- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,431,240

Tháng ngày lưu lạc

01 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 17886)


chieu-_nhn-content

 Chiều - ảnh Nguyễn Hoàng Nam


Tôi nhận công việc làm thợ sơn trong một hãng sửa chữa tàu sông nằm sát bên hồ Michigan. Thực ra tôi chẳng có chút kinh nghiệm nào trong việc này. Sếp tôi, ông Anthony, cứ nhất định là tôi sẽ làm được.

“Dễ thôi mà!” Ông nhìn tôi sau một hồi rồi bảo thế.

Tôi tự hỏi, lẽ nào ông thấy ra bàn tay cầm cọ của tôi, dù chỉ là thứ cầm cọ để sơn mấy chiếc tàu sắt? Thật tình tôi cũng không biết phải trả lời ra sao với ông nữa. Bao nhiêu ý tưởng chuẩn bị cho lúc phỏng vấn bỗng dưng biến mất. Trong thâm tâm, tôi chỉ mong ông nhận tôi vào làm. Nhưng không ngờ mọi thứ lại đơn giản và dễ dàng đến vậy. Nếu chấp nhận công việc này, tôi buộc phải rời căn phòng đang thuê để tìm một chỗ trọ mới. Điều này tôi không thích chút nào. Ở đấy có mấy gia đình người Việt, chẳng phải bà con gì, nhưng gần những người đồng hương dù sao cũng cảm thấy đỡ lẻ loi hơn. Biết đâu họ có thể giúp tôi lúc đau ốm cũng chưa biết chừng. Nhưng nơi ở hiện tại của tôi quá xa chỗ làm, phải tốn hơn một giờ rưỡi và chuyển đến ba lần xe buýt mới tới nơi. Dạo ấy tôi mới qua Mỹ khoảng một năm, vừa thi được bằng lái, nhưng không đủ tiền để mua xe, dù là một chiếc xe cũ. Tôi nghĩ nên thử xem công việc thế nào, trước khi tính đến chuyện thay đổi chỗ ở.

 Ngày đầu tiên đi làm, tôi được Anthony giảng giải về tính chất hóa học của các loại sơn, tỉ lệ pha chế giữa chúng với nhau để tạo ra màu mới, và việc cầm cọ ra sao để sơn được đều, không bị dày nhưng cũng không quá mỏng. Sau phần lý thuyết, Anthony dẫn tôi xuống tầng hầm, chỉ tay vào các khoang sắt rỗng nằm dọc đáy tàu.

“Công việc của anh là sơn những thứ này,” ông nói.

“Thứ này á?…” Tôi thốt lên ngơ ngác.

Tôi muốn kêu Chúa ơi, nhưng kịp nuốt tiếng nói trở lại vào miệng. Nhìn những mảng sắt xám ngắt đến nham nhở, vài chỗ đã bắt đầu hoen rỉ, tôi cảm thấy thất vọng. Trong tưởng tượng của tôi, công việc đáng ra phải khác, thế nhưng nó lại bụi bặm và nhơ nhớp như thế này.

“Nào, bắt đầu thôi anh bạn trẻ,” ông kêu lên.

Anthony cầm một chiếc cọ nhúng vào thùng sơn đã trộn sẵn, xong quẹt lên bề mặt một mảng sắt đã được ai đó làm sạch từ trước.

“Anh nhìn và thử xem. Đúng thế! Phải như thế…”

Tôi làm theo ông. Lúc đầu tôi thấy có chút lúng túng, nhưng sau khi thử qua vài phút tôi quen dần với công việc. Cánh tay cầm cọ của tôi trở nên nhịp nhàng và mềm mại hơn. Đến khi phải sơn phía bên trong các hộp khoang rỗng, Anthony bảo tôi nằm lên một tấm ván có các bánh xe bằng nhựa nhỏ xíu hệt như các con lăn của hệ thống ròng rọc, rồi dùng chân đẩy cả thân hình vào trong. Lúc ấy tôi mới hiểu ra. Sỡ dĩ Anthony muốn nhận tôi vào làm công việc này vì vóc dáng nhỏ thó của tôi. Chỉ những người nhỏ con mới có thể thao tác được dễ dàng trong một khoảng không gian chật hẹp như vậy. Sau một ngày làm việc, Anthony khen tôi không ngớt lời. Ông bảo tôi sơn đẹp và có mắt thẩm mỹ! Tôi nhìn ông, ngao ngán.

