- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Tìm hiểu thơ “Có Thể” của Đoàn Minh Châu

14 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 76652)

cothe-dmc-content
 
Từ trước tới giờ tôi vẫn tuân thủ theo Wallace Stevens “ Người đọc thơ là người hành hương, xuất phát lên đường, giãi bày” (The reader of poetry is a kind of pelgrim setting out, setting forth). Thế nhưng đối với tập thơ “Có Thể” chỉ có 31 bài với số lượng mỏng manh 40 trang khổ 13 x 20, mà tôi phải nghiền ngẫm khá lâu khổ sở hơn cả người hành hương. Vì tôi quan niệm thưởng ngọan không phải đơn thuần hưởng thụ mà coi đó như là sự tiếp thụ thẩm mỹ, tự thân phải tiến nhập vào tác phẩm để tìm hiểu tính nội tại trong đó. Nói một cách khác, là chúng tôi phải dấn thân tham dự vào tác phẩm như một tác giả thứ hai, tình cảm cũng phải đắm đuối cuồng nhiệt, cũng vui buồn thương ghét tha thiết mới mong đạt được sự thể nghiệm sâu xa về chân lý tồn tại. Nói đến chân lý là các bạn nghĩ ngay đến cái gì cao xa, thật ra theo chủ nghĩa hiện thực nó chỉ là “sự thực ở trong lí tính”; như vậy bản thân nghệ thuật chỉ là kĩ xảo, thứ kĩ xảo trình hiện sự thật lí tính. 
Cũng có thể do tuổi tác của tôi đã quá gần đất xa trời nên thành lú lẫn, có những nhận định về thơ Có Thể hơi khác thường, do đó mà có bài nhận xét này viết ra với tính cách “vấn nạn” gởi thẳng cho tác giả và những bạn chí thân để thăm dò…. Tuy nhiên cũng còn chút tự ái, nên đồng thời cũng để biện hộ cho những khờ khạo ngốc nghếch của mình, ngoài việc trình bày những câu thơ của tác giả minh chứng, tôi còn áp dụng hình thức cắt dán (montage) những ý kiến của các triết gia, học giả, các nhà mỹ học tiếng tăm của thế giới như Heideigger, J.P.Sartre, Merleau-Ponty, Gadamer, A. Badiou, E.Morin, J.M. Maulpoix, v…v… không chừng cũng là điên cả, vì minh triết và điên cuồng cũng là một lò.
Nhưng thôi hãy như Samuel Beckett “càng nói lắm càng thêm ngược ngạo”, mà nên đi vào vấn đề chính yếu là Thơ, giờ hãy nói về những bài thơ Nắng…Và trước khi đi vào việc tìm hiểu nội dung những bài thơ trong tập Có Thể, tưởng chúng ta cũng nên nắm vững cái nguyên lí này của Gadamer viết trong tập khảo cứu về mỹ học quan trọng là “Chân lí và phương pháp” (Truth and Method):
“ Sứ mệnh của nghệ thuật không phải là biểu hiện lại cái lí tưởng thiên nhiên – mà chính là phát hiện cái tự ngã của mình trong thiên nhiên và trong thế giới lịch sử. Nghệ thuật là một phương thức nhận thức độc đáo, là phương thức nhận thức chân lí, thứ chân lí truyền đạt đồng nghĩa với sự tồn tại. Ý nghĩa của nghệ thuật là dựa vào nó mà chúng ta nói lên cái gì là sự thật; con người có thể đối diện với tự thân trong nghệ thuật, vì nghệ thuật là vùng đất trời để tâm linh con người hoạt động tự do.”
 Có như thế chúng ta mới hiểu được ý nghĩa “Nơi mùa hạ đi qua”,cũng như những bài khác. Mùa hạ ở đây là mùa của khô hạn, nắng nung, đầy tai họa khốn khổ, thứ thần quyền của ác ôn, chứ không phải là thần Thái dương hiền hòa, là nguồn ánh sáng tạo ra sự sống.”Mùa hạ không mang dấu vết”,đây không phải là hiện tượng của hư không, mà dấu vết phải hiểu như là dấu ấn là tiêu biểu cho không có gì là sở hữu ; “nằm mơ trên bàn tay trống trơn” là không có gì cả. Thế nhưng lại đầy uy quyền ngự trị hay khống chế tất cả, nên khi mùa hạ đi qua thì cả không gian và thời gian chìm trong bầu khí oi nồng nóng bức…
 “khi cánh cửa mở ra” cánh cửa có thể hiểu là cửa của một thành phố hay một quốc gia. Mở ra nếu dịch ra Hoa Việt thì đó là khai phóng, chữ Khai lại là bộ môn, nên câu “cánh cửa mở ra” có lắm ý, hiểu thế nào mà chả được. Có điều gió vào phòng lắng nghe cây xương rồng sắp chết , một loại cây sanh sống ở sa mạc mà cũng không chịu nổi sức nóng nung của nắng hạ.
