- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,469,075

Thơ Thuận An

02 Tháng Mười 20141:36 SA(Xem: 17863)
Xanh Nhu Ngay Cu
Xanh Như Ngày Cũ- tranh sơn dầu Đặng Hiền 2001



Rất vui khi nhận được thư của nhà biên khảo Đinh Văn Tuấn là tác giả bài viết đã đăng trên HL về Quốc Tử Giám cho biết anh  có một số bài thơ (bút hiệu Thuận An)  gửi đến để chia sẻ cùng bạn đọc của Hợp Lưu. Những  bài thơ của Thuận An viết dưới những ghi chú tháng ngày như dạng nhật ký của tác giả. Chúng tôi trân trọng mời quí bạn đọc cùng vào thăm thế giới thơ của Thuận An.

TẠP CHÍ HỢP LƯU

 

29/7

Lầm đường

 

Tình ta lệ nhỏ hoen môi

Vẫy tay tê dại đâm chồi nhớ thương

Trót yêu lỡ dại lầm đường

Thôi về đốt lửa mơ màng làm thơ

 

Tắt lửa

 

Đêm không trăng mộng

Mắt thẳm xa xăm

Mưa sao vùi dập

Tắt lửa trăm năm

 

Tơ vương

 

Lời như roi vút

Nát nhớ tan thương

Mảnh tình lăn lóc

Gượng cười tơ vương

 

30/7

Còn đây

Một thuyền kỷ niệm

Mưa lũ cuốn phăng

Còn đây hơi thở

Cọng cỏ vĩnh hằng

 

Định mệnh

Bặt vô âm tín

Hy vọng nhạt nhòa

Đoạn trường vẫy gọi

Định mệnh nở hoa

 

Lắc đầu

Chim non thức giấc

Lẻo mép vô tâm

Xốn xang lá rụng

Lắc đầu lặng câm

 

Đường về

Đường về bỗng lạ truân chuyên

Mây sầu ôm núi mưa phiền muộn vương

Đêm rơi vực thẳm bẽ bàng

Ngày cao vút cõi thiên đường mộng mơ

 

Thơ say

 

Con thơ , vợ bệnh

Nhà dột tung tăng

Sách trơ buồn tủi

Thơ say cạn trăng

Túy lúy

Rượu tối om om

Lách cách ánh trăng

Men tình túy lúy

Mộng mãi lằng nhằng

 

Phục sinh

 

Tim treo thập giá

Cứu rỗi tinh thần

Hồn phục sinh đến

Tỏa sáng thế gian

 

31/7

Bão

 

Bão giông về tới biên thùy

Hồn anh hóa gió nhu mì phiêu du

Tình em rét mướt ngục tù

Mưa thu trút nhớ sương mù hóa thân

 

Không đề*

 

Ngỡ ngàng dĩ vãng hoang liêu

Trăm năm say khướt buồn thiu lại buồn

Người xưa lạ, nhớ bồn chồn

Kiếp này thức trắng với hồn bao đêm!

*(Ngẫu hứng chuyển thành Lục bát dựa vào ý tứ thơ Không đề  của Cao Tự Thanh: Không đề

Vùng dĩ vãng hoang tàn nhìn bỡ ngỡ,

Buồn trăm năm muốn uống đến say mềm.

Người thiên cổ không quen mà cũng nhớ,

Kiếp này còn thức trắng tới bao đêm!)

 

Ước mong

Ngày về gió thảm mưa sầu

Buồn xem non nước đục ngầu đổi thay

Chim câu gãy cánh đọa đày

Còn đây chút lửa đêm dài ước mong

 

Trăng rằm

Người xưa xa khuất

Lỗi hẹn trăm năm

Gửi tin theo gió

Chút ánh trăng rằm

 

Mộng

 

Vo tròn bóng tối

Nhét vào thời gian

Hồn cười sảng khoái

Mộng đã lụi tàn

 

 

 

 

1/8

Vô đề


Yêu thương thắm thiết

Ghét giận điên cuồng

Dục tình đắm đuối

Tim lạnh trần truồng

 

Một điều

Dẫm lên biển cả

Núi nhoẻn miệng cười

Một điều chưa nói

Chạm đến tận trời

 

Vô đề

 

Đời anh thẳng tắp tận cùng

Sao em lại nỡ lạ lùng uốn cong?

Anh leo đỉnh núi hát rong

Em tung tăng dỡn giữa lòng đại dương

 

Cô đơn

 

Chờ em bạc trắng mái đầu

Cho thiên thu gọi u sầu viễn mơ

Biết đâu là bến là bờ

Cô đơn sâu thẳm mịt mờ hiển linh

 

2/8

Tinh mơ


Bồng bềnh cõi mộng hoang sơ

Nghe thiên cổ lụy sững sờ trăm năm

Tinh mơ người đẹp hỏi thăm

Hoa thơ hé nở cuộn nằm nắng ru

 

Nghiên bút

 

Nửa đời tùy mệnh nhi an

Cọ khô, màu úa lụi tàn hôm qua

Bỗng nhiên nghiên bút mở ra

Dấu xưa tìm lại, thơ đùa rong rêu

 

Niềm vui

 

