá rẻ, chẳng ai màng đến cái vẻ bề ngoài xấu xí của nó.

Khang biết anh Hàn Phong trong cùng một giòng chảy của số phận và định mệnh. Năm 1979, phong trào vượt biên lên đến đỉnh cao, giữa bối cảnh tình hình chính trị bất ổn vùng biên giới phía bắc Việt Nam, một số người Việt gốc Hoa ồ ạt ra đi kéo theo một số người muốn trốn thoát cảnh nghèo khổ ra nước ngoài sinh sống, họ làm giấy tờ giả hòa vào nhóm người Hoa được điểm danh bước xuống con tàu đánh cá chở hàng trăm mạng người ra khởi trực chỉ sang Hồng Kông. Đêm ấy, Khang từ giã mẹ chàng, lòng tràn ngập cảm xúc chênh vênh trước khúc quanh đổi đời mà Khang chưa bao giờ mong đợi sẽ xảy ra. Trước phút chia ly, Khang biết từ đây phải rời xa mảnh đất nơi mình đã gắn bó thời thơ ấu đến lúc trưởng thành, bỏ lại sau lưng những hình ảnh in sâu vào trí nhớ những nỗi ám ảnh sợ hãi của một thời chiến tranh. Mặc dù gia đình Khang khá giả, nhưng cuộc sống sau năm 1975 đã ảnh hưởng chung vì bối cảnh xã hội đã thay đổi. Cha Khang bệnh nặng, người bác sĩ chữa bệnh cho ông đã ra đi nước ngoài, và thuốc men trở nên ngày càng khan hiếm, ông chịu đựng căn bệnh đau gan ngày càng trở nặng rồi qua đời ít năm sau đó. Là một thanh niên ở lứa tuổi lao động, Khang phải tìm một công việc để làm, nhưng thời ấy làm gì có công việc tư để làm, hầu hết các xí nghiệp đều do nhà nước quản lý, vì thế Khang phải theo mẹ ngày ngày ra vườn rẫy ở ngoại ô thành phố Nha Trang để cuốc đất giả dạng nông dân để che mắt cán bộ phường khóm. Thật ra mẹ Khang muốn ngụy trang tìm một chỗ để chôn vàng vì sợ chính sách đổi tiền của nhà nước. Mẹ Khang đang tìm đường vượt biên, nhưng vì bà nội Khang tuổi già sức yếu nên bà bỏ ý định vượt biên. Nay nhà nước tổ chức đi bán chính thức, Khang may mắn mua được một chỗ ngồi trên chiếc ghe. Dù muốn hay không, định mệnh đã đẩy Khang trôi lênh đênh vượt trùng dương đi tìm một bến bờ xa lạ khác mà trong ý nghĩ lúc ấy Khang chưa dự đoán được cuộc đời của Khang sẽ đi về đâu?

Đứng ngơ ngác nhìn những người xa lạ với đống hành lý chen chúc chờ điểm danh, Khang bất chợt nhìn thấy bóng dáng một người đàn ông có khuôn mặt sáng láng, đôi mắt toát ra vẻ ưu tư, trầm lắng qua đôi kính cận dày, với cái túi xách tay đựng quần áo đeo trên vai, và một tay khác xách một cái túi vải dài cuộn tròn không biết đựng thứ gì trong ấy. Cái phong cách trí thức khiến anh nổi bật giữa đám đông ngồi bên đống hành lý chờ đợi phút giây lên đường khiến Khang chú ý. Và chính cái hình bóng ấy Khang liên tưởng đến các thầy cô, anh chị một thời áo trắng sinh viên giữa sân trường lớp học miền Nam trước năm 1975, nó vẫn còn in sâu trên vầng trán những suy tư thao thức thời cuộc, những ước mơ khát vọng về tình yêu, quê hương đất nước, giữa hiện thực và ý tưởng tự do đi tìm sự giải thoát, hướng tới một chân lý cho một niềm tin họ đã chắt chiu, ôm ấp. Anh đứng lặng im như chiếc bóng buồn bã và cô đơn. Khang không biết anh đang nghĩ gì trong lúc chiếc ghe đang chuẩn bị ra khơi.

