- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Những Người Thích Ăn Thịt Đồng Loại

01 Tháng Mười Hai 20145:39 CH(Xem: 60845)
KhiemNhu-2014
Khiêm Nhu -SG 2014


Trận mưa đêm qua khiến hai mươi lăm người ở Thung Lũng Già Nua bị sét đánh. Chết tươi và đen như quỷ. Trong số đó, có con mụ Trung, người có thể xem là kẻ thù của gia đình họ. Bao nhiêu năm, nhưng hận thù vẫn ăn sâu vào máu của họ. Họ lặn lội, xa xôi, mưa gió để vào được thành phố này thông báo với tôi. Thông báo xong, họ lại về, ngày tức khắc. Tôi ngồi, thần người, hình dung đoạn đường họ đã đến đây, và về, cũng đoạn đường đấy. Mà sao tôi lạ quá, bây giờ nó đâu còn như xưa nữa đâu, sẽ phải thay đổi ít nhiều chứ...

Tôi hỏi Phả. Thấy thế nào? Không biết. Sao lại không biết? Thì ngổn ngang. Chẳng biết nên vui hay buồn nữa. Có lẽ buồn nhiều hơn vui. Tôi im lặng.

Tối nay, Phả sẽ ngủ lại đây. Tối nay anh sẽ uống say. Mà kiểu say của anh giống giả vờ quá, tôi chưa bao giờ tin anh say, anh không biết say. Anh không say giống họ, lâu lắm tôi mới gặp họ, cho dù họ chỉ đến để thông báo cái chết của mụ Trung, mấy phút nhưng đủ cho tôi gợi nhớ về làng quê ấy. Mỗi lần say, họ lại vác dao đến nhà mụ Trung. Phả cũng sinh ra từ Thung Lũng Già Nua và uống những giọt rượu đầu tiên tại Thung Lũng đó. Có lẽ cái chết của mụ Trung sẽ khép lại những hồi ức đau buồn của Phả.

Nói thế, nhưng trong đầu tôi, thân thể to béo của mụ ta cứ lượn qua lượn lại với cái cằm vênh vênh, và giọng nói nghe rin rít trong miệng nghe thật keo kiệt. Không biết chết, xuống âm phủ mụ có li lai xe xích từng xu một nữa không. Chắc là không đâu, ai lại mặc cả với cửa địa ngục làm gì.

Phả mở tủ lạnh. Tu một mạch, một chai bia. Rồi chai nữa. Đã nhiều lần, nằm bên cạnh anh, tôi nghe thấy tiếng cười của anh vang khắp nhà, khoái chí, hả hê khi bàn tay anh cầm đuốc đốt cháy trụi ngôi nhà họ- trong giấc mơ. Đã có một thời gian, ngày nào anh cũng ra sức nguyền rủa họ. Và hôm nay, họ đã chết cháy như anh đã rừng rủa sả thì anh chẳng tỏ vui mừng chút nào.

Anh uống một vốc thuốc ngủ liều mạnh. Nhưng lại nôn ra hết. Anh lại tỉnh hơn. Cứ ngồi và thở dài. Anh lại vớ lấy một chai bia. Tôi ngăn anh đừng uống nữa, tôi cố ngon ngọt và ôm anh, nhưng càng ôm, anh càng đẩy tôi ra. Rồi anh đẩy tôi nằm xuống giường. Lúc này, tôi hiện lên trong mắt anh hẳn cũ mòn, cáu bẳn và nhếch nhác lắm.

Anh nằm xuống giường, thở hồng hộc, như chó rừng. Hơi thở anh làm tôi sợ. Tôi nhỏm người dậy, trấn an anh. Tôi muốn hôn lên đôi môi anh, một nụ hôn, thật khẽ thôi, nhưng anh vẫn thở hồng hộc.

Anh đứng lên. Và rời khỏi quán. Rời khỏi ngôi nhà này. Phải rồi, đây là ngôi nhà của chúng tôi, từ lâu.

Chỉ có mỗi tôi.

Mưa lắc rắc từ lúc nào. Lũ gián từ bếp bò ra. Vòi nước chảy rả rích.

