- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,945

Nơi Có Những Giấc Mơ Và Những Bài Khác

26 Tháng Giêng 20153:30 SA(Xem: 19584)

TranhDinhCuong-thieunuvatrang
Thiếu nữ và trăng - tranh Đinh Cường


NƠI CÓ NHỮNG GIẤC MƠ

Nơi có những buổi sáng vàng nắng lung linh

Em chạy đuổi tuổi mình

Mãi miết

Phía bên kia bờ phù du

Có gì là bất diệt?

Hay chỉ là nắng vàng ngập trong từng buổi mai lên?

Có một nơi nào chỉ có anh và em

Em không hình hài và anh chỉ là tên gọi

Ta mộng mị đời nhau

Mệt nhoài trong đắm đuối

Ảo hóa tình yêu thành giấc mơ trôi

Rốt lại nỗi đau là có thật trong đời.



 Nơi đó có giấc mơ

Cơn mê vùi của con dế náu mình trong cỏ

Rung sợi dây đàn làm bằng những lỗi lầm và ướp nỗi buồn lên đó

Tấu vang những ca từ tiều tụy nhớ mong


 Nơi đó em trôi giữa miên viễn thinh không

Biến thiên hình hài giữa trăm triệu sao trời vạn kỷ

Sợi dây đàn nỗi buồn và những ca từ tiều tụy

Là bản cầu hồn đưa tiển buổi chia xa...

Nơi đó tình yêu không là những bông hoa

Chỉ là những nụ hồng thui chột giữa đêm đen ảo giác

Chỉ là những nét kỉ hà khắc lên trái tim lầm lạc

Là những lỗi lầm đâm chết hết yêu thương.

Dẫu rằng lỗi lầm cũng là một phần tất yếu của yêu thương)

Nơi giấc mơ em có những cánh chuồn

Lặng thinh bao điều không ấp úng

Để một ngày gió tràn qua thung lũng

Anh là giấc mơ bình thản quay lưng mãi miết không về

Sau tất cả những tháng ngày mụ mị giữa cơn mê

Có những giấc mơ cuối cùng em cũng lơi tay đánh mất

Không phải bởi lãng quên mà chỉ tại bởi một điều rất thật

Có một giấc mơ là có thêm một niềm tuyệt vọng giữa cuộc đời (*)

Nơi đó em nhìn anh ra đi và nước mắt em rơi....

 

Phương Uy

P/s: Thơ Phan Tuấn Anh

 

NHỮNG SỢI BUỒN

 

Em sẽ không khóc nữa. Tình đã thành thiên thu.

Lối xưa không người đợi. Buồn như giữa sương mù.

Tình không là mây trắng. Chỉ tóc thời gian trôi.

Giữa một chiều bạc nắng. Tình theo gió lên trời.
 

Em sẽ không khóc nữa. Lá cuối mùa đang rơi.

Từng sợi dài phân hủy. Những âm thanh không lời.

Từng sợi dài câm lặng. Những bặt âm đêm thâu

Hóa mộng du tội lỗi. Như kí ức hoen mầu.
 


 

Em sẽ không khóc nữa. Ướt một bình minh xanh.

Sợi tầm gai hồi ức. Cũng không còn vẹn lành.

Giữa bình minh lừa mị. Em vẽ chân dung mình.

Trong mốc meo quá khứ. Lời buồn không âm thanh.

 

 

 

THẾ KỈ CỦA NHỮNG CƠN MƯA

 

 

Những nỗi niềm khô queo tận đáy

Cạn ngày

Còn lại gì giữa những kẽ tay?

Sợi buồn mang mang kí ức.

Không còn tình yêu.

Bởi tình yêu là những điều chưa chắc chắc là có thực

Thập kỷ của những cơn mưa.
 

Không cần biết hạnh phúc – hay niềm vui – hay cái sướng ( hoặc những gì đại loại như thế) đã chín hay chưa.

Tất cả hỗn mang bên thềm vực gió.

Những khuôn mặt cười – Những cánh dơi bóng đêm và những con châu chấu ma bay vật vờ không tọa độ.

Mộng du giữa trận tàn phai.

Không còn hứng thú để chờ đợi mỗi sớm mai

Bởi sớm mai, thực ra không phải là sự bắt đầu – xuất phát – hay khởi nguyên cho một cái gì mà chỉ là kết cùng cho đêm tối.