Khi đến trại tỵ nạn, Khang biết anh Hàn Phong nhiều hơn qua lời kể của một người cùng quê. Anh mồ cô tự nhỏ, cuộc sống anh trong sạch, làm nghề gỏ đầu trẻ trong ngôi làng anh sinh ra và lớn lên. Anh đam mê hội họa, ngoài giờ dạy học, anh dành hết thời gian để sống với niềm đam mê của mình. Anh chấp nhận cuộc sống đơn giản, chẳng màng đến vật chất và danh lợi để hòa mình trong cái không khí thanh bình nơi làng quê có những mái đầu tóc xanh và đôi mắt ngây thơ của đám học trò ngày ngày đến lớp nghe anh giảng bài. Đứng trước bảng đen, anh cầm sách đọc từng câu chữ mang hình ảnh của một đất nước thời thanh bình xinh đẹp, tiềm năng tương lai giàu có : quê hương ta rừng vàng biển bạc. Anh gieo vào đầu tuổi thơ câu nói sáo ngữ ấy như chính anh được học từ nhỏ. Nó đã được lập lại từ chính cửa miệng anh. Anh vốn ghét bọn nhà giàu khinh khi kẻ khốn cùng. Sau 1975, anh chứng kiến cảnh người giàu đang từ từ bị “hủy diệt”, mọi người sẽ trở thành bình đẳng sống cuộc sống nghèo khó như nhau. Đất nước đang lâm vào cảnh khốn khổ vì người nghèo ngày càng nghèo, người giàu không còn chỗ đứng trong xã hội đành phải tìm cách ra đi. Để đánh đổi điều đó, họ phải cống hiến tài sản và vàng bạc. Nếu ra đi không được chấp nhận họ sẽ mang tội danh phản quốc. Anh không nghĩ mình đang phải có một sự lựa chọn ở lại hay ra đi khi người cậu nhắn tin gấp bảo anh vào Nha trang để làm thủ tục vượt biên bán chánh thức. Cậu anh bảo:

- Cậu muốn con phải ra đi. Đây là cơ hội duy nhất không có lần thứ hai. Tùy con. Cậu không ép buộc.

Im lặng quay trở về làng, anh thao thức suy nghĩ suốt đêm trước một quyết định trọng đại của cuộc đời. Đêm cuối cùng trước khi cuộc hành trình bắt đầu, anh xuất hiện trước cửa nhà cậu với cái xách tay đựng vài bộ áo quần và một cái túi vải cuộn tròn trong ấy anh cất giữ những bức tranh do anh vẽ bằng chính tâm huyết của mình qua hình ảnh Quê Hương của anh. Anh xem nó là vật quý giá anh phải mang theo. Khi người cậu phát hiện những thứ lỉnh ca lỉnh kỉnh ấy, ông giận dữ bảo :

- Này! Con có điên không? Vác ba cái thứ lỉnh kỉnh ấy làm gì cho nặng nhọc. Phải chi vàng bạc gì cho cam.

Anh tái mặt trước câu nói đầy vẻ khinh miệt của “bọn nhà giàu”, những người chỉ xem trọng vật chất, thiếu sự suy nghĩ chiều sâu của tâm hồn. Anh buồn vì người ấy chính là cậu ruột của mình. Anh im lặng trầm tư trước cuộc sống mà con người cố phấn đấu để tranh dành sự sống còn trên bước đường mưu tìm hạnh phúc. Tất cả đều phải trả một cái giá nào đó trước khi nhận lãnh sự thưởng phạt công bằng của quy luật con người và trời đất. Anh mỉm cười không còn băn khoăn, buồn tủi nữa.

Khi chiếc ghe lênh đênh giữa một màu xanh mênh mông biển trời, mọi đường ranh giới bị xóa mờ. Ý thức trong anh là hình tượng một trái tim rực lửa đốt cháy hết thảy cát bụi, rác rưởi làm hoen ố sự trong sạch của đôi mắt và tâm hồn. Anh nhìn về viễn ảnh tương lai trên một mảnh đất bên trời viễn Tây sẽ đón nhận những kẻ “khốn cùng” tìm một nơi chốn an bình để dung thân. Anh nhìn sau lưng hình dung những khuôn mặt bạn bè, người thân còn ở lại sẽ kinh ngạc khi thấy anh biệt tích. Đám học trò ngơ ngác không còn nhìn thấy anh đến lớp đứng giảng bài và kể chuyện cho chúng nghe. Tất cả đã khép lại như bức màn đêm buông xuống phủ chụp một không gian khuất mờ. Còn lại trong anh chỉ là giấc mơ hoài niệm chất đầy yêu thương nhung nhớ một bóng hình Quê Hương xa cách.