“Thế nào, anh thích công việc này chứ?” Ông hỏi tôi lúc sắp tới giờ nghỉ.

Tôi miễn cưỡng gật đầu. Đành vậy. Thật lòng, tôi không lấy gì làm hứng thú với trò sơn phết này. Nhưng nếu không làm, tôi lấy đâu ra tiền để trang trải cho cuộc sống của mình. Hơn nữa, ở đời đâu phải ai cũng có thể tìm được một công việc mà mình ưa thích? Tôi nghĩ cứ tạm thời làm cái công việc chết dẫm này, sau đó hẵng tìm một nghề khác thích hợp hơn. Nhưng tìm việc gì thì tôi chưa biết được. Tôi thì có khả năng gì. Mẹ tôi thường bảo, “Mày giống thằng cha mày. Chỉ giỏi được cái đi lang thang thôi!” Giá mà lang thang cũng là một thứ nghề?

 Tôi tìm đến địa chỉ cho thuê phòng đăng trên báo ở đường Spaulding, trong một thị trấn nhỏ nằm sát ranh giới gữa hai tiểu bang Illinois và Indiana. Đó là ngôi nhà một tầng, mái nhọn, vách ghép bằng gỗ, đứng xiêu quẹo trên nền đất xung quanh mọc đầy cỏ dại. Căn nhà có vẻ như muốn sập tới nơi. Hình như đã lâu lắm nó không được bàn tay nào chăm sóc. Cứ nhìn vẻ hoang phế và cũ kỹ của căn nhà, tôi có cảm tưởng nó được dựng lên từ thời lập quốc. Trông nó thật thảm thương. Thảo nào mà giá phòng lại rẻ vậy. Nhưng lẽ nào mình sẽ sống ở đây chứ? Tôi chậc lưỡi, cứ vào xem bên trong thế nào. Tôi đưa tay bấm nút chuông cửa trong một tâm trạng khá chán chường.

“Anh là ai?” Một giọng nói vang lên sau khe cửa hở.

“Bà Marian, tôi đến để xem phòng.” Tôi đáp.

Một thân hình to lớn hiện ra nơi khung cửa. Đó là một bà già không dễ gì đoán được tuổi, tóc bới gọn phía sau ót, khuôn mặt bà trắng hồng, trong khi da tay lại nhăn nheo. Đặc biệt là đôi mắt sáng trong, và cách bà nhìn tôi hiền lành đến không ngờ.

“Có phải anh là người gọi điện thoại muốn thuê phòng trước đây một ngày?” Bà hỏi, trong khi mắt vẫn không ngừng nhìn tôi dò xét.

“Vâng. Chính tôi.” Tôi cố nặn ra một nụ cười.

“Mời vào!” Nói xong, bà đứng tránh sang một bên để nhường lối đi cho tôi.

Tôi bước vào và đứng lóng ngóng nơi phòng khách. Trên chiếc ghế sofa rách mướp kê ở góc phòng, một con mèo to lớn đang nằm ủ ê, vẻ ngái ngủ. Nó đưa mắt mệt mỏi nhìn người khách trước mặt, chẳng có chút phản ứng nào. Bà Marian bước về phía chiếc bàn nhỏ đặt giữa phòng, đưa tay với lấy chai nước uống một ngụm. Hơi thở bà hỗn hển, khó nhọc.

“Nhà có hai phòng trống, để không từ lúc chồng tôi bỏ đi. Tôi nghĩ tôi có thể kiếm thêm chút ít tiền bằng cách tìm người tử tế để cho thuê…” Bà có lối nói chuyện khá cởi mở. “Tôi hỏi không phải. Anh không làm việc gì phạm pháp chứ?”

“Trước đây thì chưa.” Tôi đáp.

“Ý anh là sao. Thế còn sau này?” Mắt bà mở to nhìn tôi, giọng nói có chút giận dữ.