Chỉ là sự chuyển hóa từ thời – khắc – không – nhìn- thấy – mặt – trời sang thời – khắc - nhìn – thấy – mặt – trời.

Nhưng có ý nghĩa gì trong một bình minh mưa ngập lối?

Thế kỷ của những cơn mưa.


 

Không còn nỗi nhớ

Bởi nỗi nhớ chỉ tồn tại khi ta xác lập những thói quen

( Ràn rạt quất đau mặt người

Mưa kéo dài không câm nín)

Nỗi nhớ hình như cũng chỉ là sự ngưng đọng của tình yêu

Mà tình yêu thì vốn đã không hiện tồn, không rõ ràng như những đám mây mang điện tích.

Sự sợ hãi mọc mầm trên đôi cánh thiên di.

Nỗi nhớ có tồn tại bằng những li cà phê

Trong tin nhắn của em đến vào mỗi sáng?

Giữa thế giới dày đặc những ảo hình mị gạt

Nỗi nhớ được dán lên bằng những chiếc avatar như những chiếc mặt nạ cười đồng loạt như nhau.

Nỗi nhớ cũng chỉ là mộ địa của nỗi đau.

Thiên niên kỷ của những cơn mưa.


 

Không còn kỹ năng để viết nỗi một câu thơ

Bởi thế giới của tôi từ lâu đã mất đi ngôn từ và cảm xúc

Vui sướng buồn đau được thay bằng những icon cười nhăn nhở và lăn lộn

Âm nhạc, hoa hồng cũng mang mã số trên lưng.

Và em!

Cũng chỉ là những chuỗi kí tự được mã hóa hiện về từ cõi muôn trùng.

 

 

 

 

MẬT MÃ ĐÊM

Đêm khóa kín bằng nỗi đau nhật tỏa

Rạng ngày thiên thu

Mê lộ thời gian đóng băng mật mã

Đêm nắm tay đêm

Mục ruỗng nguyệt mù

***

Giấc mơ cài khóa

Nhốt anh ngoài bức tường tuyệt  vọng

Em lưu dấu nơi nào,

Trên ngọn đồi xưa hay dưới vệt đá sâu hun hút?

Anh vượt bao tầng mê cung

Vượt qua những bóng đêm không có thật

Chỉ thấy gió mang hình hài phế tích trôi mau

Đêm mang giấc mơ bức bối

Thượng tầng kinh thanh bỏng rẫy

Cơn khát mị ma

Cứa vào anh ngột ngạt vết thương sâu.

***

Đêm tóc trắng

Anh ngồi chờ kí ức gió mài mòn diệp lục đá

Mưa đổ mùa lên xanh

Giấc mơ mất ngủ

Thời gian mất ngủ

Tinh cầu mất ngủ

Anh trôi mình theo mật mã đêm

 

 

KHÚC XẠ ĐÊM

 

Đêm

Lấy tiêu bản cơn mưa

Cất vào trong chiếc hộp cũ kỹ

Bật liêu trai trong tiếng sáo vàng mùa

Ngồi nhớ ngày còn xem chú vịt Donal đóng phim ma mà quên đóng cửa

Biết rằng đã xa xưa…

***

Đêm im lặng

Nói chuyện với bức tường

Có gì ở phía bên kia giấc ngủ?

Giấc mơ màu tro nguội

Lạnh tâm tư

***

Đêm màu xanh lá cây

của ngọn đèn quả ớt treo trên tường

Cơn gió ướt nặng

Không thể cất cánh bay lên

Chỉ lùa lê thê trong căn nhà không cánh cửa

Bức ảnh hoen ố của ngày hôm qua

Rơi bên thềm giấc ngủ

Mang khuôn mặt của người đã chết

Trên bàn thờ

***

Những dòng chữ vay mượn

Chen kín trang giấy

Thể hiện một cơn nhức đầu lúc nửa đêm

Có nên im lặng

Cho một sự sợ hãi?

***

Thôi! Hãy cố gắng bước đến bên cửa sổ

Để nhìn thấy bình minh trong chiếc tổ đỏ ối đường chân trời

Hát câu ca về một miền tự do

Nơi cơn gió mang về cho anh mùi nắng thơm cổ tích.

 

PHƯƠNG UY

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1114)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1181)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1867)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5904)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5883)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13217)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30126)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81245)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20265)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 82)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down