 Nhà thơ hay vận dụng ngôn ngữ một cách táo bạo không sao nói được, nó xoay trở ngôn ngữ sao cho vừa vặn thích hợp. Từ ngữ với họ không còn là phù hiệu chủ đạo, mà đúng hơn là sự bày tỏ đặc biệt chính xác của cái đẹp gắn liền với sự mất quyền sở hữu và ngay cá với việc bất an (Maulpoix).

“kể câu chuyện về một mùa hè trĩu mệt
“trong hơi thở rã mục cúa đêm mất ngú -
“đôi chân mang nỗi buồn của trái tim
 như một trưa tháng bảy

Nhà thơ chống lại sự khó nói bằng sự đa nghĩa, đưa tư tưởng thâm nhập vào cơ thế tưởng tượng “ đôi chân mang nỗi buồn của trái tim, bước đi vô định trong mùa nắng cháy”.

Hay nói một cách khác, thơ là khép kín. Sức mạnh của nó là sự mặc khải quyện lấy xung quanh một ẩn ngữ - thành thử cái điểm của ẩn ngữ ấy tạo ra tất cả thực tại bất lực của sức mạnh chân lí. Trong ý nghĩa này cái kì bí của văn tự thành một mệnh lệnh chính; nên không lạ khi Mallarme duy trì ý tưởng “luôn luôn phải có ẩn ngữ trong thi ca”. Do đó chúng ta phải hiểu những từ “mùa hạ trĩu mệt, hơi thở rã mục, bước vô định, mùa nắng cháy….” bằng tính thực chất sâu xa ở phía sau nó – là cả một thời đại, một kiếp sống đầy khắc nghiệt.
“chỉ còn mơ về giấc mơ sắp tới
mắt cay xè
tỉ mẩn gom trong giọt nước buồn tênh ngày hạn
còn giọt hiếm hoi nào chảy trên mặt đất

Có sống hay cảm thông những giây phút đáng thương đó chúng ta mới thấm thía với sa mạc ý nghĩ của tác giả “ta hóa thành loài xương rồng xanh, mọc lên trong giấc mơ đầy bụi”.
Theo chúng tôi, mỗi từ ấy ngoài tính ẩn ngữ còn là một niềm đau tha thiết… để viết tiếp về nỗi buồn “Tháng sáu” cũng là mùa hè…theo lịch là cuối hạ, nhưng với VN nhất là miền trung và bắc là đi vào mùa nắng gắt. “nắng đã dày …thêm lên thành oi bức khó thở, nhưng đáng buồn là cả vấn đề nặng trĩu suy tư. Mùa không còn là mùa của không gian thời gian, mà là mùa của hoàn cảnh của thời thế, mùa của con người ngự trị lắm phiền hà, hay có mưa dông là sấm sét uy quyền. Nói như Heideigger, làm cho con ngừơi lo lắng ưu phiền, sợ hải. Khi thành phố trắng xóa mưa chiều, mưa đây không phải là mưa móc của ân huệ mà là tàn phá xóa sạch bụi bặm của cuộc đời con người.
Niềm tin yêu đã không còn, và cuộc sống như người thua cuộc buông tay đầy chán chường… Chân có bước đi như chưa bao giờ tới “ chán chường ủ mục dấu chân” ( Đi), hay mang nặng nỗi buồn của trái tim như trưa tháng bảy (nơi mùa hạ đi qua)’ . Tuy nhiên hãy nhẫn nhục mà tiếp nhận dù ngang trái quằn quại, lâu rồi cũng thành thói quen, coi cuộc đời như chiếc lá khô ngoài cửa tự đốt dần mòn.
Xanh ngày hay ngày xanh còn lâu mới tới, ngày của ước vọng đợi chờ…Tháng sáu mưa hiếm hoi nắng hạn khó có mưa là chuyện của thiên nhiên, nhưng mưa ở đây là mưa của con người, của uy quyền ban bố chỉ dành cho một giai tầng nào đó thôi. Lại đặt niềm tin vào số phận, vào định mệnh…tạo hóa hư không…
“lẽ nào trời đất quên nhau” vẫn còn quy luật của âm dương, của nhân quả, đời luôn luôn biến thiên, là vẫn còn hi vọng , còn đợi chờ… biết bao kẻ đã ra đi….
Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật, kể cả thơ, là cảnh giới tư tưởng, chứ không phải là thủ pháp biểu hiện; nói thế chứ thủ pháp (tức kĩ thuật) cũng rất cần là phải vận dụng sao thật kín đáo mà vẫn thể hiện được chân lí, bài “Đi” là tiêu biểu. Nắng tháng bảy, nắng chói chang, nắng loá mắt, làm mất cả phương hướng
nắng lộng trên đầu – phố nhão dưới chân Nắng bao trùm cơ thể nên phải Đi thôi. Đi như chảy
Như mỗi bước rữa tan vào đất Làm tôi không sao quên được câu thơ của đứa em vụng về, mỗi lần gặp nó là tôi như muốn khóc, tiếc rằng “ tuổi già hạt lệ như sương”:
Phương nam tràn cả nắng - Bao giòng sông quên nguồn
Và câu chuyện đau thương ở quê tôi trong thời xa xưa: một em bé khoảng 3,4 tuổi, ngày thường mẹ nó đi hái dâu nuôi tằm hay cho nó đi theo. Dâu trồng trên bãi phù sa cát trắng. Một hôm mẹ nó đi vắng, bỏ em bé ở nhà một mình. Nó cũng cứ nghĩ mẹ đi hái dâu, nên lững thững theo đường cũ tìm mẹ, ngờ đâu khi lạc vào bãi dâu trưa nắng khát nước chồn chân, chắc chắn chỉ có biết khóc gào mẹ ơi mẹ hỡi, rồi gục chết trên cát nóng. Mỗi bước chân đi của Minh Châu tự trói mình bằng tình yêu xứ sở…. Cũng chết chóc đau thương đầy máu và nước mắt… chứ có đâu đơn gỉản chỉ là những ước mơ thiếu thốn hình hài – những chán chường ủ mục dấu chân – để em gom tất cả những ngày hạ làm món quà dành sẵn…ấm mùa sau người về. 
Sống là sống ở đời, hiện hữu tại thế với cái hành trang phải mang theo là cái Ngã thân xác nặng nề và tinh thần rắc rối phức tạp. Đúng là như “chiếc vali” hơi lạ là mang suốt muà hè mùa của nóng bức oi nồng cay xè mắt…trong hơi thở rã mục… gom những giọt nước buồn tênh(nơi muà hạ đi qua), đúng như Lacan từng nói: có những sự thật không sao nói hoạch toẹt, mà chỉ nói nửa vời, nói bằng ẩn dụ, bóng gió xa xôi. Người thưởng ngọan cũng phải sống qua cái màn lờ mờ đó “thân cát bụi nằm im nghe ngóng” đúng là thái độ tiêu cực nếu muốn an thân – bài ca “của chiếc lá khô cong mình “ hay khom lưng cúi đầu chấp nhận, mà không chấp nhận thì có nước đi đời…chuyển màu đỏ sẫm như mảng máu bầm..
May mắn lắm, mà cũng rất hiếm hoi là trong cơ thân của chiếc vali nhét dầy kín kẽ ( nào trách nhiệm , bổn phận, tôi đòi cung phụng) còn có chút nguyệt quế nở bung giữa rằm. nở theo bản năng như mắt phải mở, miệng phải nói, nhưng cũng lén lút trong đêm, như con lân nằm mơ tiếng trống trong mộng mị, trong tiếng mưa xối xả…phải hiểu là trong giây phút tự do thầm lén nhét đầy kín kẽ trong góc vali.
Một góc nữa là cơn gió nhiều ngày dồn lại - len lỏi giữa khe hở của nỗi nhớ nhung chật chội. Ai đã nói (tôi cũng chẳng nhớ) thi nhân là thiên tài của kí ức, chính là sự nhớ nhung tích lũy nhiều ngày, thường là hướng về những nơi chốn hay những liên hệ của một thời đã mệt, cầu mong sự liên kết giữa không gian và thời gian; nó là công việc của kí ức.
