- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

TẢN VĂN NGUYỄN VIỆT THANH

14 Tháng Năm 201510:01 CH(Xem: 56232)



LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Nguyễn Việt Thanh với lối viết nhẹ nhàng và sâu lắng sẽ đưa chúng ta trở về nông thôn Việt Nam bằng những “Ao làng”, “Nắm lá ngày Đoan ngọ”, và lối đánh bắt cá độc đáo của rất ít người và bây giờ cũng không còn ai sử dụng nữa đó là “Bơi dể”. Chúng tôi trân trọng gởi đến quí văn hữu và độc giả những tản văn của Nguyễn Việt Thanh.

Tạp Chí Hợp Lưu

 


ao lang-bw
AO LÀNG

 

Làng tôi xưa có nhiều ao to lắm nào là Ao Cả, Ao Vua, Ao Đình…  Ao nào cũng rộng tới hàng mẫu.  Riêng Ao Cả còn rộng hơn.  Ao có hình trái soan, chẳng khi nào tát cạn được, họa chăng chỉ có thể kéo lưới để bắt cá.  Lưới chỉ bắt được phần nào, vì thế cá còn lại nhiều.  Các thế hệ cá cứ lưu niên sống ở đây.  Mỗi khi có tin kéo lưới bọn trẻ chúng tôi lai kéo nhau ra xem:  Những con cá mè to bằng chiếc quạt mo; con cá chép có râu,vây cùng đuôi màu đỏ; cá trôi dáng thon vảy nhỏ ánh biếc; cá vền dáng tròn như bàn tay, cái miệng lại bé tí; cá ngão miệng cong há hoác.  Có khi bắt được cả cá măng, loài cá chúa tể trong ao nặng đến ngót chục cân.  Còn biết bao loài cá khác…

Làng xóm xung quanh ao.  Những ngôi nhà tranh xinh xắn nằm nép dưới bóng cây râm mát. Ngày trời trong lặng gió, ao như tấm gương lớn in rõ mồn một ngôi nhà, bóng cây và cả bóng người đi lại trên sân.  Cây cau thân trắng mốc cao vút lại một thân cây nữa in xuống ao tạo thành một góc vuông.  Mùa thu cây bưởi quả chín vàng, vườn chè nở những bông trắng ngà đều nhìn thấy rõ ở mặt nước.  Những cây sung cây vối gốc bám vào bờ còn thân ngả hẳn ra ao.  Quả sung bám đầy cành, đến kỳ sung chín quả đỏ rồi chuyển sang màu đỏ sậm.  Đàn chào mào gọi nhau đến ăn.   Nhiều quả rơi tõm xuống nước.  Một con  trắm đen như cái trục đá nhỏ từ một chốn nào nổi lên khẽ đớp quả rồi lui ngay xuống nước sâu.  Rất nhẹ và kín đáo.  Phải để ý tinh mới thấy.

Rồi những con ba ba thỉnh thoảng nhô đầu lên thở.  Thoáng thấy thoáng không.   Vắng người, chúng bò cả lên vườn để phơi nắng.  Lại  thấy vỏ trứng ba ba ở gốc cây, thì ra trứng đã nở thành con rồi chúng lại xuống ao.  Mọi sự sinh sôi cùng diễn ra một cách lặng lẽ.

Bờ ao nhà nhà đều trồng nhiều cây mai nước.  Thân cây tròn gốc to gần bằng ngón chân cái, thon dài đến một mét.   Chiếc lá bằng bàn tay ở trên ngọn, tựa như lá dong, xanh biếc.  Mỗi khóm có đến năm sáu thân … như những cái cọc cắm xuống dưới nước.  Chúng có nhiệm vụ chắn sóng, giữ bờ ao khỏi bị xói lở.  Quần thể của loài mai nước là nơi trú ngụ của các loài tôm,cua, ốc …  Rồi những đám bèo bám sát đấy nơi sinh sống của loài ếch nhái.  Khi người ta dùng bẫy hoặc câu…  ếch bắt được trong ao thường là ếch to sụ.  Ốc có nhiều loại nào là ốc đá, ốc nứa, ốc vặn… nhưng to nhất vẫn là ốc nhồi.  Sau những cơn mưa đầu thu, ốc nổi lên ăn màu bên cây mai.   Chỉ cần chiếc vợt nhỏ mỗi buổi sáng cũng có thể bắt được hàng chục con ốc nhồi đen chắc.  Có những mùa đông tháng giá chúng  kéo nhau vào những hốc tre mục.  May cho ai phát hiện ra có khi bới được cả hàng rổ.  Ốc nhồi mang về rửa sạch bỏ vào giỏ để nơi gác bếp… đợi đó sang cữ giêng hai làm món ốc nướng chấm muối ớt.  Rồi những trận mưa rào đầu mùa những con cá rô  to vây giương như gai mừng nước lóc lên vườn.  Cứ việc lẳng lặng bước ra nhặt chúng bỏ giỏ.