Tôi nói là bà đã hiểu nhầm. Tôi không phải muốn nói như thế. Thấy tôi lóng nga lóng ngóng, tay cứ không ngừng gãi lên chỏm đầu của mình, ánh mắt bà bỗng dịu lại.

“Xin lỗi, vì phải hỏi anh như vậy. Anh biết đấy. Tôi thì sống một mình nên không muốn rước thêm bất cứ phiền phức nào từ những người ở thuê…”

Tôi nghĩ bà không muốn cho tôi thuê phòng. Có lẽ bà cảm thấy không đáng tin ở những người không phải cùng màu da với mình. Trong một thoáng, tôi muốn bỏ đi để tìm một chỗ trọ khác. Chẳng ai có thể sống được với những bà chủ nhà gàn dở. Chưa chi tôi cảm thấy chán cái nhà rách này thấy mồ. Không hiểu sao tôi cứ đứng nán lại, khó nhọc nói cho bà nghe bằng vốn tiếng Anh ít ỏi của mình. Tôi kể tuồn tuột từ chuyện vượt biên bỏ nước ra đi, đến Mỹ lúc nào, và cả việc tôi vừa được nhận vào làm ở hãng sửa tàu ra sao. Tôi nói bằng tất cả nỗi bực bội của một con người đang bị tổn thương. Bà nhìn tôi ngạc nhiên. Từ trong đôi mắt bà bỗng ánh lên những tia sáng, ấm áp đến lạ lùng. Cái nhìn của bà khiến tôi nhớ đến mẹ mình. Trong một thoáng, tôi bỗng thấy mình muốn khóc.

“Thôi được. Bây giờ tôi đưa anh đi xem phòng. Nhà này vách ngoài tuy hư nát một chút nhưng cây gỗ bên trong còn chắc chắn lắm. Nó không dễ gì sập đâu. Anh đừng lo.”

Bà dẫn tôi qua một hành lang hẹp. Nhà có tất cả ba phòng ngủ, một phòng khách, một gian bếp và một nhà vệ sinh.

“Đây là phòng ngủ của tôi. Trong hai phòng còn lại, anh có thể tùy ý chọn một. Giường nệm đã có sẵn. Nhưng nếu anh muốn mua cái mới thì đó không phải là việc của tôi. Chúng ta dùng bếp và nhà vệ sinh chung. Tôi sẽ dành cho anh một phần trong chiếc tủ lạnh. Giá cả thuê phòng như đã đăng trên báo. Nếu thấy thích, anh có thể dọn vào bất cứ lúc nào.”

Tôi quyết định thuê căn phòng, có thể vì giá cả hợp với túi tiền của tôi. Nhưng cũng có thể tôi đã nhận ra trong ánh mắt bà phảng phất chút tình thương yêu của mẹ tôi chăng?

“Chắc tôi sẽ sơn lại phòng đấy!” Tôi nói với bà.

“Cứ làm, nếu anh thích thế.” Bà đáp.

“Thế khi ông nhà trở về, tôi có phải dọn ra không?” Tôi hỏi bà khi thu xếp lại một chút căn phòng của mình.

“Ông ấy bỏ tôi để chạy theo một ả chỉ đáng tuổi con mình. Tôi đã chờ đợi suốt cả năm nay. Vậy mà ông ấy vẫn chưa một lần trở lại dù chỉ để ghé thăm. Ngay cả điện thoại ông ấy cũng không thèm gọi. Đàn ông ấy mà! Mong gì. Họ quyến rũ thật đấy, nhưng cũng bạc tình bạc nghĩa lắm.”

 Hôm sau tôi ghé vào văn phòng sếp Anthony xin nghỉ làm một hôm để dọn nhà, tiện thể báo tin cho ông về chỗ ở mới. Ông nhìn mảnh giấy ghi địa chỉ và số điện thoại của tôi, vẻ kinh ngạc.

“Ở đây à?” Ông hỏi tôi, giọng như khàn hẳn.

“Sao ạ?” Tôi nói.

Ông bảo không có gì. Ông nói ông biết chỗ ấy. Từ đó đến hãng tốn khoảng mười lăm phút xe buýt thôi. Rồi ông bắt tay và chúc mừng tôi đã tìm được chỗ ở tốt. Tôi hỏi ông biết bà Marian chủ nhà của tôi không. Ông lắc đầu bảo không.