Chiếc giường như muốn gãy, lắc lư, hay bởi tôi đang say sẩm, chênh vênh. Tôi vẫn đang nằm cơ mà. Lúc này, tôi nhìn vào gương. Tấm gương bám đầy bụi. Thấy thương mình kinh khủng, chưa bao giờ tôi thấy thương mình đến thế, làn da thì cóc cáy, bẩn thỉu, khô rạn. Phả mới rời khỏi nơi này, nhưng thấy nhớ quá. Tôi đã yêu Phả nhiều, yêu cả những thù hận của anh. Cứ nghĩ tình yêu của mình, của một mình tôi, sẽ thay đổi Phả ư, tôi đã lầm. Tham vọng điên rồ. Tôi ré lên một cơn dài. Chiếc giường này sẽ gãy mất, cố loạng quạng bước xuống giường.

Khóa vòi nước lại. Nước lênh láng khắp nhà.

Mưa rơi nặng hạt. Giày xéo mặt đất. Những hạt mưa đá khiến hàng cây mới trồng hôm qua rách nát, tả tơi. Họ chóng vánh chiếm được mảnh đất đó, rồi chóng vánh san lấp, chóng vánh xây lên những thứ vô tội vạ, chóng vánh trồng những cái cây lá đỏ đỏ vàng vàng không chủ đích, không quy hoạch. Ôi trời, kiểu gì, mai họ cũng đến, lại cuốc xẻng, lại đào bới mấy thứ đang thành rác rưởi lên rồi nhét xuống lòng đất đủ loại cột, cọc, bê tông, cây xanh cho mà xem. Cầu trời cho mưa lớn hơn nữa, dữ dội hơn nữa. Tôi thích nhìn họ làm những công việc đó lắm, thật dã tràng, thật mất dạy, khốn nạn.

Mưa lộp độp trên mái nhà.

Phả đi đâu giữa mưa thế này, suýt nữa thì tôi quên mất anh.

Tôi phải leo lên tàu, đi về mảnh đất đó, tôi muốn nhìn những người già, vì sau này, Phả chết đi, tôi sẽ già, và cô độc. Tôi muốn dự đám tang tập thể những con người bị sét đánh hôm qua. Mong sao cái chết của họ là do luận phạt của trời. Chỉ vậy thôi. Tôi chưa đến ba mươi, nếu dòng nước tôi đang uống mỗi ngày không đem lại cái chết mình. Ngày nào ở đây cũng có người chết, và chết rất trẻ, tôi chưa sẵn sàng đón nhận nó. Chưa sẵn sàng chút nào.

Nếu muốn sống lâu, tôi chỉ cần quay về Thung Lũng Già Nua, bằng một chuyến tàu. Nhắm mắt và ngủ một giấc trong tiếng còi và tiếng người nói chuyện, trong tiếng vô tuyến truyền hình, phát ra toàn những tiếng cười, đôi khi vô duyên. Khi tàu dừng lại ở ga xép, những khuôn măt cau có, khổ sở xếp hàng dài hiện ra trước mắt, tức là tôi đã đến nơi chôn nhau cắt rốn của mình một cách an toàn. Chỉ nghĩ đến thôi, mũi tôi đã sộc lên mùi quặng, mùi đất sét ở những toa chở hàng. Hai cái mùi đó quyện vào nhau, bao giờ cũng tanh tanh, như máu người. Những hôm trời nắng nóng, mùi máu cứ ngồn ngộn, đặc quánh. Biết đâu, anh đang ở tên tàu, về thăm cái Thung Lũng đó, nghĩ thế nên tôi khoác vội chiếc áo mưa lao đến nhà ga.

Tôi như chết đứng ở sân ga. Mưa bão, tàu hoãn một tuần. Trời ơi, một tuần có bảy ngày, người ta đợi mình bảy ngày mới chôn sao, xác họ sẽ thối rữa mất. À. Không. Họ đâu đón tiếp mình, họ cần gì đợi tôi, đợi Phả, buồn cười thật.

 

***

 

Phả về, mang theo một gói đất sét nhỏ, màu xám và một gói quặng, cũng màu xám nhưng nó thô ráp và cứng chứ không dẻo như đất sét. Tôi cầm lấy, ngay trên tay mình. Tôi như nghẹn đi, chẳng nói được lời nào. Nước mắt tôi ràn rụa, nhảy thành giọt rơi xuống gói đất sét nhỏ. Ngước mắt lên nhìn Phả. Tôi lại khóc. Phả rồi cũng bỏ tôi đi. Phả sẽ chết, ở thành phố này mỗi con người đã được ấn định trước về cái chết, về số phận. Tôi muốn ôm lấy Phả, chỉ một phút thôi, để đứng vững hơn, nhưng Phả không muốn, Phả lùi, âm thầm lê bước chân của mình như không cho tôi thấy sự xa lánh của anh đối với tôi. Phả muốn uống để say, và để nhớ lại những chuyện đau buồn. Con người anh dị ứng với niềm vui thì phải.