Buổi chiều mùa hè từ các cầu ao lại vang động tiếng hô hét của trẻ con xuống tắm.  Lớn thì bơi ở ngoài chơi trò ngụp lặn săn đuổi còn bé chỉ quanh quẩn ở mé bờ.   Có đứa còn leo lên cây sung cây vối mà thả người xuống ùm ùm.  Hầu hết trẻ con trong làng đều biết bơi và bơi giỏi.  Ngày trời nắng to thanh niên trai tráng rủ nhau xuống ao mò trai.  Những con trai mập chắc to như hai bàn tay úp.  Trai ấy  nấu cháo cho trẻ con ăn để chữa chứng da nóng kèm đổ mồ hôi trộm.  Hoặc vào cữ cuối tháng ba âm lịch người ta mang dậm xuống ao, có khi ngâm nước đến tận cổ để đánh bắt những mẻ tôm non.  Tôm chỉ to bằng chiếc đòng đòng lúa nhưng trong suốt.  Đây là lứa tôm mới được sinh ra từ khi có hơi ấm mùa xuân.  Cả mẻ tôm dựng trong giỏ tươi ngon nhảy tanh tách.

Từ ao làng tôi cũng học được nhiều kiểu câu.  Nào câu ếch, câu cá quả: mồi tóm bằng con nhái rồi dùng cần câu  có vòng cước đáp ra xa mà kéo.  Câu cá chép cá trôi bằng cơm nghiền nhuyễn với cám mịn nhưng nhất định phải chút khoai lang nướng.  Câu cá rói mồi phải có chút vị thuốc bắc.  Câu cá ngão khi trời bắt đầu có gió heo may.  Phải có cần tre mềm mang theo để đập xuống nước.  Đập nước sao cho tiếng phải gọn mà âm vang thì cá ngão mới đến.  Rồi lối nhử cá rô bằng cào cào đến cả lối câu vui của lũ trẻ nhau là câu tôm càng ở gầm cầu ao bằng cần câu bé tý.

Sản vật trong ao dồi dào, người người đánh bắt nhẹ nhàng, cứ như thể chỉ một chút  thôi.  Và thường theo mùa, mùa nào thì câu con gì đánh bắt con gì, nên ao làng lúc nào cũng như lúc nào biết bao loài cá tôm, cua, ốc… nối tiếp nhau sinh sôi .

Ngày xưa, mỗi khi nắng nóng lại ra bờ ao dưới bóng cây.  Có bữa cơm trưa cả nhà ngồi quây quần bên cầu ao.  Cơm thơm đầu mùa tỏa khói.  Thức ăn nhà quê mộc mạc: có khi là con cua, con cá nấu canh bắt được từ ao.  Dưới ao hơi mát dâng lên.   Vẳng lại tiếng chim cu gáy, tiếng cuốc kêu từ bụi tre cuối xóm…

Các ao làng tôi giờ đây đã san lấp gần hết.  Ao Cả cũng bị thu gọn lại nhiều.  Đặc biệt sự thanh sạch và giàu có từ ao thì không còn nữa.  Đứng trước ao nhớ tiếc, ngậm ngùi...  Liệu có thể khôi phục lại phần nào của ao như ngày trước được không ?

 

Nguyễn Việt Thanh

Tháng 4 / 2015

 

 

 

 

NẮM LÁ NGÀY ĐOAN NGỌ

 

 

Bà ngoại tôi con một cụ lang có tiếng,vì thế di sản mà ngoại tiếp thu được phần nào là những bài thuốc Nam cùng cách làm một số món ăn mang tính chữa bệnh. Đặc biệt hàng năm có nếp quen là hái lá ngày Đoan ngọ.