Góc thứ ba là nhân những buổi chiều vắng lặng tự thấy mình vô cùng cô đơn nên đâm sợ hãi, bất an, bàn tay lạnh thả tuổi mình bay đi…Nhưng tuổi tác mà bay đi đâu, chẳng qua là hành trang thể xác như biến mất thành hư không, một bóng chim trong môi trường thị giác, một áng mây bay tan biến, một tiếng chuông không vang lên , tất cả hướng về hư vô, hay nói như A. Badiou: đến giây lát ở đó không có gì để nói cả, đây là trạng thái của sự vật, nhưng vật hiện hữu. cái vali của cơ thân hoàn cơ thân xách qua mùa thu…, thời tiết có đổi thay, nhưng con người cũng như thời thế không hề thay đổi. Mùa đây phải hiểu là mùa của tuổi đời, chỉ có thêm đôi mắt đợi chờ những điều biết trước hay đoán trước, với hình ảnh người thương yêu hay lí tưởng cũng thế thôi, thành một cơn điên nhét xuống đáy vali hay đáy lòng có khác gì nhau. 
Nói như J.M.Maulpoix, thi nhân không phải chỉ có quay về, nó cũng là người tiến lên, luôn luôn nhiều hay ít trong sự khởi hành sắp ra đi hay đang cất bước, nó kêu gọi và đòi hỏi tương lai, như Oship Mandelstan từng nói: “thi nhân như là cái máy chụp bắt lấy tương lai”. Chưa chụp bắt được thì hãy Đợi chờ tưởng tượng “chuyến đi còn dài lắm, nhưng đi là đủ rồi; những ngọn gió Thái bình dương thổi khô bụi cỏ trong vườn . Từ nào ở đây cũng mang một nghĩa ngầm như vườn là nhà, là nước…mang mùi thơm dại chạy suốt cuộc hành trình – lúc nào đó ngước mắt lên trời – người sẽ thấy đường chim bay mãi mãi về phương Nam, dù là một phương nam héo úa tàn tạ, vẫn muôn thuở với ảnh hình “Việt điểu sào nam chi”.
 đã đủ đầy những mỏi mệt chồn chân – đã tan hoang với cơn gió trái chiều
 hay đúng hơn theo hiện đại là “xoắn lại” theo cách thế của cây gậy thần rượu, một ngọn lửa, một dấu hỏi, cùng lúc nó sống trong hiện tại mà quay về với dĩ vãng và phóng chiếu vào tương lai. Với niềm mong ước là người trở về vẹn nguyên – nhóm một ngọn lửa bằng lá cây khô trước sân ; hay chiếc lá từng cong chuyển màu đỏ sẫm như máu bầm, hay chiếc lá khô lăn quăn trên hè phố để đốt những giấc mơ xưa cũ.
Ngày nay chúng ta đang đi tìm ý nghĩa của cuộc đời, và ý nghĩa chính đáng nhất vẫn không ngoài ý nghĩa của tình yêu. Nhưng tình yêu là gì? Nó là đỉnh điểm kết hợp sự điên khùng và khôn ngoan – lời của Edgar Morin. Khi tha thiết thì tha thiết không tưởng nổi…. Hãy nghe MC kể lể: … “suốt những năm tháng tôi đã sống trong một cuộc tình phi lí mà tôi hằng gìn giữ dù không thể nào hiểu nổi…. thoảng lúc cái hình ảnh thân yêu trở nên vô cùng lạnh lẽo và xa lạ xô tôi vào miền thinh lặng lảng tránh nhịp thao thức đời sống chính mình… Để thành thơ “Có thể một ngày em mất anh”
 Là ngày- em không còn nghĩ gì về anh nữa…. vì… đã biết bao yêu thương – cũng chừng ấy chán chường
Có thể một ngày em muốn đi trên con đường lạ - có thể một ngày chẳng ai hiểu nổi – ta mất nhau
 Từ tình yêu đến tôn thờ một lí tưởng có khác gì nhau đâu; mặt trái của yêu thương là chán chường thì mặt trái của lí tưởng là bẽ bàng ê chề thất vọng. Nhưng cắt đứt tình yêu thường thì quá dễ chứ muốn thay đổi con đường lí tưởng không phải dễ đâu, nhưng tuyệt từ trong tư tưởng có khi lại dễ hơn tuyệt từ tình yêu, như em gạt bỏ một ước mơ ( cứ ngỡ rằng có thật)- gạt bỏ một niềm tin (cứ ngỡ rằng vững chãi). 