Tôi ngước mắt nhìn Phả. Phả vẫn đứng yên, anh gỡ gói đất sét khỏi tay tôi. Cái gói màu xám này như được làm mềm bởi nước mắt của tôi sao, khóe mắt anh như long lanh, tôi không dám nhìn lâu, vì lúc nào anh cũng vời vợi buồn. Anh khóc. Nước mắt tôi không đủ làm loãng những hạt đất sét, phải rồi.

Mai anh sẽ sửa cái quạt cho em. Lời nói của Phả khiến tôi sực tỉnh. Tôi nhìn lên trần nhà, những cánh quạt vẫn quay nhưng chậm. Loẹt xoẹt. Kin kít.

Ngày lễ mình sẽ đi đâu chơi? Phả lắc đầu, tại sao ngày lễ cứ phải đi chơi. Phả nhìn ra con đường trước mặt. Hàng cây lũ người kia mới trồng, cao lêu nghêu, trụi hết lá. Họ đã chấm dứt công việc dã tràng của mình bằng những cây thân gỗ chứ không như những lần trước, những loại cây cảnh lá đỏ đỏ vàng vàng. Họ giấu diếm sự ăn cướp của mình thật khéo léo. Họ giăng lên những cây thân gỗ mới bứng đâu đó về bao nhiêu là cờ hoa, biểu ngữ, áp phích quáng cáo, mới cũ, đủ phong cách. Tấm áp phích quảng bá một cuộc thi hoa hậu. Những tờ giấy trắng dán lên cây ngang dọc, khi ngay ngắn. Những cô ca sĩ dài ngoằng, tung bay phần phật theo tấm vải rực rỡ, lòe loẹt và nhập nhằng chính tả. Họ là những người ăn cướp, mà dòng họ kia thì chẳng biết là hèn nhát hay sao mà chỉ đứng yên nhìn mồ mả nhà mình tan hoang. Hai dòng họ này thật buồn cười.

Mọi thứ đâu đến nỗi như Phả ngày nào cũng cẳn rẳn phàn nàn chứ, tôi muốn đi chơi, để giống mọi người. Nếu không ra khỏi cái quán nhỏ này, tôi sẽ điên mất. Lạc lõng. Ngoài cái quán nhỏ này, ngoài cái chợ, tôi chẳng đi đâu, không chùa chiền, không lễ hội, không quần áo đẹp, không ước mơ. Ngày lễ, tôi sẽ ra khỏi nhà, khỏi cái bếp nóng nực này để được giống mọi người. Phải rồi, tôi phải giống họ, phải trở nên giống họ, những con người lạc quan và kiêu hãnh nhất hành tinh này.

Chỉ một lát mà Phả đã uống chục chai bia. Anh uống để chết sao? Anh biết được ngày mình chết nên chẳng còn thiết sống, cũng phải. Nếu là tôi, tôi cũng thế.

Tối hôm đó, hai chúng tôi thức trắng một đêm. Cố nài nỉ nhưng Phả vẫn không chịu dẫn tôi đi chơi vào ngày lễ. Thì đành vậy, tôi lọ mọ vào bếp từ ba giờ sáng. Tôi mở bài hát anh thường nghe, nhưng hai mắt vẫn mở thao láo. Anh lại mở tủ lạnh, và uống, tôi không ngăn được. Tôi làm đủ việc chỉ để chờ trời sáng. Những khúc xương. Những miếng thịt. Chất bảo quản. Gia vị. Rau cỏ. Hai mắt tôi hoa lên, chẳng nhìn rõ.

Tôi gọi cô bé giúp việc, sực nhớ nó đã đã xin nghỉ lễ một tuần.

Chán chê, gần sáng, tôi lại lôi đống chén đĩa ra lau. Lau đi lau lại. Chẳng hiểu sao, từ khi nào, nhìn cái gì cũng nửa vời, dở chừng, chẳng sạch sẽ thơm tho, chỗ nào cũng lúc nhúc mầm bệnh.

