- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,448,865

miên di đi mãi trong thơ

27 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 17130)


miendi
 miên di -2014


LTS: Sinh một năm sau chiến tranh Việt Nam, năm 1976, miên di là bút danh (không viết hoa) của Lê Xuân Hòa. Cái tên miên di không viết hoa là một đặc biệt, đặc biệt như tên và đặc biệt như thơ. Thơ của miên di rất gần gũi trong đời sống của chúng ta. Mời quí vị cùng chúng tôi đi vào thế giới thơ đặc biệt nầy…

 Tạp Chí Hợp Lưu

 

 

quạnh hiu


đười ươi lặng lẽ ngắm chiều
nỗi buồn tiến hóa thành điều quạnh hiu

 

miên di

 

 

bạn

nhiều lúc tưởng chẳng còn ai là bạn
loay hoay đành phải gọi chính tên mình

ừ thì sống ai mà chẳng khổ
kẻ khổ tiền
người khổ chuyện công danh
tai ương thăm người có báo trước ai đâu

mày có nhớ cái thằng hay ghẹo gái 
lấy cô bé tao yêu
giờ nằm lạnh lẽo trên đồi 
thương vợ nó mà tao không dám tới
sợ bạn mình sau cái chết vẫn còn đau

đời vậy đó !
dài bao nhiêu cũng ngắn
có thương nhau đôi lúc phải lạnh lòng
biết bạn khổ mà không đành giúp 
vì mẹ tao còn khổ gấp trăm lần

ừ vậy đó !
nhiều khi như người cụt 
dù hai tay vẫn quần quật với thường ngày
bạn bè vắng nhau cơn hoạn nạn
vì tối về còn phải bế con
vì phải sống như thằng chết nhát
vì phải hèn để tròn bổn phận làm cha

tao vẫn nhớ cái thằng nhiều khát vọng 
mớ ước mơ dễ phủ được thế thời
giờ phụ vợ bưng nỗi buồn trong góc bếp
thương cái nhìn vẫn khao khát như xưa

đám bạn mình cũng có đứa làm quan
cũng xông xênh 
cũng người đởi nể sợ
vậy mà vẫn thấy thương đời nó
bà Sáu, chú Tư ngày nào cũng chửi 
đồ đẽo lương tâm để vừa với chỗ ngồi

rồi có đứa anh hùng nộp thuế
bỗng hóa tội đồ khi lỡ chuyến kinh doanh
chết giữa chiến chinh có sử xanh làm bia mộ
chết giữa thương trường tù ngục ghi danh

*

nhiều lúc tưởng chẳng còn nhau là bạn
tao với mày chỉ là bữa cà phê
vài ly rượu dốc nỗi buồn cho cạn
không sao đâu !
mày hãy làm bạn với chính mày
tao cũng thế 
còn chính tao là bạn
hiểu cho nhau điều này
để còn là bạn của nhau

 

miên di

 

 

miền qua tay

 

cà phê như những lời kinh
đều đều rớt xuống từng tinh thể buồn

một mình tưởng niệm nụ hôn
chết trong bệnh viện tâm hồn không may
còn gì sau cuộc chia tay
tên ai đầy những cơn say rỗng người

tự dưng có một bật cười
nghe như tiếng vỡ của lời nói câm
yêu thương như một vết đâm
phủ lên ngày tháng mảnh khâm liệm nhàu

bởi vì trìu mến mà đau
liền da có phải vắng nhau là liền 
không đau nhói
không triền miên
không tên để gọi một miền qua tay

mai này gội tóc đã dài
em còn nhột cái vành tai vắng người

 

miên di



mỗi thức dậy gặp mình như câu hỏi


mỗi thức dậy 
gặp mình như câu hỏi
nghe trăm năm thấm thoắt bỏ đi 
những thằng bạn yên bình xây mộ sống 
trong mưu sinh nhạt nhẽo vật vờ

đứa làm thơ chết bằng bút mực
đứa làm ngơ sống sót lờ đờ
đứa làm quan cơ tim nhồi mưu kế 
đứa làm người không thể đầu thai

dẫu làm gì cũng chỉ là xong sống vậy thôi

mỗi thức dậy
gặp mình như chỗ vắng
cái yên vui của chiếc lá vàng
sống sót giữa chiều đợi rụng xuống đêm đen...

mỗi thức dậy nghe chuyện xưa đỏ ngực 
chỉ thầm thì như cổ tích xa xôi 
như âm hồn của những người lính trẻ 
ra đi rồi còn để lại bài thơ
để lại sự thờ ơ vạn lần đáng nhớ 
1974 dưới đáy biển âm thầm
và câu hỏi 
ai người cúng giỗ ?

mỗi thức dậy 
gặp mình như câu hỏi
nghe trăm năm rồi sẽ bỏ đi 
những sống sót như tôi và nhiều người khác nữa
trăm năm không biết để làm gì ?