Những năm tôi mới mười một, mười hai … thì ngoại tôi đã già, người không đi xa được nhưng thủ tục cho ngày Đoan ngọ vẫn do ngoại sắp đặt. Vừa mới hừng đông mọi người trong nhà đã trở dậy và hương cơm rượu nếp ủ men chín tới đã nồng ngọt tỏa thơm. Mỗi người được ăn một bát cùng một số hoa quả trong vườn gọi là để giết sâu bọ. Rồi mọi người tỏa đi lấy các thứ lá do ngoại chỉ định. Phải hái lá trước khi  mặt trời mọc, cây lá ở chỗ không có trâu bò đi, trong khi hái lá đừng để cho người khác biết.  Qua mấy năm tôi đã thuộc lòng các loại lá ấy: lá hương nhu trắng, lá hoắc hương, lá chi chi, lá vối đều có sẵn trong vườn…  còn các lá khác mọc hoang ở vườn miếu Vua Bà.  Tôi nhớ cây bưởi bung thân to bằng bắp chân gần như năm này qua năm khác chẳng lớn lên mấy, lặng lẽ đứng ở bờ giậu.  Cây vọng cách mọc ở mé bờ ao lá lòa xoa chỉ cần với tay là hái được.  Cây duối cổ thụ xanh quanh năm đứng gần bờ tường nơi con cá chép gắn sứ há miệng nhả nước xuống ào ào mỗi khi có trời mưa.  Cạnh đấy là bụi cây dành dành,  dây lạc tiên cùng dây kim ngân leo lên quấn quýt.   Không biết cơ man nào cây cối xay, cây lá gai mọc chen nhau.  Leo trên giậu là cây đùm đũm có gai li ti nhưng phải lựa mà hái.  Mỗi thứ chỉ cần hái hơn chét tay.  Riêng các thứ lá tre,  hoắc hương, hương nhu, lá vối … ngoại dặn lấy nhiều hơn.   Hình như có đến mười năm, mười sáu loại lá.  Tuy mỗi thứ một ít nhưng lượm về để kín một cái nia.  Ngoại tự tay thái các lá bằng dao cầu.  Người  thái lá nhỏ và đều sau đó đem phơi trong bóng râm đợi khô rồi gom vào chiếc giỏ lớn có lót lá chuối khô treo gần gác bếp.

Nhà tôi có một chiếc ấm đồng thau to, vòi ấm làm theo hình mỏ con công.  Mỗi lần nấu nước tôi thường bốc ba bốn nắm lá bỏ vào đun sôi rồi bắc ra mở vung cho nước nguội dần.  Nước lần lượt rót vào các tích sứ để mang theo người làm đồng. Tôi thuộc lòng câu nói của ngoại về nước uống ấy : sinh tân, lợi thấp, thanh thử, tiêu thực…  Thuộc thế thôi nhưng tôi chẳng hiểu gì, chỉ biết rằng những thứ lá của ngày mùng năm tháng năm đã trở thành nước uống cho cả mùa nóng nực.  Mỗi lá có mùi vị riêng nhưng hòa chung lại thành mùi thơm rất riêng.  Mỗi khi nhớ lại trên đầu lưỡi như vẫn còn cảm giác: ngọt, cay, mát …  Một cảm giác mát mẻ thông suốt toàn thân.   Cái mùi thơm đặc trưng ấy làm cho ta bỗng trở nên nhẹ nhõm, thanh thoát giữa nắng hè gay gắt.  Mãi sau này mới có dịp tìm hiểu nghĩa lý của câu nói mà tôi thuộc từ xưa:  Nước uống lá cây ngày Đoan ngọ có tác dụng chống khát, chống say nắng, bổ trợ cho tiêu hóa và loại trừ những ẩm thấp mà người nhà quê chân lấm tay bùn thường hay mắc phải.  Đó là thứ nước uống đã giúp cho người thợ gặt, thợ cày làm viêc sà sã ngoài đồng dưới   nắng  hè chang chang.

 Năm tôi đi học xa cũng là năm ngoại tôi qua đời.  Ngôi miếu cổ làng tôi sau này cũng bị phá.  Các loại lá xưa tôi vẫn còn nhớ nhưng cây hoang dại  phần lớn  giờ đã không còn.  Mỗi khi tháng Năm đến tôi lại nhớ tới khung cảnh gia đình tôi xưa đón tết Đoan ngọ cùng mùi vị của thứ nước uống dân dã mà thanh cao ấy.  Tôi có ý định sẽ đi tìm kiếm lại các giống cây lá … để trồng tại vườn nhà.  Biết là khó khăn lắm, có khi là việc làm của cả thế hệ sau.