 Tôi ăn tối chung với bà Marian mỗi ngày. Bà làm nhiều thức ăn. Vì không quen đồ Mỹ nên tôi ăn khá ít. Bà bảo tôi thích ăn món gì bà sẽ làm. Tôi nói thích ăn đồ Việt. Bà cười, bảo không biết nấu. Hôm nào cũng vậy, thức ăn thì nhiều nhưng bà không bỏ sót một chút nào.

“Chẳng hiểu sao, từ ngày ông nhà bỏ đi, tôi bỗng ăn nhiều đến thế.” Bà nói như thanh minh với bản thân mình.

Chúng tôi sống với nhau rất vui vẻ. Mỗi sáng bà đều gọi tôi thức dậy đi làm, còn giặt dùm quần áo và dọn cả giường ngủ. Bà chăm sóc tôi như con. Tôi cũng thương bà như người mẹ thứ hai của mình. Lúc rảnh rỗi, tôi giúp bà dọn dẹp, cắt tỉa đám cỏ xung quanh vườn, sơn lại tường nhà. Tôi xem ngôi nhà giống như là của mình vậy.

Một tối, bà Marian đang ngồi trên ghế xem tivi thì người bỗng nghiêng về một phía, rồi cả thân hình nặng nề của bà đổ ập xuống mặt sàn gỗ ở phòng khách. Tôi vội gọi xe cấp cứu đưa bà vào bệnh viện. Bác sĩ nói bà bị tai biến. Tim bà không được khỏe. Cũng may bà được cấp cứu kịp thời nên đã qua cơn nguy hiểm. Nhưng bà phải ở lại bệnh viện ít hôm để theo dõi. Tôi gọi Anthony, xin nghỉ ít ngày để chăm sóc bà. Ông hỏi tôi là bà bị bệnh gì, đang ở bệnh viện nào. Giọng ông có vẻ bối rối và quan tâm hơn mức cần thiết. Tôi đành phải kể cho ông nghe. Hình như ông im lặng đi một lúc, rồi bảo tôi an tâm. Ông còn nói là sẽ cố gắng để tôi được trả lương, xem như tôi đang nghỉ phép.

 Chiều ấy, ông Anthony xuất hiện ở bệnh viện. Tôi nhận ra ông khi ông bước đi trong hành lang, tay ôm một bó hồng đỏ. Tôi nghĩ ông đi thăm một người quen nào đó đang ốm ở đây. Ông hỏi tôi bà Marian thế nào. Tôi bảo, bà ấy đã đỡ nhiều. Nhưng ông làm tôi cảm thấy khá bất ngờ khi đề nghị để ông vào thăm bà. Quả thật, tôi không bao giờ nghĩ ông đến đây chỉ để thăm bà chủ nhà của tôi. Ông đâu có quen biết gì bà Marian?

Bà Marian như run lên khi thấy sếp tôi bước vào phòng. Thật lạ lùng là sau giây phút ngập ngừng, cả hai bỗng ôm hôn nhau thắm thiết. Bà Marian nhìn tôi, nước mắt chảy dài trên mặt, nhưng miệng thì lại cười rạng rỡ.

“Ông ấy đấy! Người đàn ông bạc tình bạc nghĩa tôi đã kể với anh đấy!”

Nhìn họ quấn quýt bên nhau, đột nhiên tôi bỗng thấy buồn. Tôi thuê phòng nhà bà Marian mới được hơn hơn ba tháng nay, vừa yên ổn xong, lẽ nào đã đến lúc phải dọn đi. Tôi đưa mắt nhìn Anthony, trong một thoáng, tôi có cảm giác là mình đã chán ngấy ông rồi.