Tác phẩm nghệ thuật có hiệu lực của một thứ khoảng cách, nó đem cái thế giới hiện thực do tâm linh cảm tính chúng ta tiếp xúc cách li và xua đi, từ đó sáng tạo ra một thế giới cảm tính đầy hư ảo… Đó là hiện tượng “thẩm mỹ trầm tư” khiến chúng ta cách tuyệt với thế giới hiện thực, từ đó tiến vào cảnh cô tịch thẩm mỹ; không có thứ cô tịch này thì không thể nào đạt được cảnh giới tối cao của thẩm mỹ kinh nghiệm, tức là nói cái này mà thực ra là chỉ cái kia. Đó là bộ mặt thật là bản chất tồn tại là chân lí. Trong tác phẩm nghệ thuật còn bao hàm hiệu quả lịch sử, trong quá trình tìm hiểu thẩm mỹ phải biểu hiện một thứ hiệu quả lịch sử. Gadamer nói rõ: “bản văn nghệ thuật mang tính cởi mở, ý nghĩa của nó là vô cùng, do đó mà sinh thành siêu việt thời đại của nó”.
Giờ hãy nói đến Mưa. Nếu nắng trong thơ MC là đau khổ, thì mưa dường như là niềm hạnh phúc, nhưng cũng chỉ là thứ hạnh phúc trong mơ tưởng mà thôi. Do đó về hình thức Mưa lõa thể có cách bố trí như Nắng là toàn bài không viết hoa, ngoại trừ hai chữ là Mùa và sông Hàn. Cũng nên nhớ là mỗi từ, tự trong thơ MC mang nhiều ý nghĩa, nó thay đổi tùy theo bài, theo câu. Như từ Mưa là của đất trời, thiên thần, âm dương hài hòa, mưa cũng là máu và nước mắt của con người, là tinh khí…, hàm chứa bao vẻ đẹp tinh hoa, mưa là ân huệ của cấp trên, của vua chúa ban cho thần dân…Mưa cũng có sức mạnh tàn phá như lũ lụt dữ dội. Mưa lễ tình (valentine) là mùa của tình yêu siêu việt, nó là nguồn tình cảm cao quí vô tận, nhưng lại rớt vào những cơn mưa. Mưa của đất trời tình cờ, cũng có thể đặt nó ngay trong một xã hội, một thế giới kĩ thuật coi vật chất là tất cả. Tình yêu thay vì thăng hoa đã hạ cấp hóa chỉ còn là trò chơi vật chất…Có như thế mới xây xẩm mặt mày - bước chân dạt về phía nào cũng dập dềnh - gió - sóng
Nước sông Hàn đục lâu rồi vì nó vắt ngang giữa một thành phố kĩ nghệ hóa, nó vật chất hóa ngay từ chóp bu. Còn chăng vẻ đẹp của tình yêu chỉ có ở những con phố bên kia …mới rực rỡ đèn hoa kẹo ngọt .
gió bắt đầu tạt qua chiều là trở về với thực tại, nơi đây : căn phòng ướt lạnh cái nhìn người đàn bà trẻ - chới với trong tiếng gào thê thiết của con mèo gọi bạn . Ngôn ngữ thơ ở đây là ngôn ngữ của cơ thể, theo Merleau-Ponty, cơ thể là trung tâm của tri giác, tri giác ở trong cơ thể và là chủ thể, nó là cơ cấu của một thứ sáng tạo tính. Tri giác có tính chất sáng tạo, nhưng nó không phải như cái kính lấp lánh phản ánh đối tượng cảm xúc, mà là tính sáng tạo cấp ý nghĩa cho đối tượng. Cùng lúc nó cũng mang tính trực giác, nó là thứ hoạt động phản tỉnh. Merleau-Ponty cũng xác định: “Nghệ thuật là phô bày biểu lộ chân tướng của sự vật, chân tướng ấy lại tiềm ẩn trong vật chất hiện thực, chỉ thông qua tri giác mới thể nghiệm được sự tối tăm của chân tướng sự vật; cũng là cách thế để bảo trì trạng thái thần thánh của nó. Nghệ thuật phải thông qua phương cách đặc biệt của tự thân mới có thể thấy được đối tượng và biểu hiện được ý nghĩa có thể thấy được đó. Nhiệm vụ của nhà nghệ thuật là khiến cho sự tồn tại của đối tượng không thể thấy thành thấy được, bộc lộ ra chân tướng tồn tại”.