 

Nguyễn Việt Thanh


BƠI DỂ

 

Bơi dể là lối đánh bắt cá độc đáo của rất ít người và bây giờ cũng không còn ai sử dụng nữa.  May sao tôi đã gặp được một người từng làm nghề này.  Đó là cụ Lê Văn Khanh hơn 80 tuổi hiện còn sống ở  phố Quý Cao –Nguyên Giáp (Tứ Kỳ),  cụ đã giảng giải một cách tường tận :

Trước hết, phải có con thuyền gỗ dài 27 thước ta tương đương mười một mét, ở giữa rộng một mét, hai đầu thon, phía mũi có phần nhọn hơn.  Thuyền sâu 45 phân phía ngoài sơn màu trắng, bên phải con thuyền chăng lưới.  Người  ngồi ở giữa bơi bằng hai mái chèo gỗ mỏng dài 60 phân.  Bơi dể phải đi vào ban đêm.  Tập tính của  tôm cá là đi ăn đêm bám theo bờ, đầu nó  hướng vào trong.  Thấy động, có vật gì to lớn lắm làm chúng hoảng hồn nhảy lên và hầu hết rơi vào thuyền.  Nếu có nhảy quá thì lại rơi vào lưới ở bên ngoài.  Như vậy cứ dễ dàng mà bắt cá.  Nguyên lý của bơi dể là như vậy.   Nhưng trong nghề có biết bao gian khổ cùng những lý thú …

 Phải đi ở những sông to như sông Văn Úc, sông Luộc …  Cuộc đời bơi dể của cụ Khanh gắn bó nhiều với dòng sông Luộc.  Những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ trước sông Luộc rất lắm cá.  Vả lại, còn phải liên hệ với từng địa phương trên đường đi, gắn bó với các gia đình nơi nghỉ trọ nên đã thành quen.  Với sông Luộc cụ thuộc từng bờ bãi nông sâu.

Bơi dể phải đi theo mùa.  Cứ hết tháng giêng là bắt đầu xuống nước, bơi đến khi có lũ tiểu mãn là lên bờ, bởi nước lũ về chảy mạnh, bơi khó.  Rồi hết nước bội mã tháng bảy lại xuống bơi đến khi có rét đậm thì về.  Dòng sông yên ả nhất là ở mùa xuân, thời tiết cũng ít khi có mưa gió lớn.  Mùa xuân thường đánh được cá mè.  Mùa này có nhiều phù du tụ lại ở cuối hướng gió.  Cá mè về đây ăn màu.  Có lần gặp cá mè nhảy lên cả đàn.  Càng đi càng mê …  Có khi bơi đến tận Cửa Luộc.

 Ngày ngủ đêm đi, lúc làng xóm lên đèn là xuống thuyền.  Trên thuyền phải có bật lửa, điếu cày, con dao, đèn pin, áo mưa, nón …  Khi bơi phải lựa cho đúng khoảng cách:  Mũi thuyền hơi chếch về phía bờ.  Nước lên thì bơi cách bờ độ hơn một mét, nước xuống cho thuyền gần hơn, bơi ở bãi sông cho thuyền gần sát đất.   Mềm khéo là ở đôi tay, chèo phải nhẹ ở bề mặt mà dồn xoáy nước xuống dưới, đẩy vào trong bờ một cách liên tục.  Sao cho cá không thấy thuyền từ xa.  Phải bất ngờ, sao cho cu cậu đang nhẩn nha đi ăn bỗng có một đe đọa sập đến.  Ở trong là bờ đất, ở ngoài lại có vật gì lù lù … theo bản năng cứ thế mà nhảy phứa lên.  Cá sông Luộc thường là cá trôi hoa, mè hoa, chép…  Gặp đàn cá mương túa xúa nhảy lên … không thèm để ý.  Cá  chép ít ra là một cân còn đều đều cỡ hai cân.  Cá trôi hoa tuy nhỏ hơn nhưng thịt thơm ngon  Riêng mè hoa thì to hơn, có lần bắt được con mè chín cân ở Vụng Chung thuộc xã Hà Thanh bây giờ.  Lần khác cũng tại điểm ấy bắt được con vược 15 cân.  Con vược nhảy vào thật gọn kêu đánh bẹt một cái, thuyền nhún xuống. Vội vàng lấy lưới trùm lên rồi nhanh tay luồn dây vào mang qua miệng để xích cá lại, là loại cá to khỏe không nhanh tay mưu trí là hỏng ăn.  Mang cá vược nó sắc như dao, luồn dây không khéo là đứt tay.  Phải dùng loại dây điện bọc nhựa cứng luồn vừa nhanh vừa bền.  Con mè hoa chín cân bữa ấy không to bằng con vược nhưng lại là một ấn tượng khó quên.  Hôm đó, trời tối đen như mực đã đi hơn hai tiếng đồng hồ mà chưa được con nào.  Bỗng một vật gì trắng lóa che lấp tất cả.  Trong tích tắc hoảng hồn ngỡ là ma.  Dẫy dẫy ở lưới, soi đèn:  Chà, một con mè hoa. Cứ đều đều như thế mỗi đêm cũng được từ 15 đến 20 cân cá, nếu gặp đàn cá mè có khi được cả gánh.  Sáng ra cột thuyền vào bãi rồi gánh cá ra chợ bán.