Nồi nước dùng bốc khói nghi ngút và sôi sùng sục khiến tôi thấy dễ thở hơn phần nào. Kiểu gì hôm nay ông khách khó tính đó cũng sẽ ghé quán tôi. Thế thì, tôi sẽ nấu cho ông một món đặc biệt, khiến ông phải thật hài lòng.

Tiếng còi của xe cứu thương, quang quác, như muốn đánh thức cả khu phố dậy. Tôi đi tới đi lui, sao mà trời lâu sáng thế. Mưa. Lại mưa. Mưa bất ngờ đến mức chẳng kịp trở tay. Bình thường tôi cũng gan lỳ lắm chứ không như hôm nay. Hoang vắng. Kinh hoàng. Tôi bắt đầu thấy lạnh.

Tôi nếm lại nồi nước dùng thêm lần nữa. Chắc phải đến chục lần, nếm đi nếm lại mà chẳng thấy ổn chút nào. Mặn. Lờm lợm. Khai khai. Thum thủm cũng có. Thêm một chút bột siêu ngọt nào, tôi ném vào nồi nước một vốc thật lớn, rồi thử lại. Chẳng ra sao cả. Thêm chút nước xem, lại không ổn. Nồi nước bốc hơi ngun ngút phả vào mặt tôi đủ loại mùi của gia vị.

Tôi ngồi vắt chân lên ghế, nghếch mắt xem ti vi, thực ra tôi đang nhìn Phả. Lúc này, anh không uống nữa. Chắc ngần ấy chai bia đã làm anh nhớ đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Anh bấm điện thoại. Tôi nhổm dậy, đưa anh một một viên thuốc ngủ Seduxen liều cao. Anh cầm lấy và bóc lên hai viên còn lại trong vỉ cho vào miệng, và hí híu vào cái điện thoại.

Ánh mặt trời bắt đầu ló dạng. Hôm nay là ngày cuối cùng của kỳ nghỉ lễ, nhưng đường còn vẫn vắng lắm, người qua lại thưa thớt.

 

 

***

 

Phả vẫn ngủ ngon lành. Tôi lay mãi nhưng anh chẳng biết gì.

Bàn tay của anh giống hệt bàn tay của bố tôi, mềm và thon như tay con gái. Anh hay đùa, bạn tay này sẽ khiến nhiều phụ nữ đau khổ. Tôi chỉ nhớ bố mình qua bàn tay mà thôi. Lúc ông chết, mặt mũi ông sưng vúp, chẳng ai nhận ra, may mà bàn tay còn nguyên. Hai ngày liền, tôi cứ ngồi ì ở giường ông nằm nắm lấy hai bàn tay của ông. Lúc đó, tôi đã hiểu về cái chết, tôi những muốn nắm lấy tay ông thật lâu, ngày này qua ngày khác để hơi lạnh ngấm vào mình và mình có thể chết theo ông một cách dễ dàng, êm ái nhưng nào có phải. Tôi yêu Phả cũng vì Phả có bàn tay giống bố tôi. Sự so sánh này, nhiều lúc khiến tôi có cảm giác chúng tôi ruột rà với nhau. Dần cũng quen. Cũng phải thôi con người ta có chung thủy tổ mà.

Nghĩ cuộc đời ông cũng bất hạnh thật, khi còn sống lúc nào cũng mang tiếng mang tội với dòng họ là không sinh được con trai. Rồi tộc họ cạch mặt ông, làm một cái đơn viết rất rõ đuổi ra khỏi dòng họ. Hình dạng, màu sắc của con dấu và những ngón tay điểm chỉ tôi vẫn còn nhớ mang máng. Giỗ chạp, tết nhất họ tộc cấm không cho chúng tôi thắp nhang, thờ cúng. Chắc trên đời này chẳng có dòng họ nào độc ác và điên khùng như cái dòng họ chúng tôi. Ông buồn chán và suốt ngày trốn đi ra ngoài Thung Lũng. Có lẽ vì thế mà ông lâm bệnh nặng và chết sớm hơn những người khác. Ngày ông chết, tôi đang tung tăng đi học về, người hàng xóm chạy ào tới, cha mày chết tươi ở nhà rồi kìa. Giọng nói bà hàng xóm xấu bụng rộn ràng đắc thắng làm sao. Chắc hẳn cái chết của bố tôi không mang lại niềm vui cho bà ta nhưng tại sao bà ta lại nói thế, tôi không hiểu.