Khi chiếc ghe chao nghiêng anh vô tình đánh rơi cuộn vải chứa đầy những hình vẽ Quê Hương rơi xuống biển. Con sóng ập tới đã cuốn tất cả chìm đắm trong dòng nước trôi đi thật xa. Anh đứng ngẩn ngơ nhìn theo nó từ từ biến mất. Anh không còn giữ được gì ngoài hai bàn tay trắng. Một trái tim hoang vắng, cô đơn.

Đến trại tỵ nạn,anh quen biết nhiều người, những người bạn luôn ở bên cạnh kể cho anh nghe về cuộc đời thăng trầm trước thời cuộc biến đổi, ảnh hưởng đến số phận và định mệnh của con người. Câu chuyện hôm qua, những người đã nằm xuống cho cuộc chiến, những kẻ ở lại học tập trong lao tù cộng sản, những kẻ tìm đường vượt biên, biết bao câu chuyện thương đau mà những kẻ bất hạnh đã phải đánh đổi bằng chính sinh mạng của mình. Anh ngồi giữa đám bạn bè quay quanh kể chuyện bên những ly rượu nồng cay đầy ấp tình người tha hương. Anh không thích uống rượu, nhưng khi cầm ly anh uống đến giọt rượu cuối cùng. Bạn bè rất yếu mến anh, họ khắng khít bên nhau trong những chuỗi ngày ngắn ngủi sống trong trại tỵ nạn chờ ngày đi định cư.

Anh đến Mỹ sống ở một tiểu bang miền Bắc được một năm sau thì tìm đường bay sang Cali. Đến thành phố San José anh tìm một chổ ở tạm trên căn lầu tầng hai xập xệ đổ nát này và quyết định ở lại nơi đây làm việc sinh sống. Hồi mới gặp lại nhau lần đầu, anh vui mừng cho Khang địa chỉ nơi anh trú ngụ. Khi Khang đến căn nhà trống vắng, lạnh tanh, cửa luôn luôn mở toang, và không có anh ở đó. Hôm sau Khang trở lại vẫn không thấy anh, ngồi chờ mãi vẫn không thấy anh về khiến Khang nản chí. Đến nhiều lần như thế Khang mới “bắt” được anh bèn hỏi :

- Anh vắng nhà sao không khóa cửa.

Anh cho biết ngôi nhà cánh cửa không bao giờ khóa. Gian phòng khách rộng là giang sơn của anh. Phía sau căn bếp, phòng ngủ, phòng bath room đã có người ở. Họ đi suốt ngày đêm mới về. Còn anh cũng thế, đi đi về về trên những chuyến bus đến những nơi anh cần đến. Khi ở nhà là lúc anh bắt đầu làm việc. Trên mặt thảm lót đầy những giấy báo, lọ sơn, cọ vẽ. Anh đứng, ngồi, nằm, lăn lộn xuống sàn nhà chăm chú làm việc. Anh ăn uống vội vã, mì gói, tương chao, chẳng màng đến cao lương mỹ vị. Tối nằm chui mình trong cái túi ngủ sleeping bag khi trời lạnh; mùa hè anh mở tung hết cánh cửa trải một tấm khăn xuống nền thảm nằm chong đèn đọc sách rồi ngủ thiếp đi cho đến sáng. Một hôm tình cờ người cậu ghé thăm, nhìn cái cảnh tượng sống “bất cần đời” ấy của anh khiến ông kinh ngạc. Ông thất vọng đã không nhìn thấy người cháu mồ côi của ông có cuộc sống khá hơn khi đến Mỹ. Ông muốn mang anh đi để mong có một cuộc đời tương lai tốt đẹp. Trước kia ông nghĩ nghề dạy học ở Việt Nam lương bổng khiêm tốn, không giàu có nhưng là một nghề thanh cao được nhiều người trọng vọng. Thế mà anh đã đánh đổi nó bằng tất cả những lòng thương yêu, sự mong đợi của người cậu để chọn cho mình một cuộc sống “phiêu lưu lãng tử”. Thật ra đó là một cách sống hoàn toàn do anh lựa chọn, phù hợp với cá tính và sở thích của anh.