 Một mình trong đêm tối âm thầm bơi men theo dòng sông.  Mới đầu cũng hơi rờn rợn nhưng sau quen dần.  Thuộc sông Luộc như con mương con máng ở đồng nhà. Chỗ nào lở, bồi … là mình nhớ hết. Những đêm trăng sáng mặt sông lấp lánh vàng, gió hây hây mát, xa xa vẳng lại tiếng sáo trúc.  Lời bài hát mình thuộc nhẩm hát theo.  Ai tấu lên bài hát đó ? Những ai cùng nghe đó nhưng chỉ có tôi đây là được nghe trong cảnh trăng nước này. Tiếng sáo ra riết.  Bỗng thấy dòng sông hiền lành thân thương quá đỗi, giá kể cắm sào mà đánh một giấc dưới sông trăng đêm nay thì thú biết mấy.

Nhưng nhiều phen cũng khốn khổ và hoảng hồn.  Có khi nửa đêm gặp cơn giông,  khi ấy phải mau chóng tìm bờ khuất gió mà cắm sào.  Mặt sông trở nên dữ dằn chậm một tý là lật thuyền như chơi.  Thu gọn người lại để tránh mưa rồi liên tục tát nước.   Một mình xoay xở chống chọi với gió mưa.  Những tia chớp rạch trời chói lóa kèm theo là tiếng nổ chát chúa.  Nhìn ra xa làng xóm lặng yên trong mưa.  Hình dung mọi người đang ngon giấc trong những căn nhà ấm áp.  Bỗng thấy mình sao nhỏ nhoi và đơn côi quá.  Chỉ cần một sức mạnh nhỏ cũng đủ nhấn mình xuống khúc sông quạnh quẽ này.  Lại một lần gặp người chết trôi lập lờ đi bên thuyền. Hoảng quá, chỉ còn biết niệm Phật... Rồi tất cả cũng qua đi và hôm nào cũng được cá.  Thật ham.  Lại xuống nước.

Giờ nghĩ lại thấy cái thời ấy thật đáng quý.  Đấy là những năm còn đang chống Mỹ con người thưa vắng hơn bây giờ nhiều. Ai làm gì mặc người nấy. Là người có tiền một mình đi trên sông nước nhưng không có ai để ý.  Chẳng ngại trộm cướp gì. Đến nghỉ ở nhà chủ nào cũng được tạo điều kiện và quý mến.  Con thuyền của mình cột ở ngoài bãi hàng tháng cũng không sao.

Cụ Khanh nói mắt cứ đăm đắm nhìn ra phía sông Luộc.  Tôi hỏi bây giờ còn ai làm nghề này nữa không,cụ bảo nghề này đòi hỏi phải có sức khỏe, lòng kiên trì và cả chút phiêu lưu nữa nên ít người làm, ngày ấy cả vùng này chỉ có vài ba người. Họ khuất cả rồi... tôi cũng đã lên bờ đến ngót ba chục năm nay.

Rồi cụ thở dài :

- Nhưng bây giờ thì sông nước đã khác . Và cái tôm con cá cũng cạn kiệt cả rồi!

 

Nguyễn Việt Thanh

Tháng 4/ 2015
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1288)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1060)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1496)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1336)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1588)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1638)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1608)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1429)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2022)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2162)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9406)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16204)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15218)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15578)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 1288)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1496)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1588)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2021)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4202)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5989)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5413)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5990)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1336)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1638)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1889)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1830)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1608)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1429)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1604)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1636)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12376)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28644)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35164)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35018)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9883)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12012)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1059)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1496)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2021)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2162)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2497)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7033)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6472)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8408)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.