Suốt ba ngày đám tang, mẹ tôi than trách ông sao ra đi mà chẳng nói gì, bà chỉ muốn đi theo ông mà thôi, chẳng thiết sống chút nào cả. Bà hàng xóm xầm xì, chết rồi để con bé cho ai, không lẽ để cho tôi chắc. Bà ta không có con, nhưng bà ta chẳng yêu thích gì trẻ con cả. Gặp trẻ con là cái mặt bà ta nhăn nhúm lại như ngửi phải mùi mắm thối. Được cả đôi, ông chồng bà ta cũng có kém gì, lại còn tính đàn bà nữa.

Thi thể bố tôi được quấn chặt trong một tấm vải trắng, trắng tinh và sạch sẽ, rồi một tấm vải trắng khác, rồi một tấm vải xanh.

Suốt mấy tuần liền, tôi chẳng bước chân ra đường, chẳng đi học, chẳng nói năng gì. Bố tôi cũng chẳng hiện về với tôi một lần nào. Lễ bốn chín ngày, chỉ có hai mẹ con chúng tôi và tấm ảnh trên bàn thờ. Mụ hàng xóm không qua hóng chuyện hay hương khói như hôm đám tang. Khoảng mười một giờ trưa, trời nắng như vỡ đầu, bỗng ở đâu xuất hiện một người đàn bà dẫn theo đứa bé trai, bé tầm năm sáu tuổi đứng trước cửa nhà, với dáng vẻ ngần ngại. Một người lạ! Chưa gặp bà ta lần nào, nhưng đứa bé thì quen quen, cứ như đã gặp nó ở đâu rồi.

Người khách lạ có vẻ chân thành lắm. Bà ta thắp nhang và vái lạy như thể mình ruột rà với người chết, tôi ứa nước mắt. Lưỡng lự cả một hồi, bà ta mới mạnh dạn nói với mẹ tôi. Thằng bé vẫn ngơ ngác, thậm chí là sợ hãi khi nhìn tôi, cho dù tôi chỉ nhỉnh hơn nó một chút. Nó là đứa con riêng của bố tôi.

Đứa bé đó chấm dứt nỗi đau của người đàn ông không cho ra đời một đứa con trai, như thể là danh dự, như thể là điều tối tối thiểu của tất cả mọi người đàn ông trong họ tộc. Tôi choáng váng, vui mừng và tủi thân. Nhưng nó chỉ sống được với mẹ con tôi mấy ngày. Mệnh yểu quá, nó chỉ về, như gở gạc danh dự cho bố tôi và ra đi mãi mãi. Nếu nó không giống bố tôi, thì có lẽ ngần ấy ngày nó chẳng đọng lại trong tôi điều gì cả.

Hôm nay tôi nhớ cái thung lũng đó quá. Lúc tôi ra đi, thung lũng xác xơ, một trận lũ, cuốn phăng và lấp lại tất cả. Mồ mả, nhà cửa, trâu bò, lợn gà, cả những người già nữa.

Tôi đớn hèn, sợ hãi, tôi không dám trở về nơi mình sinh ra. Một thung lũng thưa vắng bóng người. Nó thưa vắng bởi sự già nua và những nỗi sợ vô hình khác không rõ ràng, phân minh. Cái nơi đấy, chỉ có sự già nua là tồn tại mà thôi.

 

***

 

Hai đứa đi trăng mật ở miền quê. Hy vọng chuyến đi sẽ làm chúng tôi trở nên khăng khít với nhau hơn. Nhìn mặt anh buồn buồn, nên tôi chẳng nói gì.

Sắp đến nơi, tôi mới hỏi anh, sao chúng ta lại nghỉ ở thành phố Trẻ, Phả cười, là vì bạn anh muốn thế. Thật biết pha trò, tôi chẳng thể hỏi gì thêm. Lượn lờ khắp thành phố đến nửa đêm mới kiếm được cái khách sạn ổn ổn. Phả đùa, nếu tối nay không kiếm được khách sạn thì chúng ta sẽ ở đâu. Tôi cười. Sực nhớ cả ngày hôm nay, chúng tôi chưa hôn nhau lần nào, thậm chí là nắm tay nhau, tôi ngả đầu vào vai chồng mình thủ thỉ. Hai đứa cùng cười.