 Nhờ thế chúng ta mới lí giải được : trong giai điệu hoang tàn của một chiều ướt nhẹp
 Sợi sợi mưa lõa thể đẹp như một xác thân đang thời kì hé nở…
 Nguyên nhân chủ yếu của nghệ thuật là tính ngôn ngữ, bản thân ngôn ngữ là sáng tạo, thủy chung mang tính chất khai phóng, do đó nó luôn luôn biến hóa và là cơ sở kéo dài cách tân. Khi nói đến giai điệu thì phải hiểu là cái gì đẹp đẽ huy hoàng hòa hài biểu hiện bằng màu sắc, bằng âm thanh…của thế giới kĩ thuật văn minh rực rỡ; thế nhưng đó chỉ là cái vỏ bên ngoài, còn nội tại của nó là cả một thế giới hoang tàn của một cơ thể rã rời sau những giờ phút hoan lạc như một chiều ướt nhẹp. Phải hiểu ngầm từ “ướt nhẹp” là một từ, nói như người xưa là vô cùng đắc thế của một hiện tượng rã rời tàn tạ của một thứ văn minh kĩ thuật đầy vật chất.
Chính trong cảnh hoang tàn đó mới thấy sợi sợi mưa lõa thể đẹp…cái đẹp của cơ thể là siêu việt là tinh hoa nhất trong vạn vật . Phải chăng đó là hiện tượng nghệ thuật, giữa cái thế giới hỗn mang của văn minh vật chất chỉ có nghệ thuật chính xác mới đúng nghĩa của nó mới tồn tại – dù nó có mang nỗi buồn đi nữa cũng vẫn ấp ủ những nỗi niềm hi vọng thanh cao xanh xanh tỏa ra khắp nơi.
Tri giác ngoại tại và tri giác của cơ thể tự thân là một như nhau, vì nó là hai mặt của cùng một hành động (M.Ponty). Do đó “mưa lõa thể” chỉ là mở đầu của dòng tình cảm tràn đầy (17 lần nhắc đến trong tập thơ) ở đây chúng ta chỉ nêu ra đôi ba bài tiêu biểu.
Từ những nỗi buồn xanh ấp ủ (mưa lõa thể) đến “Kí ức mưa” là nỗi buồn dằng dặc. Mưa ở đây là mưa của đất trời hay đất nước. Nỗi buồn cô đọng (buồn sánh và trong veo) lan tràn giàn trải tràn đầy…
chưa bao giờ thấm thía cái lạnh…. Một ngày xưa lắc – theo tôi cái lạnh này là tươi mát vắng lặng thanh bình mới nảy ra chuyện lãng đãng trên bầu trời xanh….khiến linh hồn run lên trước sự cẩn trọng và tỉnh táo không ngờ … Một hiện tượng đạt đến như lúc tọa thiền; không lẽ Minh Châu cũng tọa thiền ư?
Có linh hồn phiêu lưu bằng sự tuyệt đối vô bờ - một lần đứng lại - và trôi đi vĩnh viễn…
 Để mưa mưa cứ hoài nỗi buồn ngốc dại , mưa giờ đây không phải của đất trời thiên nhiên mà là của con người…mãi mãi chiếm cứ nỗi buồn khờ dại, nhớ thương lặng lẽ ướt át như sự ướt át tháng tháng giao mùa ( đúng là ngôn ngữ của cơ thể). Có thế mới lí giải được “em vẫn tiếp tục những mong đợi xa xôi – tưởng tượng và bôi xóa - về những điều không thuộc ranh giới đúng/ sai.
Bất cứ sự tồn tại nào đều phải mang tính chất yêu thương và câu cuối bao giờ cũng đầy tính hấp dẫn :
Như đã bao lần – em giấu rất nhiều cách nhìn về anh – khi tự dìu mình về một trời mưa khác…
Mưa này lại là mưa của thời đại, của xã hội, và anh phải hiểu là hình ảnh của lí tưởng…nhưng với Minh Châu thì cũng có một người yêu bằng xương bằng thịt, cũng có thể là người đã mang đi rất nhiều cơn mưa
Ý nghĩa của một tác phẩm văn học cũng như một bài thơ chỉ có thể hiểu được nếu người ta chấp nhận cái hình ảnh đặc biệt tạo nên ý nghĩa ấy (B.A. Hirsh). Như mưa ở đây là mưa thuộc lãnh vực nội tại, mưa của bản chất thần thánh của thiên nhiên tạo hóa tự do. Nó là nhu cầu là nguồn sống cấp thiết của vạn vật của con người không sao diễn tả hết được. Chờ Người ở đây cũng vô cùng rắc rối, vừa có tính cá thể, vừa quần thể, một giai tầng, một tầng lớp đủ cả. Có thế mới mang cả tiếng vọng của cơn dông ì ầm ngoài biển; thật ra là một hình ảnh khá đẹp, nhưng chưa đủ để nói lên những hãi hùng sóng gió bão tố lẫn với bao đau thương thảm khốc… Để lại nơi này mùa hạ đỏ hoe đôi mắt, cái không gian sục sôi nóng bức đã biến ngày thành đêm, cõi dương đã thành âm đến nỗi mình cũng không còn nhận ra mình (ta lạc mất dáng mình trên từng lối đi quen). Dạo quanh phố như tìm kiếm vật gì, mà có vật gì đâu để tìm, chẳng qua chỉ đi lơ ngơ láo ngáo – nghe nỗi buồn vây quanh – con đường lạnh tanh một niềm hất hủi…
Phải chăng vì không hòa mình được với quần thể cuộc sống trở thành lạc loài. Cả đến giấc mơ cũng bị mang đi, nghĩa là mọi mơ ước cũng không sao mơ ước được. Nếu giữa khuya mà giật mình thức giấc là thức luôn để nghe bao nhiêu phiền toái quấy rối, như tiếng chuột cắn xé giấc ngủ… Cuộc sống lạc loài còn đỡ, đằng này sống không ra sống, chết không ra chết, vì ban ngày thì công việc bề bộn : tất bật bàn phím giấy tờ, bàn tay, ánh mắt, bước chân nhòa vào dòng người đổ xô – từng phần cơ thể bỗng thành kẻ khác – đêm ngưng lại những câu chuyện mùa hè ...(ngày và đêm).
