- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,419,083

THƠ LƯU MÊLAN

30 Tháng Tám 201511:39 CH(Xem: 13379)
LuuMeLan 1
Lưu Mêlan





LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Lưu Mêlan là bút hiệu của Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm 1989.

hiện sống tại Sài Gòn. Chúng tôi hân hạnh giới thiệu những thi phẩm của Lưu Mêlan cùng quí văn hữu và đọc giả Tạp chí Hợp Lưu.

TCHL

 

 


CHỮ

 

Đây là những hàng chữ

Mà chúng tôi đã học

Thế nhưng, tất nhiên, chúng khác.

 

 

Cùng là một ngôn ngữ

Nếu ghép ra từ muốn nói, chúng tôi không thể thốt ra

Nên chúng tôi chối từ,

để  im lặng.

 

 

chúng tôi sống trong những thứ chúng tôi không thể sống

để sống chúng tôi như không sống

chúng tôi chuyển động, chúng tôi hoạt động

và chúng tôi chết.

 

nên chữ  cũng

trở nên trong suốt

 như không tồn tại, chúng là hiện vật hơn là thứ để nói

bất động hơn là được dùng, chúng chỉ, rốt cuộc, trang trí

trên mắt chúng tôi, trong họng chúng tôi, trong  

những hàng giầy cũ cách xa khỏi người chết-

những người không còn ai nhớ ra.

 

Chữ, nơi đây, chỉ là cái kinh hoàng

Giữa những cái kinh hoàng

Dồn đống trong một vùng đất trống.

 

 

LŨ TRẺ

 

Chúng tôi nhặt được vài viên đạn dưới chân cầu

Chúng tôi cũng nhặt được hàng đống thuốc

Nổ

Chúng tôi còn thấy rất nhiều thứ khác, người ta đã để quên

Tại vùng này, tận trong hũng đất, sau những toa tàu hoả

Hư hỏng, đã bỏ không

 

Chúng tôi thường đi học

Băng qua đường tàu này

Rất gần, đôi khi chúng tôi thấy nó chạy tới

Như một con hổ

tiếng hú bốc khói trên đầu

 

Lũ chúng tôi cũng có thể lượm được vài thứ khác

Những thứ không thể biết rõ được

Nhưng chúng tôi thấy bình thường, chúng bị vứt bỏ

Dưới cái nắng chan chát, bạc màu và xỉn lại

 

Chúng tôi chơi với vùng đất bỏ hoang, rộng

Băng qua nó những khi vội vã

Và chơi khi chẳng có ai muốn nhìn thấy chúng tôi

Chúng tôi đôi lúc có thể chết vì những quả bom, mìn, lựu đạn

Chúng tôi chẳng quan tâm đến điều đó

Đường thì nhỏ, cắt ngang những bông hoa, đất sỏi của đồi núi, chòi canh và dê, cừu, bò

Từ xa trông nhỏ xíu.

 

Chúng tôi có thể coi đó là những chúng tôi khác

Chưa bao giờ tồn tại, chúng xa lắc chẳng gợi gì với chúng tôi về hiện tại

Con người hay tình đồng loại

Những gì xảy ra, được bưng kín như một vết thương

Không tiếng nói, chỉ có những hình ảnh

Càng ngày càng nhỏ lại.

 

Và chúng tôi càng ngày càng lớn lên

Có một khoảng trống đủ để chúng tôi biến mất với tất cả những điều đó.

 

 

 

Những Thứ Đã Chết

 

1.

Đây

Là lúc

Mọi thứ rã ra

 

Đây là lúc mọi thứ

Trôi dạt

 

Để cưu mang, để khai sinh

Để hủy hoại

Để phóng để chạy để tan tác

 

Đây là lúc mọi thánh đường

Không kẻ nguyện cầu

Không kẻ chối từ

Không kẻ khai tội

 

Đây là lúc để đi ra

từ giã

Mọi thứ giữa mọi thứ

Mọi thứ giết mọi thứ và tôi

Khoảng sáu tuổi

Đứng bên khung cửa sổ

Chơ vơ, không thể khép

Khóc và la hét và cô đơn và sợ hãi

Chính trong mảnh đất mình.

 

2.

Chúng tôi chỉ mới vài tuổi

Chúng tôi chơi những trò chơi không tiếng cười

Chúng tôi chạy trốn

Chúng tôi hỏi tội, và biết cảm giác có tội, chúng tôi học

tránh ánh mắt đe dọa và giận dữ

Từ gia đình.