câu hỏi đó đem ra bỏ biển
biển lặng câm bằng những trận bão gào
câu hỏi đó đem lên gác núi
núi bơ vơ khóc nhem nhuốc đỏ bùn
câu hỏi đó đặt vào công sở
câu trả lời vô nghĩa tháng ngày trôi

mỗi thức dậy gặp mình như câu hỏi
trăm năm không biết để làm gì 
những anh hùng đành khoác áo đi tu
gươm giáo chỉ là câu kinh thảm não

chiều lịch sử 
chiều không tiếng súng
đám chim muông tao tác điều gì ?

là cái thời sống và chết như nhau
bên trong tóc những đầu lâu chưa chết
nếu đại thụ có thể nào bất diệt
lá hoa kia đã chẳng rụng bao giờ

miên di

 

 

thử

 

một ngày thấu hiểu mây trôi
cao xanh cũng chứa tả tơi trong lòng

thử làm một chuyến xe đông
đi không để đến và không để về
thử làm thú giữa hoang khê
động tình tru thót cơn mê kiếp người


thử bỏ mình lại ven trời
như đôi dép kẻ trầm trôi xuống dòng

thử vào bệnh viện ngày đông
để nhìn vào cuộc chưa xong giật mình
một vài mầm khóc sơ sinh
dăm ba tiếng cú tâm linh gọi về
ngổn ngang thân thể gây tê
còn bao người sống hôn mê ngoài đời

thử nghe một tiếng chuông rơi
ngày như tiếng mõ rã rời chậm mau
ai cười rách cả cơn đau
câu kinh an lạc mà sâu thẳm buồn

thử dừng một nhịp luôn luôn
thử quên cho lạc con đường đã quen
thử làm một kẻ bệnh hen
để bên hơi thở như bên món quà
nẻo người gần quá hóa xa
quen đi lối khóc ngại qua ngõ cười
đôi khi hạnh phúc cũng lười
đôi khi chưa đếm đến mười đã trăm
bồng lai tiên cảnh xa xăm
trời cao chắc cũng âm thầm xanh thôi
bên trong cái sự mười mươi
vài con sâu nhỏ nằm cười héo hon

 

kén lòng nhấm cải đắng non
có buồn cũng phải buồn ngon mới buồn

thử mang cả chợ bán buôn
vào tu một chốc nghe chuông cõi thiền
thử cảm ân đấng vô biên
ban cho thức ngủ còn liền vào da
còn ai trong giấc mộng ma
ta là thân thể hay là vong linh

mệt không đuổi kịp chính mình
hai con mắt mở vô minh ra nhìn

miên di

 

 

tâm hồn mã vạch

có lần gặp Chúa trong siêu thị
bên cạnh đức tin có giá tiền

 

thời cảm xúc kim loại
tổ ấm hợp kim

thiên nhiên đóng hộp

mẹ còng lưng trên cánh đồng ký tự

cha cày dưới nắng neon

 

tôi và em
tâm hồn mã vạch
tìm nhau trong tương thích mắt dò

 

quầy tôn giáo

ngổn ngang nhu yếu phẩm tín ngưỡng
có thể chọn món đức tin quá đát, xài rồi
thời hạnh phúc thặng dư hay nỗi buồn khủng hoảng

từng con dế bị cầm tù trong hộp diêm thế sự

đấng quyền năng lạ hoắc sáng tạo trần gian bằng những vuông đắt đỏ

từng vỏ người mang khuôn mặt iphon

 

 

miên di

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2026)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 5927)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 2969)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 150)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 550)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.
17 Tháng Năm 20208:00 CH(Xem: 532)
vui buồn ở một khúc quanh giữa tối và sáng / giữ lấy hơi ấm mùa xuân của ngày tàn / mùi thơm của nhánh hoa trên tay / khu vườn đẹp như cổ tích
17 Tháng Năm 20206:43 CH(Xem: 583)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì.
14 Tháng Năm 20209:18 CH(Xem: 765)
đã qua hơn hai ngàn ba trăm bốn mươi lăm ngày đêm / thời gian không gian ngả màu / cái còn lại duy nhất / của anh của em / vẫn không ngừng mọc lên
14 Tháng Năm 20209:02 CH(Xem: 546)
Ầu ơ ru lại ầu ơ / Mẹ tôi gánh nước trăng mờ bến sông / Chưa khôn mẹ đã theo chồng / Chốn quê mẹ gửi bụi hồng níu chân / Dây trầu non nhánh ngoài sân / Mẹ theo cha bước duyên trần từ đây /
14 Tháng Năm 20208:50 CH(Xem: 521)
những hạt mưa lớn từ cơn u uất tháng tư mộng du / vấp vào giấc mơ đóng kín cửa / ngã sóng xoãi / vỡ tràn trên mặt kính /