Nhưng nội dung thơ “Có Thể” không phải chỉ có Nắng và Mưa, mà còn lắm vấn đề, đặc biệt là đời sống nội tại tâm linh với những u uất không giãi bày. Trước tiên là tính kiên cường của giới nữ trong thế kỷ 21, nó không còn nhu nhược yếu đuối trong đau thương mà vẫn tỏ ra chịu đựng vững vàng trước những biến cố :
Khi anh gạt em ra ngoài cuộc sống của anh - em như con chim trúng tên – chấp chới bay đi với đôi cánh gãy – Đã một lần đau - thêm một lần ứa máu – cứu em – không phải thời gian làm lành vết thương - mà lòng kiêu hãnh. Tình yêu là nhát dao chém thẳng – vết sẹo suốt đời cưu mang.
Khi anh gạt bỏ…..cây vẫn xanh và hoa vẫn tím trời. Em gạt bỏ ước mơ - gạt bỏ niềm tin – (dù có) thêm một vết sẹo dài.
Mới thấy cái uy nghi của một thiếu nữ trong thời đại mới; dù rằng trong tâm tư như đang chết dần…trải qua bao tháng năm vẫn sống trong một cuộc tình phi lí mà tôi hằng gìn giữ…Không có gì đau bằng :thoảng lúc cái hình ảnh thân yêu trở nên vô cùng lạnh lẽo và xa lạ xô tôi vào miền lặng thinh lảng tránh nhịp thao thức… (Tan vào buổi chiều). Để thấy rõ từng phần cơ thể như rã tan vào không gian. Nhưng khổ thay các triết gia hiện đại lại nói rã tan là tồn tại, là hiện hữu, vì vô là hữu. Đến nỗi cuộc đời không còn biết bắt đầu từ đâu, và kết ở đâu. May mắn là có chút tâm hồn thiên phú, si mê nghệ thuật, biết lắng nghe thanh âm rối bời trên đường phố, nghe cây hát, biết ngắm những sắc màu chuyển động trên lá bàng.