Thành phố Trẻ này cái gì cũng thổi phồng lên so với sự thực nó có. Không lẽ đến nơi lại quay về, Phả làu bàu. Tôi đưa mắt nhìn lên trần nhà, quạt thì gãy cánh, nhìn như muốn rơi xuống đầu mình. Sàn nhà vừa cũ vừa bẩn. Đến cái thảm giậm chân cũng tệ, rách bươm.

Nếu không có cửa sổ chống muỗi thì không biết đêm nay chúng tôi sẽ ăn ngủ kiểu gì. Anh vào nhà tắm, xẳ nước. Tôi mở máy tính, thói quen mới của tôi, là viết những đoạn nhật ký ngăn ngắn trên máy. Nhiều lúc anh than phiền về tôi, vì thói quen này, sử dụng quá nhiều thời gian cho cái máy tính nhưng tôi chẳng bỏ được. Mà chính tôi cũng không hiểu, mỗi lần nhìn anh buồn, suy tư, trầm tư tôi lại suy đoán nội tâm của anh, lúc nào tôi cũng muốn biết chồng mình đau khổ thế nào, để chia sẻ. Đêm tân hôn mà cãi nhau thì suốt cuộc đời cãi nhau mất, nghĩ thế nên tôi tắt ngang máy. Tôi quên béng là đang viết dở. Cũng lúc anh tắm xong. Hóa ra bây giờ đã là vợ chồng, nhưng chúng tôi vẫn thấy lạ lẫm và xa xôi.

Thôi thì mang cả bụi bặm của khu phố nghèo (nhưng lúc này, nó còn khá hơn) lên giường mà ngủ vậy. Tôi rón rén mở món quà cưới ra xem. Phả bảo, ngủ đi, giờ này đi mở quà, đúng là đàn bà, cứ nhìn thấy quà là mắt sáng. Một bộ váy ngủ màu đỏ, lúc tặng, cô tôi bạn bảo, cứ mặc bộ nào vào, bảo đảm thằng chồng của nàng, cho đến mức nó cù lần nhất thế gian cũng phải tan chảy. Chẳng có gì mới mẻ cả, tôi xếp nó vào hộp quà và buộc lại nơ.

Ngồi soi sương và trang điểm mặt mày lại một lát, quay ra thì Phả đã ngủ khi nào chẳng hay. Phả nói trong ngái ngủ, sao cứ loay hoay mãi thế, ngủ đi cho xong. Đêm tân hôn của họ chỉ có thế.

Sau này, cô bạn tôi cứ dò hỏi về bộ váy ngủ, tôi bảo một chút nồng nàn, một chút buồn bã, hệ quả là đứa con đang mang trong bụng mà thôi. Nghe thế, cô ta lắc đầu.

 

***

 

Phả đã nghĩ đến sợi dây thừng. Khi người ta cùng quẫn, người ta sẽ cần đến sợi dây thừng. Anh đã cùng quẫn thực sao! Anh còn có một ngôi nhà nhỏ, để chui ra chui vào, thậm chí cả có nhiều cô bồ, không sẵn sàng chết nhưng sẵn sàng qua đêm và uống với anh cho đến lúc say bí tỉ. Anh còn có cả ký ức để sống và giày vò nữa.

Những cây phượng bắt đầu ra lá non. Cứ như vì mùa xuân cuối cùng của anh nên ông trời đã vẽ tặng cho anh một bức tranh tuyệt đẹp làm kỷ niệm. Ôi anh lại nghĩ quẫn rồi. Cần mang anh đến bác sĩ tâm thần. Phải rồi. Và rồi chúng tôi đi. Ngay hôm đó.

Bệnh viện tâm thần cách thành phố này không xa nhưng đường xá thì tệ không tả nổi. Đi lại khó khăn như thể, người ta đã nghĩ ra cách hành xác bệnh nhân và bạn bè, thân nhân của họ. Cách hành xác là một kiểu chẩn đoán đơn giản nhất, nói gọn gàng là sát hạch, giống vào bao quá trình vớ vẩn, rườm rà hiện nay.