Niềm vui một sớm khai hoa

Tàn đêm cổ điển chói lòa ánh dương

Em ơi siêu thoát vô thường

Cô liêu li biệt giữa đường tình yêu

 

Say

 

Say mê say mẩn vẫn say

Say em phút chốc đọa đày tấm thân

Tỉnh ra ló dạng trăng ngần

Mưa thơ phảng phất cõi trần phù du

 

Chớm thu

Biết đâu là bến là bờ

Mây treo đỉnh núi lững lờ hư không

Hương xa phảng phất mây hồng

Nào hay ánh sáng hóa rồng chớm thu

 

Nhìn nhau

 

Thương em chín bỏ làm mười

Ruột đau như cắt vẫn cười như không

Mưa rơi trắng xóa cánh đồng

Lỡ mùa gặt hái vợ chồng nhìn nhau

 

Dấu yêu

 

Bạn ơi chớ vội cười chê

Mình đang mót lúa trót thề với trăng

Đêm nay tháng bảy mưa giăng

Mình đang bì bõm, vùng vằng dấu yêu

 

Tình ôi

 

Anh về vét cạn dấu yêu

Em đi trang điểm mỹ miều nhớ nhung

Tình ôi tiếc nuối mịt mùng

Mai sau hẹn ước ngại ngùng với ai

 

Chiều thu

 

Ngồi đây tủm tỉm cười thầm

Cõi đời phiêu lãng thì thầm thiên thu

Em xa thăm thẳm tít mù

Nụ hôn nhõng nhẽo chiều thu tuyệt vời

 

Tình si

 

Chiều thu chém gió trảm mưa

Mưa tê dại ý cho chừa tình si

Chưa say em chớ thầm thì

Say rồi anh trút lâm li dại khờ

 

Đâm nghiền

 

Say sưa tớ đếch muốn chừa

Chỉ chừa một chữ dạ thưa vợ hiền

Cõi tan đời nát quá phiền

Thương em anh dại đâm nghiền ứ hư

 

Say thơ

 

Thơ say thơ mộng thơ điên

Tỉnh ra mới biết một miền chung thân

Bạn cười điên đảo cõi trần

Ghẹo hoa cợt gió xuất thần say thơ

 

 

 

3/8

Im lặng

 

Hơi thở im lặng

Tan bóng vỡ hình

Lời không chuyển ngữ

Ý đọng vô minh

 

Sương khói

 

Lời cao ý đẹp

Mật ngọt tâm tình

Chỉ là sương khói

Còn ta với mình

 

Vô đề

 

Mộng sầu lịm tắt

nhạt loãng tương tư

Hồn tan muôn nẻo

Lẻ bóng bao giờ?

 

4/8

 

Chớm thu

 

Nắng hồng õng ẹo ngủ quên

Mưa giăng mây phủ , lời nguyền chia ly

Tiếng chim hót mãi lâm li

Một trời mộng tưởng nằn nì chớm thu

 

Vắng em

Vắng em héo rũ một ngày

Nhớ quay nhớ quắt lưu đày cõi hoang

Nước trôi, bèo dạt hai hàng

Cánh chim bạt gió bàng hoàng đêm nay

 

Ước hẹn

Vầng trăng ước hẹn mặt trời

Một mai diện kiến tỏ lời trao duyên

Mây trôi xa thẳm u huyền

Hồn bay vô tận cõi miền tịch liêu

 

5/8

Khai nguyên


Đưa em vào cõi khai nguyên

Trời long đất lở, ưu phiền tan hoang

Ngày đêm trút mộng bàng hoàng

Một thiên tình sử mở toang tận cùng

 

Lót đường

 

Thương em ríu lưỡi lặng câm

Tình run ý cuống, mắt thầm liếc ngang

Anh về thức trắng mộng vàng

Thơ tình ngàn lá lót đường xe hoa!

 

THUẬN AN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2812)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6755)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3580)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
06 Tháng Tám 20204:13 CH(Xem: 106)
một chút tóc cũng rối bời mây hạ / một chút bàn tay vẫy bỗng hiền khô / một chút bờ vai thong dong phố thị / một chút mắt môi thảng thốt đợi chờ /
06 Tháng Tám 20203:58 CH(Xem: 54)
Đừng vì anh / hãy mê mải cánh chim / giông giống nụ hôn ố vàng rơi bay mùa lá /
06 Tháng Tám 20203:37 CH(Xem: 99)
Có thể bây giờ nơi xa đó Ngày chỉ vừa lên trong nắng mai Giọt sương còn đọng long lanh ướt Và café nóng tỏa khói bay.
06 Tháng Tám 20203:32 CH(Xem: 130)
Quên rồi em đã quên tôi / Tháng giêng qua ngõ còn cười tháng hai / Phai thu lạnh sắc trang đài / Trăng ba vòng nguyệt đau hoài cùng trăng
06 Tháng Tám 20202:43 CH(Xem: 75)
Trăm năm ở tạm chốn này \ Trần gian sinh ký đọa đày bể dâu \ Trầm thăng bao nỗi cơ cầu \ Nợ nần chưa dứt nỗi sầu cưu mang \
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 692)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 340)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./