- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,615

Thơ Thuận An

02 Tháng Mười 20141:36 SA(Xem: 21761)
Xanh Nhu Ngay Cu
Xanh Như Ngày Cũ- tranh sơn dầu Đặng Hiền 2001



Rất vui khi nhận được thư của nhà biên khảo Đinh Văn Tuấn là tác giả bài viết đã đăng trên HL về Quốc Tử Giám cho biết anh  có một số bài thơ (bút hiệu Thuận An)  gửi đến để chia sẻ cùng bạn đọc của Hợp Lưu. Những  bài thơ của Thuận An viết dưới những ghi chú tháng ngày như dạng nhật ký của tác giả. Chúng tôi trân trọng mời quí bạn đọc cùng vào thăm thế giới thơ của Thuận An.

TẠP CHÍ HỢP LƯU

 

29/7

Lầm đường

 

Tình ta lệ nhỏ hoen môi

Vẫy tay tê dại đâm chồi nhớ thương

Trót yêu lỡ dại lầm đường

Thôi về đốt lửa mơ màng làm thơ

 

Tắt lửa

 

Đêm không trăng mộng

Mắt thẳm xa xăm

Mưa sao vùi dập

Tắt lửa trăm năm

 

Tơ vương

 

Lời như roi vút

Nát nhớ tan thương

Mảnh tình lăn lóc

Gượng cười tơ vương

 

30/7

Còn đây

Một thuyền kỷ niệm

Mưa lũ cuốn phăng

Còn đây hơi thở

Cọng cỏ vĩnh hằng

 

Định mệnh

Bặt vô âm tín

Hy vọng nhạt nhòa

Đoạn trường vẫy gọi

Định mệnh nở hoa

 

Lắc đầu

Chim non thức giấc

Lẻo mép vô tâm

Xốn xang lá rụng

Lắc đầu lặng câm

 

Đường về

Đường về bỗng lạ truân chuyên

Mây sầu ôm núi mưa phiền muộn vương

Đêm rơi vực thẳm bẽ bàng

Ngày cao vút cõi thiên đường mộng mơ

 

Thơ say

 

Con thơ , vợ bệnh

Nhà dột tung tăng

Sách trơ buồn tủi

Thơ say cạn trăng

Túy lúy

Rượu tối om om

Lách cách ánh trăng

Men tình túy lúy

Mộng mãi lằng nhằng

 

Phục sinh

 

Tim treo thập giá

Cứu rỗi tinh thần

Hồn phục sinh đến

Tỏa sáng thế gian

 

31/7

Bão

 

Bão giông về tới biên thùy

Hồn anh hóa gió nhu mì phiêu du

Tình em rét mướt ngục tù

Mưa thu trút nhớ sương mù hóa thân

 

Không đề*

 

Ngỡ ngàng dĩ vãng hoang liêu

Trăm năm say khướt buồn thiu lại buồn

Người xưa lạ, nhớ bồn chồn

Kiếp này thức trắng với hồn bao đêm!

*(Ngẫu hứng chuyển thành Lục bát dựa vào ý tứ thơ Không đề  của Cao Tự Thanh: Không đề

Vùng dĩ vãng hoang tàn nhìn bỡ ngỡ,

Buồn trăm năm muốn uống đến say mềm.

Người thiên cổ không quen mà cũng nhớ,

Kiếp này còn thức trắng tới bao đêm!)

 

Ước mong

Ngày về gió thảm mưa sầu

Buồn xem non nước đục ngầu đổi thay

Chim câu gãy cánh đọa đày

Còn đây chút lửa đêm dài ước mong

 

Trăng rằm

Người xưa xa khuất

Lỗi hẹn trăm năm

Gửi tin theo gió

Chút ánh trăng rằm

 

Mộng

 

Vo tròn bóng tối

Nhét vào thời gian

Hồn cười sảng khoái

Mộng đã lụi tàn

 

 

 

 

1/8

Vô đề


Yêu thương thắm thiết

Ghét giận điên cuồng

Dục tình đắm đuối

Tim lạnh trần truồng

 

Một điều

Dẫm lên biển cả

Núi nhoẻn miệng cười

Một điều chưa nói

Chạm đến tận trời

 

Vô đề

 

Đời anh thẳng tắp tận cùng

Sao em lại nỡ lạ lùng uốn cong?