Nhiều lần đến chơi căn nhà xập xệ cánh cửa không bao giờ khóa ấy, Khang khám phá ra một điều trái với những gì Khang đã nghĩ trước đó. Ngôi nhà của anh không hoàn toàn im lặng, hoang vắng mà là một nơi chốn dừng chân của khách thập phương. Nó như là một thứ “trại tỵ nạn thứ hai” mà hầu hết những người lui tới gặp anh đều có mục đích khác nhau. Có người đến để nhờ anh “hợp tác” làm một công việc gì đó; có người đến vì cần một nơi chốn ở tạm; có người đến chỉ để bày ra những cuộc rượu say bí tử, ca hát, ngâm thơ, bày tỏ những tàn tích quá khứ, họ là những người lính đã từng tham dự chiến tranh kể về những trận đánh, trong đó có người đã từng cầm súng ở bên kia chiến tuyến. Họ là những “linh hồn” vất vưởng, thất lạc giữa một khoảng trống mênh mông trong tâm thức bám vào cái hào quang quá khứ hào hùng, đau thương đầy căm phẫn tủi nhục của lịch sử. Có người rũ bỏ quá khứ, lột xác hội nhập vào đời sống mới của xứ sở tự do. Họ bước vào cuộc thử thách trong thương trường, khởi nghiệp bằng đôi bàn tay trắng. Có người muốn làm một công việc khác to tác hơn, mang nặng những tâm tư mơ ước trước vận mạng tương lai của đất nước. Nhiều lần Khang đến chơi, thấy một vài khuôn mặt mới, anh bắt đầu kể hàng loạt tiểu sử của họ. Giáo sư. Bác sĩ. Nhà báo. Nhà văn. Nhà Thơ. Nhạc sĩ. Cựu sĩ quan cao cấp miền Nam trước kia. Tất cả đều là những thành phần trí thức đang sống “lưu vong” tại hải ngoại. Họ có nhiều mơ ước to lớn, và họ đang bắt đầu làm lại cuộc đời trên đất nước tự do.

Sau lần gặp anh ở San José, Khang trở về lại Texas. Một năm sau Khang nhận được tin nhắn của anh Hàn Phong muốn giới thiệu Khang một công việc làm mà ông Wong, một thương gia người Hồng Kông đang cần. Lẽ ra người làm công việc ấy phải là anh, nhưng anh từ chối. Anh không muốn có sự thay đổi, dường như anh hiểu rõ số phận của anh khi quyết định cách thế sống chẳng màng đến tiền bạc và danh lợi. Anh biết sống chừng mực để tồn tại và làm công việc anh yêu thích.

Suốt ba tháng hè bận rộn làm việc tại công ty điện tử do ông Wong cùng một số đồng nghiệp điều hành, Khang chưa có cơ hội đến thăm anh. Hình dung căn nhà tầng hai có một người đàn ông độc thân với vóc dáng gầy, đôi mắt đeo kính cận dày, âm thầm một bóng trong căn nhà xập xệ giữa một khu phố đông người qua lại, anh vẫn thản nhiên sống từng hơi thở nhịp tim với công việc nhọc nhằn vẽ từng con chữ trên những tấm pano. Lẽ ra anh không phải làm công việc ấy nếu có điều kiện. Lẽ ra anh phải dành hết thời gian để vẽ bằng chính cảm xúc của mình như anh đã từng vẽ những bức tranh quê hương luôn luôn cuộn trong cái túi vải mang theo bên người. Nó đã rơi mất trên đường vượt biên. Khang muốn anh vẽ lại, ngay lúc này khi cơ hội đang đến. Hôm qua, ông Wong nói với Khang:

- Tôi đã nói với A Phung về việc nhờ cậu ấy vẽ cho tôi vài bức tranh ven vùng vịnh Monterey. Cậu ấy hứa sẽ làm nhưng chờ mãi tôi chẳng thấy cậu ấy trả lời. Tôi nhắc lại thì cậu ấy bảo anh có thể làm việc ấy thay thế cậu ấy.

- Được! Để tôi hối thúc anh ấy, Khang nói.