 

NGUYỄN VĂN

Chicago, 2014.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1300)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4786)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
30 Tháng Ba 20206:04 CH(Xem: 161)
Em hớ hênh thèm một miếng thương / Để anh dáo dát đụng chân giường / Ngoài kia dẫu dịch tràn như sóng / Anh vẫn chết chìm trong mắt em. /
30 Tháng Ba 20205:57 CH(Xem: 116)
tháng hai, tháng ba ta trở về / chiều đi lên đồi nghe mùi của đất bốc lên thoang thoảng / lá vây quanh và mây xanh trên đầu / mớ ký ức vẽ hình vòng cung /
28 Tháng Ba 20206:12 CH(Xem: 534)
Ban đầu, ông thấy người gai gai, sốt, chán ăn. Bụng bảo dạ, nhẽ mình lao động hơi quá sức. Chả là vừa tập Gym hồi đêm về sáng trên máy bay với Hải Yến xong, thì tối hôm đó lại về sân hàng chiếu ở Times city thi đấu cả đêm. Bắt buộc phải cả đêm, bởi nếu không thì khó mà sống với phòng nhì đang kỳ lửa nồng được. Dù ông biết thân trước khi lâm trận, đã viện đến bao nhiêu sự trợ giúp, ngay cả từ lúc mới xuống sân bay kia. Thế nên đêm đầu về nhà cũng làm cho em Thuận mãn nguyện. Những đêm sau thì phải cố, cũng qua bài. Gặp mặt Hội 3G, tay bắt mặt mừng ôm hôn thắm thiết, mừng công trình rực rỡ để đời đã hoàn thành. Mừng cú tuyệt tác one in hole trên chín tầng mây, thật là độc nhất vô nhị! Nhưng mấy hôm tiếp theo đi họp hành, tiệc tùng chiêu đãi nhiều thấy mệt mỏi. Càng ngày càng thấy người ốm tệ. Sốt, ho, khó thở... Hay là nhiễm cúm virus corona? Em Thuận hoảng hốt vội gọi xe đưa vào viện khám. Xe đưa ông Nam vừa đi thì cũng có xe khác đến đưa ngay cả hai mẹ con đi cách ly chống dịch.
26 Tháng Ba 202010:54 CH(Xem: 318)
Raymond Clevie Carver Jr. sinh ngày 25 tháng Năm, 1938, là tác giả Hoa Kỳ chuyên về truyện ngắn và thơ; người được xem như một trong những nhà văn lớn của nước Mỹ. Các tác phẩm chính của Carver gồm có: Will You Please Be Quiet, Please? (1976), Furious Seasons and other stories (1977), What We Talk About When We Talk About Love (1981), Cathedral (1983), Elephant (1988), Where I'm Calling From: New & Selected Stories (1988), Short Cuts: Selected Stories (1993), Collected Stories (2009).
25 Tháng Ba 202010:33 CH(Xem: 351)
Ơi bạn ta / Trong mỗi căn phòng cách ly / Hãy quán chiếu về sự chết / Hãy mở cánh cửa thâm u đã từng khóa chặt / Hãy mĩm cười về phía biển xanh / Sóng vẫn chập chùng pháp âm vô lượng nghĩa.
25 Tháng Ba 20209:32 CH(Xem: 392)
Lúc này, bên những vết tích còn lại của bản Thái hoang tàn, Cư có cảm tưởng lạc vào nơi từng ghi dấu sự tích kể về cô gái con tạo bản đã héo hon mà chết vì mong nhớ người yêu; nhưng mọi người không sao đem nổi xác nàng ra khỏi nhà, bởi hồn nàng quyết không chịu rời đi. Bản bị hồn ma ám, không ai dám ở. Còn chàng trai nghèo thất tình, khi trở về đã ôm ấp nàng suốt bảy ngày đêm mà không biết đó là thi thể giá lạnh, giữa cái bản vắng tanh...
25 Tháng Ba 20209:25 CH(Xem: 456)
Đêm đêm, nhất là những đêm trăng sáng, thỉnh thoảng có những “sinh hoạt” gì đó tôi cũng chẳng biết. Và thỉnh thoảng, có những đoàn quân rất đông người với bao nhiêu là súng ống đạn dược, kéo về trong một đêm, rồi sáng sớm hôm sau họ lại lên đường. Chắc là đánh nhau ở đâu đó. Tôi nghe loáng thoáng cha mẹ tôi nói là bộ đội chủ lực gì gì đó.
25 Tháng Ba 20209:18 CH(Xem: 302)
bao nhiêu năm ngoan cố tìm cái đã mất / giống như tìm an ủi trong tuyệt vọng / thôi thì hôm nay / hài lòng trong một phút dối lòng