Anh leo đỉnh núi hát rong

Em tung tăng dỡn giữa lòng đại dương

 

Cô đơn

 

Chờ em bạc trắng mái đầu

Cho thiên thu gọi u sầu viễn mơ

Biết đâu là bến là bờ

Cô đơn sâu thẳm mịt mờ hiển linh

 

2/8

Tinh mơ


Bồng bềnh cõi mộng hoang sơ

Nghe thiên cổ lụy sững sờ trăm năm

Tinh mơ người đẹp hỏi thăm

Hoa thơ hé nở cuộn nằm nắng ru

 

Nghiên bút

 

Nửa đời tùy mệnh nhi an

Cọ khô, màu úa lụi tàn hôm qua

Bỗng nhiên nghiên bút mở ra

Dấu xưa tìm lại, thơ đùa rong rêu

 

Niềm vui

 

Niềm vui một sớm khai hoa

Tàn đêm cổ điển chói lòa ánh dương

Em ơi siêu thoát vô thường

Cô liêu li biệt giữa đường tình yêu

 

Say

 

Say mê say mẩn vẫn say

Say em phút chốc đọa đày tấm thân

Tỉnh ra ló dạng trăng ngần

Mưa thơ phảng phất cõi trần phù du

 

Chớm thu

Biết đâu là bến là bờ

Mây treo đỉnh núi lững lờ hư không

Hương xa phảng phất mây hồng

Nào hay ánh sáng hóa rồng chớm thu

 

Nhìn nhau

 

Thương em chín bỏ làm mười

Ruột đau như cắt vẫn cười như không

Mưa rơi trắng xóa cánh đồng

Lỡ mùa gặt hái vợ chồng nhìn nhau

 

Dấu yêu

 

Bạn ơi chớ vội cười chê

Mình đang mót lúa trót thề với trăng

Đêm nay tháng bảy mưa giăng

Mình đang bì bõm, vùng vằng dấu yêu

 

Tình ôi

 

Anh về vét cạn dấu yêu

Em đi trang điểm mỹ miều nhớ nhung

Tình ôi tiếc nuối mịt mùng

Mai sau hẹn ước ngại ngùng với ai

 

Chiều thu

 

Ngồi đây tủm tỉm cười thầm

Cõi đời phiêu lãng thì thầm thiên thu

Em xa thăm thẳm tít mù

Nụ hôn nhõng nhẽo chiều thu tuyệt vời

 

Tình si

 

Chiều thu chém gió trảm mưa

Mưa tê dại ý cho chừa tình si

Chưa say em chớ thầm thì

Say rồi anh trút lâm li dại khờ

 

Đâm nghiền

 

Say sưa tớ đếch muốn chừa

Chỉ chừa một chữ dạ thưa vợ hiền

Cõi tan đời nát quá phiền

Thương em anh dại đâm nghiền ứ hư

 

Say thơ

 

Thơ say thơ mộng thơ điên

Tỉnh ra mới biết một miền chung thân

Bạn cười điên đảo cõi trần

Ghẹo hoa cợt gió xuất thần say thơ

 

 

 

3/8

Im lặng

 

Hơi thở im lặng

Tan bóng vỡ hình

Lời không chuyển ngữ

Ý đọng vô minh

 

Sương khói

 

Lời cao ý đẹp

Mật ngọt tâm tình

Chỉ là sương khói

Còn ta với mình

 

Vô đề

 

Mộng sầu lịm tắt

nhạt loãng tương tư

Hồn tan muôn nẻo

Lẻ bóng bao giờ?

 

4/8

 

Chớm thu

 

Nắng hồng õng ẹo ngủ quên

Mưa giăng mây phủ , lời nguyền chia ly

Tiếng chim hót mãi lâm li

Một trời mộng tưởng nằn nì chớm thu

 

Vắng em

Vắng em héo rũ một ngày

Nhớ quay nhớ quắt lưu đày cõi hoang

Nước trôi, bèo dạt hai hàng

Cánh chim bạt gió bàng hoàng đêm nay

 

Ước hẹn

Vầng trăng ước hẹn mặt trời

Một mai diện kiến tỏ lời trao duyên

Mây trôi xa thẳm u huyền

Hồn bay vô tận cõi miền tịch liêu

 

5/8

Khai nguyên


Đưa em vào cõi khai nguyên

Trời long đất lở, ưu phiền tan hoang

Ngày đêm trút mộng bàng hoàng

Một thiên tình sử mở toang tận cùng

 

Lót đường

 

Thương em ríu lưỡi lặng câm

Tình run ý cuống, mắt thầm liếc ngang

Anh về thức trắng mộng vàng

Thơ tình ngàn lá lót đường xe hoa!

 

THUẬN AN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1585)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1630)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2306)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6328)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6188)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13567)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30693)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81715)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20525)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 397)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.