Tôi và anh đến bến xe, gặp một người đàn ông đi cà thọt cùng với chiếc nạng gỗ. Ông ta bảo mình biết đường đến đó, và ông ta cũng đang trên đường đến đó. Trước đây ông ta từng là quận trưởng. Kiểu nói chuyện của ông ta rất dễ biểu lộ sự thiếu đối thoại mình, cái kiểu bệnh thèm người nghe mình nói, ông cứ liên thiên đủ chuyện. Thế chẳng bảo sao nói chuyện với chúng hợp gu. Chuyện gì đã nói rồi thì thôi, đây ông cứ nhắc đi nhắc lại, muốn bỏ ngoài tại cũng chẳng được. Ông ta bảo trước đây ông từng là sĩ quan. Bàn tay ông ta đã bắn chết không biết bao nhiêu kẻ thù. Giọng miền Nam của ông đặc sệt như nước da của ông vậy, chẳng lẩn vào đâu. Có khi nào ông ta bắn những người ở làng quê chúng tôi không, vì nghe đồn ở thung lũng chôn xác hàng trăm liệt sĩ. Nghe ông ta nói mà tôi chạnh lùng, rùng rợn, nên đanh né sang chuyện khác.

 Bệnh viện giữ Phả ở lại. Tôi xin nhập viện, đủ mọi lý do nhưng họ một mực từ chối. Ngay trong buổi trưa hôm đó, tôi leo lên xe về.

Tôi chẳng biết gì nữa vì quá mệt.

Tôi ngủ liền đến sáng hôm sau mới dậy. Tỉnh dậy thì thấy gian bếp gọn gàng lạ thường. Thậm chí không quen nhìn. Đang có thai, việc gì tôi cũng nhờ cô bé giúp việc đó. Cô bé này có anh bạn thật chu đáo và giỏi. Thằng nhóc tên Tình. Tình quán xuyến tất cả. Từ ngày có Tình, khách khứa vào ra tấp nập hẳn lên. Sáng, họ đã gõ cửa đợi ăn rồi, đợi lâu họ vẫn vui vẻ. Tôi đâm ra rảnh tay rỗi chân, muốn ngủ nhưng lại không ngủ được. Bác sĩ dặn không được uống thuốc ngủ.

Tôi đếm ngày và biết rằng đây là những ngày cuối cùng của Phả. Tôi không thể ngăn chặn cái chết đến với anh, bất lực nhìn mỗi ngày hai tư tiếng trôi qua phung phú. Mỗi công dân ở thành phố này đều phải thỏa hiệp với thần chết, khi tuổi còn trẻ.

Tôi mở mắt ra và thấy Tình loáy hoái bếp núc. Nó làm chăm chỉ đến mức người ngoài nhìn vào nghĩ chúng tôi dắt mũi nó. Nó trả lời, nó đâu có là bò đâu mà dắt mũi.

 

***

 

 

Phả gọi điện về cho tôi, bảo anh muốn được tôi luyện linh hồn ở mảnh đất đó, và ngăn tôi đừng đến đấy làm gì. Anh dặn tôi chăm con. Tôi im lặng. Hôm qua tôi đã uống phải một loại thuốc giết người, đứa con của tôi đã trôi tuột ra khỏi tôi. Khi tôi chạy đến khiếu nại bà bác sĩ thì bà ta đã rời nơi này, bà ta nghỉ hưu ngay trưa hôm qua. Tôi chỉ muốn điên. Nhưng tôi không dám nói chuyện này với Phả. Anh sẽ điên. Anh sẽ chết sớm hơn dự định. Rồi Phả tắt máy.

Lát sau điện thoại reo. Tình bắt máy. Nó mang luôn gang tay đang ướp thịt cá cầm lấy ống nghe. Rồi nó bảo Phả muốn gặp tôi. Nhìn gang tay nó đeo tôi muốn nôn quá, mặc dù trong bụng tôi chẳng còn mang đứa bé nữa. Tôi vuốt vuốt cổ. Phả mắng như tát nước vào mặt tôi. Đồ ăn thịt người. Rồi Phả tắt máy. Tôi chẳng có cách nào gọi lại cho Phả. Ở bệnh viện tâm thần quái quỷ đó, người ta cấm người nhà gọi đến cho bệnh nhân. Tôi biết làm sao đây.

Tôi ngồi phịch xuống nền nhà.

Tôi bảo Tình đóng cửa đi, không bán buôn gì cả. Tôi mệt lắm. Nhưng nó không nghe thấy. Mà khách đang đông thế kia, chẳng lẽ đuổi người ta về. Hơn nữa một mình nó với con bé kia làm việc còn không hết, hơi đâu nó bận tâm đến câu nói của tôi.