 

Chúng tôi

có nhiều thời gian để

Vất vưởng ngoài đường, ngoài đồng, ngoài căn nhà

Chúng tôi ít khi đói

Chúng tôi không hay no

Chúng tôi cảm thấy quá rộng để  hạnh phúc

 

Không có tiếng ru nào, những căn nhà nhỏ

Núp lẫn vào, che giấu nhau, những con hẻm khuất, những bóng cây râm

Những tiếng khóc và hét của con nít

Nhỏ hơn chúng tôi…

 

Những con mèo và chó

Những trái chín rụng, những trái còn xanh, xác của những loài bò sát nhỏ…

Những kẻ nhìn chúng tôi, cười hay lơ chúng tôi

Chúng tôi có tất cả

Đủ xa để không còn cần tình thương, yêu.

 

Chúng tôi đã chết.

Ngay khi chúng tôi biết cái chết

Chúng tôi cười

 

Có lẽ người lớn đã học cách chịu đựng như vậy

quanh chúng tôi

Và rồi họ có thể nói gì với chúng tôi

Để có thể xoa dịu điều đó, trong họ và trong chúng tôi?

 

Lưu Mêlan

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 972)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4059)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
16 Tháng Hai 20204:43 CH(Xem: 214)
Người dân Vũ Hán thảm sầu / Một trời ú ám nhuộm màu thê lương / Xuân về phủ kín màn sương / Khắp nơi phong tỏa, phố phường vắng tanh
16 Tháng Hai 20204:21 CH(Xem: 182)
hãy kéo dài nụ hôn che lấp tiếng cười / để bước chân người trôi nhẹ / khuôn mặt sẽ mờ theo ngày mưa vỡ / nghìn trùng thanh xuân trong đôi mắt nàng Thơ
16 Tháng Hai 20203:57 CH(Xem: 165)
Việt tộc, nếu tính từ khi lập quốc tại Phong Châu, trong vài ngàn năm tiến về phương Nam, hiện tiếp tục ra đi tới khắp các nẻo đường thế giới, đã tiếp cận hầu hết các nền văn minh nhân loại. Từ hậu Lê, suốt 500 năm biến động đầy sóng gió, với tình hình hiện nay, có thể xem như chúng ta đang ngày càng rời xa khỏi đạo thống Tiên Rồng trải từ thời Hùng Vương đến hai triều đại Lý-Trần, giờ lại còn bị đe dọa tiêu diệt bởi chủ thuyết Mác-Lê. Việt Nam tuy được xem như đã hội tụ hầu hết các tôn giáo và các nền văn minh lớn trên thế giới (Phật, Lão, Khổng, Cơ đốc; Hoa, Ấn, Tây), chúng ta vẫn chưa định hình được một nền văn hoá đặc thù làm nền tảng nhằm thoát Trung, bỏ Cộng để xây dựng đất nước.
16 Tháng Hai 20203:47 CH(Xem: 183)
Khởi đầu một năm mới đầy biến động, trước anh linh người vừa khuất tôi xin được dâng lên lời cầu nguyện. Nguyện cho mỗi chúng ta từ nay sẽ không là kẻ vô can và ngưng đóng vai khán giả. Bởi tất cả chúng ta dù đang ở vị trí nào hay sinh sống ở nơi đâu đều gắn kết cùng nhau chung một số mệnh - Số mệnh của dân tộc Việt Nam.
13 Tháng Hai 20207:42 CH(Xem: 358)
khi người thức đợi bóng trăng / có con bướm nhỏ / chợt ngần ngại bay / tơ trời theo gió nhẹ lay / để em kết lại / nối ngày thành đêm...
08 Tháng Hai 202012:06 SA(Xem: 617)
Ở xứ người Phan có lạnh không Phan / Chắc quanh năm hiếm gặp nắng vàng / Ở nơi ấy có con trăng mười sáu / Cả nỗi buồn chưa kịp quá giang /
07 Tháng Hai 202011:53 CH(Xem: 489)
đôi mắt mỏi mệt không thể nhìn xuyên đêm / bóng đêm làm chúng ta mù lòa / hãy im lặng như thiền sư ngồi nghe tiếng côn trùng / nhớ lại đêm trừ tịch / chờ nghe tiếng thú đầu tiên mừng năm mới / ở đây ta chẳng nghe gì cả / trên cao độ của ngọn đồi chỉ có tiếng mưa rỉ rả / ngôn ngữ của im lặng /
26 Tháng Giêng 20203:45 CH(Xem: 1113)
Đường phố Sapa chìm trong thứ ánh sáng mờ ảo của đèn cao áp lẫn sương mù. Thỉnh thoảng có một hai khách du lịch trở về khách sạn, hoặc một đôi nam nữ Dao đỏ đứng tự tình bên gốc cây. Khí lạnh từ trên đỉnh Fanxipan tràn về thung lũng từng đợt. Hắn hơi co ro, khép chặt lại cổ áo. Hắn đi, lúc thì như người mộng du, lúc thì ra người như cố ý tìm kiếm một ai đó.