Chiều nay Khang đến nhà anh Hàn Phong với mục đích nói cho anh biết ý định của ông Wong. Khang tìm chổ đậu xe phía sau dãy nhà trọ. Đi ra phía trước bước lên bậc thềm cao trước mặt quán ăn đèn mở sáng trưng bên trong không có khách. Cánh cửa nằm ở góc bên trái của tòa nhà hai tầng vẫn còn giữ màu sơn nâu cũ kỷ đập vào mắt Khang với hình dáng quen thuộc của nó. Cánh cửa đã đóng kín, nó không còn mở toang như lúc trước mỗi lần trước. Khang đứng tần ngần giây lâu, nôn nóng đưa tay xoay nấm cửa, cánh cửa bật mở, ánh sáng từ bên ngoài tuôn vào bên trong soi rõ chiếc cầu thang đã không còn lót thảm nữa, nó bị lột đi như lông của con cừu đã bị cạo sạch để trơ ra lớp da nhẵn bóng. Bậc cầu thang còn lại lớp gỗ sần sùi, trơ trơ trông dị họm, nhưng nó không còn bốc mùi ẩm mốc như lúc trước.

Khang bước lên cầu thang, gót giầy nện lên nền gỗ kêu lộp cộp. Lên đến tầng trên đưa mắt quan sát gian phòng có chút gì đó đổi khác, toàn bộ thảm lót đã bị lột sạch, có vẻ như căn nhà đang được sửa chữa lại. Ở một góc phòng đồ đạt, lọ sơn, băng vải để ngổn ngang, bên cạnh đó một bảng giá vẽ bằng gỗ dựng đứng với một tấm canvas có phác họa hình nét không nhìn thấy rõ. Khang chợt nghĩ anh Hàn Phong bắt đầu bắt tay vào công việc sáng tác trở lại. Mừng rỡ trước cái cảm hứng bất chợt khi nhìn thấy trên chiếc canvas kia đang bắt đầu mơn man những hạt nắng lung linh, chiếu rọi xuống cái nền đất phẳng lì vô nghĩa một hơi ấm tỏa sáng tạo thành một hương sắc nhiệm mầu cho sự sống trổi dậy. Khoảng trống của gian phòng chung quanh phải lấp đầy những hình thể, đường nét, sắc màu và một niềm hy vọng hứng khởi trong Khang trước hình ảnh của đôi bàn tay lả lướt trên những tấm canvas giữa một vùng biển xanh ven biển Monterey. Anh Hàn Phong ! Ngày mai anh phải lên đường đến nơi ấy để tìm cho anh một chân trời viễn mơ như anh đã từng liên tưởng khi con tàu đưa anh ra khơi, bỏ lại sau lưng một vùng trời yêu dấu nơi anh sinh ra và lớn lên. Nó chính là hơi thở của đất, máu, mồ hôi và giọt lệ âm thầm thánh thót rơi xuống trong lòng anh, và Khi anh đứng giữa lòng đại dương mênh mông, ý thức muốn xóa mờ mọi quan niệm để tìm cho mình một cảm xúc mới hòa nhập vào cái tận cùng của trời đất. Anh tưởng điều đó là có thật trong thế giới anh đang tồn tại. Nó chỉ được thể hiện bằng những cảm xúc lây chuyển những hạt màu trên từng mạch sống của những lớp màng trắng phêu của chiếc canvas. Một thế giới khác sẽ được hành thành, chìm đắm và say mê.

Có tiếng động loạt soạt từ phía sau nhà bếp khiến Khang giậc mình bừng tỉnh giấc mộng. Một cơn gió nhẹ luồn qua cánh cửa bay xuyên qua hành lang hẹp nối giữa hai giang phòng. Có tiếng bước chân lẹp xẹp trên sàn gỗ, Khang ngoảnh mặt lại bất ngờ nhìn thấy một người phụ nữ mặc bộ đồ ngủ bằng vải lụa màu hồng mềm mỏng ôm sát thân hình thon thả, mảnh mai. Một gương mặt trái soan da trắng, mái tóc đen thả dài quá lưng. Khang nhìn người phụ nữ với tâm trạng hoài nghi, lúng túng trước sự có mặt của cô trong ngôi nhà này. Người phụ nữ nhìn Khang hỏi :

- Anh kiếm ai?

Khang lúng túng đáp:

- Anh Hàn Phong.

- Anh ấy đi mấy ngày rồi chưa thấy về.