Bụng tôi không đau, chỉ là thấy rỗng, thấy thiếu thốn, đói rách mà thôi. Như chẳng chứa gì, chẳng tim phổi, chẳng hít thở, chẳng lưu thông máu huyết. Tôi không ốm nghén. Nhiều người quá, cứ như họ tràn vào cái quán này để hít hết không khí không cho tôi thở.

Tôi hỏi Tình, có việc gì cho tôi làm không, buồn tay chân quá. Tình bảo, hay leo lên taxi đi lấy gang tay về cho Tình, vừa nói, Tình vừa gọi taxi, số quen của nó. Năm phút sau, một chiếc taxi đỗ trước cửa. Tôi cầm chiếc ô ra ngoài. Vào tới xe, tôi gập ô lại. Anh lái xe chẳng buồn hỏi tôi đi đâu.

Anh ta chở tôi đến bệnh viện phụ sản. Nơi này, tôi mất đứa con duy nhất, bé bỏng mà chưa bao giờ biết mặt mũi con mình ra sao. Tôi bảo anh ta, quay xe về nhưng anh ta im lặng, chẳng đả động gì. Từ phòng gác cổng, bác bảo vệ đưa cho tôi một túi bóng, bên trong có chứa những đôi gang tay như Tình dặn. Tôi mất trí thật rồi, đây là những đôi gang tay hàng ngày Tình dùng để nấu nướng, ướp tẩm thịt cá, rửa bát đũa, lau nhà, lau bàn. Trời đất ơi, ngày nào tôi cũng nghe mùi tanh tanh của máu, nhưng cứ nghĩ đó là mùi của túi đất sét và túi quặng mà Phả đem về cho tôi trong lần đi về thung lũng Già Nua. Tôi không được biết gì cả sao. Cái gì tôi làm theo lời Tình.

Hai trăm đôi gang tay, cầm nó lên, ban đầu tôi thấy ớn lạnh nhưng lại tự vấn an mình. Sao Tình lại nghĩ ra việc dùng những đôi gang tay này để làm bếp chứ, nó chẳng hỏi han, xin phép tôi một tiếng. Con bé này, đi chơi mấy ngày về lôi đâu ra thằng người yêu khác lạ thế không biết. Tôi chưa bao giờ xem giấy tờ tùy thân của Tình, vì nhìn mặt nó tôi thấy tin tưởng.

Những đôi gang tay, họ đã ngâm nó trong thuốc tẩy nhưng tôi thấy cảm thấy mùi máu trên đó, cả vết máu và dấu vân tay. Nghĩ thế mà tôi vứt toẹt xuống đường. 

Làm sao đây, ai cứu tôi đây, những người khách đang đợi, họ cần tôi, họ cần đuợc ăn, cái thành phố này không thể ngưng hoạt động được. Mà lỡ như ai nhặt lấy những đôi gang tay đấy thì sao nhỉ? Tôi đau bụng quá.

Anh lái xe dừng xe lại tấp bên đường đột ngột và nhảy xuống nhặt mớ giang tay lên.

Xe tiếp tục đi. Chung cư bệnh viện trải dài bên tay phải, vắng ngắt, tắt ngúm đèn đóm. Chỉ có ánh sáng phát ra từ chiếc taxi này mà thôi, trong đêm đen kĩu kịt. Tôi cảm tưởng như mình đang tham gia vào một trò chơi không đoán trước, đang đi giải một mật thư nào đó, của một trò chơi con nít, không hơn gì hết.

Xe chạy qua đoạn đường vắng ngát.

Tối om.

Xa quá. Đi mãi chưa về tới nhà.

Ánh lái xe đạp ga, lao như điên, tôi bảo đi chậm chút đi, làm ơn, tôi mới sẩy thai hôm qua. Ánh lái xe gắt, thế để người ta chết đói cả lũ à.

 

K.N

Sài Gòn, Mùa Thu 2014

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 130)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 73)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2266)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1495)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1367)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2346)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1874)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2511)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1767)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2260)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1767)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11658)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18260)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17303)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2346)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2511)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 3782)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 3804)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 123)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 1874)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3515)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3145)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2266)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2260)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2410)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2623)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 68)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1495)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1367)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2528)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4329)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14837)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30981)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37608)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12681)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13975)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5022)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7450)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6617)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7013)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 7905)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9695)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8935)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11825)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.