Biết điên khùng của yêu thương và bận rộn của âu lo (không biết bắt đầu từ đâu và kết thúc từ đâu). Không lẽ Minh Châu cũng ý thức được tình yêu mang một mâu thuẫn đặc biệt, đó là sự hiện diện của điên khùng và khôn ngoan. Cái đẹp của tình yêu chính là sự biểu hiện cái chân lí tự ngã qua kẻ khác hay ngược lại, là xuyên qua tha nhân thấy chân lý bản thân (E. Morin). Hay nói như Morin, sự khôn ngoan và điên cuồng không những chẳng bao giờ xa nhau, mà còn tương sinh lẫn nhau. Như chúng ta biết thi ca không chỉ là cách thức diễn tả văn chương, mà còn là trạng thái bất bình thường, đưa chúng ta đến chia xẻ, cuồng nhiệt, kinh ngạc thán phục sự cảm thông, sự say sưa, sự phấn khởi, và chắc chắn rằng tình yêu chứa đựng nơi nó tất cả những cảm nghĩ của trạng thái bất bình thường. Ý nghĩa của thi ca và tình yêu là ý nghĩa có phẩm tính cao cả trong cuộc đời. Nó ràng buộc đời đời âu cũng là định mệnh, là nghiệp chướng. Nên “trong thành phố mùa đông”- mùa của lạnh lẽo cô đơn, đêm thành phố không anh – thành phố tình tự với dòng sông sâu thẳm – dòng sông ôm chặt vào lòng dịu dàng như chiếc chăn đêm…Hay khi thời tiết báo hiệu xuân về em cũng nghe lòng rộn ràng …. Em vẫn nhìn anh bằng ánh mắt mùa xuân năm trước – nghe hơi ấm quanh mình – em mang về căn phòng và trải lên chăn (bài thơ ngày giáp tết)
 Để rồi có đêm nào như đêm này – mưa ướt nhẹp - em ôm tay mình dỗ dành bằng giấc mơ về đốm lửa –
Cháy trong mắt anh ngày xưa (Đốm lửa). Sức mạnh của ngôn từ là thi ca, nó không có chức vụ nào khác là vẫn bất lực là nêu ra chức danh chính xác. Tư duy tích cực cũng không thể chỉ xuất đích danh sức mạnh ấy, bài thơ luôn luôn ở trạng thái phi tạo tác (Alain Badiou). Đây là cái tâm trạng rối rắm của cả cuộc đời tác giả, dù chưa phải dài chi cho lắm, chỉ mới hai mươi mấy năm trời, chung qui cũng chỉ có tình yêu là chính yếu, bao sự kiện bao nỗi niềm dở dang…chỉ muốn xóa đi…. Đôi mắt của bức ảnh treo trên tường với những ám ảnh cô đơn….những giọt nước mắt lõm sâu kỉ niệm - cái bóng của đêm tối – như tan vào bụi – trên tay tôi - thành một mớ bòng bong - chẳng bao giờ gỡ nổi – những mộng mơ nằm lặng thinh như cái chết – (Xóa) Nhưng nói như Heraclite “chết để sống, sống để chết”. Những phân tử của chúng ta thoái hóa và chết đi bằng cách sử dụng cái quá trình phân hủy làm chúng ta trẻ lại. Ái tình cũng vậy nó chỉ tồn tại bằng cách luôn luôn tái sinh. Tình yêu chính là tái sinh thường trực tình yêu bẩm sinh, tất cả cái gì xây dựng thành xã hội, tất cả cái gì được tạo lập trong đời bắt đầu phải chịu sức lực tan rã hay biến thành nhạt nhẽo. Vấn đề gắn bó trong tình yêu thường là bi kịch(E. Morin).
 Công việc tìm hiểu thơ Có Thể của tôi đến đây cũng có thể gọi là tạm đủ. Trước khi dừng viết, với tính chất cắt dán, để kết thúc cho bản văn tôi lại mượn lời của Maulpoix để nói rằng :”Sự nhận thức thi ca không phải chỉ là sự suy tầm một ánh sáng trong đêm tối, mà là những bóng tối trong ánh sáng, nó thấy xa xa những hình thể nhợt nhạt yếu đuối, nó biết rằng có lắm điều bí mật trong vũ trụ mà có lẽ đã bị che giấu bằng cái áo khoác của ánh thái dương. Nó không hề tìm hiểu ý nghĩa của sự kì diệu, mà chỉ tìm hiểu sự khó hiểu hằng ngày. Tất cả cái nhìn với nó là nhân sư (sphinx), tất cả ngôn từ đều là vu thuật khó hiểu, mỗi một cọng cỏ, mỗi một thân cây đều chứa đựng thần thân hữu hay hung ác. Thái dương chỉ 1à ánh sáng hư vô và trên chiếc lá hiển hiện sự trắng bạch, ngòi bút mà nó thường dùng không hề quên noi theo đường gân của hố thẳm.
 
Và cuối cùng để có một nhận xét về thơ của Đoàn Minh Châu lại phải mượn lời của Kim Thánh Thán mà nói rằng: Thơ là lời chân tình, chân ý, chân tâm của người mà thôi; không có sự chân thành thì không phải là thơ. Vậy tập thơ Có Thể dù mỏng manh cũng đạt được sự chân thành đáng yêu.
 
 Khổng Đức
(9-2012)
 
 


 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 254)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 233)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 426)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 372)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 507)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 633)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1039)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1110)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:50 CH(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2051)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
07 Tháng Tám 2026(Xem: 630)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11075)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17721)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16771)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 424)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 507)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2050)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2565)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 371)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2437)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2199)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2791)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1039)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1109)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1651)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2428)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 253)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 230)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2272)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3100)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14424)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30493)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36776)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12192)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13534)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3962)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 6000)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5476)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6042)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6688)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9003)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8296)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11235)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.