Khang ngỡ ngàng trước câu trả lời của người phụ nữ. Cô ta là ai Khang chưa bao giờ thấy bóng dáng người phụ nữ lui tới trong căn nhà này trước đây. Sự xuất hiện của người phụ nữ cho Khang một cảm giác có sự thay đổi trong ngôi nhà này mà trước kia chỉ có bọn đàn ông thường xuyên lui tới. Sự thay đổi trong cuộc sống là điều bình thường, Khang không cần phải thắc mắc điều ấy. Sự vắng mặt của anh Hàn Phong cũng không làm cho Khang ngạc nhiên, với anh luôn luôn là như thế. Chỉ có điều Khang hơi thất vọng không gặp được anh hôm nay, để kể cho anh nghe về cảm xúc mà Khang vừa mới bắt gặp khi mường tượng gian phòng có anh đứng trước những bức tranh tỏa sáng sắc màu, xóa hết những dấu tích muộn phiền trên cái bề mặt thô thiển của một đời sống thiếu vắng tinh hoa nghệ thuật. Dù sự im lặng không nói thành lời, những cảm xúc vẫn âm thầm tuôn chảy lấp đầy khoảng trống giữa hai tâm hồn đồng cảm. Khang nghĩ, anh cũng có cùng cảm xúc như Khang.

Khang nhìn người phụ nữ nói lời cám ơn rồi bước xuống cầu thang đi ra ngoài. Đưa tay khép nhẹ cánh cửa gỗ, bóng tối phủ trùm một khoảng trống im lặng bên trong căn nhà. Bên ngoài nắng chiều hắt ánh nắng vàng hanh lên tòa nhà hai tầng, bên dưới quán ăn đã có thực khách ra vào tấp nập. Đứng giữa khung cảnh trên đường phố nước Mỹ tươm tất sạch sẽ, nhìn những dòng xe cô chạy trên tuyến đường thẳng tấp,và trên những lối đi bộ thấp thoáng hình bóng những sinh viên lưng vác “gùi sách” thong thả bước đi trên đường phố, Khang hòa mình vào cái nhịp sống thanh bình, tự do trên đất Mỹ.

Hình dung chuyến đi đến vùng biển xanh Monterey ngày mai, Khang cảm nhận một niềm vui hứng khởi trước một công việc đầy hứng thú mà mình chưa bao giờ mơ tưởng mình có thể thực hiện được. Còn anh? Anh Hàn Phong. Anh có giấc mơ to lớn nào để đeo đuổi trong một cuộc sống có quá nhiều sự lựa chọn. Con đường anh đang đi có dẫn anh đến cái mục đích cuối cùng cho những ước mơ mà tất cả những người bạn “đồng hành” bên anh đang khao khát, hay anh vẫn ung dung đi giữa trời mưa gió thênh thang không màng đến thế sự chung quanh.

Anh im lặng như cái khoảng trống trong căn nhà khi anh đi vắng, như cái khoảng trống trên chiếc canvas chưa bao giờ lấp đầy những nét vẽ màu sơn. Anh đi lặng lẻ một mình, về trong trạng thái bình yên như không có gì thay đổi chung quanh. Tâm hồn anh mở rộng thênh thang đầy nắng gió.

Còn Khang? Có phải Khang đang dấn thân vào con đường đầy thử thách trước mặt, liệu Khang có dứt khoát đeo đuổi con đường nghệ thuật đến mục đích cuối cùng không? Những gì Khang đã nhìn thấy qua hình ảnh anh Hàn Phong khiến Khang băn khoăn, suy nghĩ. Anh không có thời giờ để thực hiện một giấc mơ chính mình đã từng mơ ước thời niên thiếu là khi lớn lên sẽ chọn con đường dấn thân cho nghệ thuật.Vậy mà khi nhìn thấy một họa sĩ tài ba như anh lại sống một cuộc sống bần cùng vất vả, lo kiếm tiền đội nắng dầm mưa mà quên đi lý tưởng cao đẹp chìm sâu trong tâm hồn đầy ấp những ước mở cao đẹp của anh. Còn Khang sẽ làm gì trong những tháng ngày dài của chàng thanh niên mới ngoài hai mươi tuổi đời?

Một thoáng buồn vui ẩn hiện trong suy nghĩ, Khang bước ra phía sau dãy nhà trọ, vội leo lên xe lái ra ngoài ngã ba đường.

Sau lưng ngày đã tắt nắng.

 

Minh Lâm

11 tháng Hai 2015

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1285)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1059)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1496)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1334)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1588)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1638)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1607)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1429)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2020)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2162)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9406)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16204)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15217)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15578)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1285)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1496)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1588)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2020)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4202)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5989)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5412)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5989)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1334)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1638)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1888)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1830)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1607)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1429)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1604)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1636)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12376)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28642)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35163)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35018)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9882)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12012)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1059)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1496)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2020)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2162)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2496)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7033)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6472)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8408)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.