- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CHIÊM NGHIỆM TỪ ” ĐỔ TIẾNG CHUÔNG CHÙA” CỦA NHÀ VĂN VŨ ĐẢM

23 Tháng Tư 201312:00 SA(Xem: 71953)


bia_do_tieng_chuong_chua-content


Nhà văn VŨ ĐẢM vừa cho ra mắt tập truyện ngắn” Đổ tiếng chuông chùa” do NXB Thanh Niên ấn hành năm 2013. Tập truyện gồm 10 truyện ngắn đề cập đến nhân tình thế thái trong cái thời cuộc đang đầy biến động hiện nay. Không chỉ cái truyện ngắn” Đổ tiếng chuông chùa” lấy tên cho cả tập mà trong mỗi truyện, đọc xong ta như thấy ngân lên một hồi chuông do ai đó thỉnh lên để ta lắng nghe, chiêm nghiệm, lại như chính ta muốn thỉnh lên một hồi chuông để thức tỉnh chính ta.

 Ra ngõ gặp ba người, một truyện ngắn vừa đạt giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của Báo Sài Gòn giải phóng và Hội nhà văn TP.HCM tổ chức năm 2012, truyện khá ngắn nhưng tư tưởng và tính triết luận lại ngân cao. Hạ Văn là một trí thức, đọc cả một bồ sách và cho rằng ta đây hiểu cái đạo ở đời, muốn giúp đời những điều to tát nhưng đời lại không hiểu mình nên suốt ngày chỉ chúi đầu vào đọc sách giải khuây, bỏ cả việc làm, bỏ cả chuyện vợ con. Rồi một ngày Hạ văn đi ra ngoài tìm thầy theo lời dạy của Khổng Tử, trong ba người gặp ngoài đường thế nào cũng có một người gặp ta. Hạ Văn đi, lúc đầu gặp một ông giáo sư, ông bảo có thể làm thầy Hạ Văn bằng cách hướng dẫn Hạ Văn làm luận án tiến sĩ; làm bằng tài năng sẽ thành nhà khoa học nhưng làm khoa học thì nghèo nên Hà Văn không theo. Còn làm tiến sĩ bằng tiền thì thể làm quan to nhưng làm quan mà dốt nát thì phải quỵ lụy ươn hèn nên Hạ Văn bỏ đi, không theo. Rồi Hạ Văn gặp một doanh nhân, bảo có thể làm thầy Hạ Văn bằng cách dạy cho Hạ Văn trở thành doanh nhân bằng nghệ thuật bán hàng, nói thách cao nhưng giảm giá lớn thì dân sẽ tham rẻ mà mua. Hạ Văn cho là lừa đảo nên bỏ đi. Rồi Hạ Văn về vùng quê, thấy cảnh sông nước yên bình lấy làm thích và nảy ra ý định về đây mua đất để thỉnh thoảng về về sống, câu cá sông, gối đầu lên cỏ mà đọc sách. Nhưng chợt nghĩ bọn dân quê vốn thất học, tham lam, lại sang vay tiền, lại sang mượn sách rồi không có giấy chùi đít lại chả tiện tay xé đi vài trang thì sao? Đúng lúc đó có đứa trẻ trâu đi qua, thấy Hạ Văn đeo nhiều vàng trên tay, trên cổ thì khuyên Hạ Văn hãy cất ngay đi kẻo lại thiệt thân. Hạ Văn cả cười bảo đến giáo sư, doanh dân còn chả làm được thầy ta chứ sá gì cái thằng nhãi ranh này? Rồi cứ thế thiu thiu ngủ, được một lúc vãi đái cả ra quần khi có hai tên cướp lăm lăm dao lột hết vàng, tiền bạc. Lúc hai tên cướp đi xa, hoàn hồn xong, Hạ Văn cắm đầu chạy vào làng, miệng lẩm bẩm:” Thầy ta, thầy ta!”. Thế đấy, đâu cứ giáo sư, tiến sĩ mới làm thầy được mà ngay một đứa trẻ trâu cũng có thể trở thành thầy ta ở trong một hoàn cảnh nào đấy!

 Con chim lạ, một truyện ngắn lấy từ hình ảnh con chim cu gáy ở ngoài đời, loài con chim này có đặc tính khi gáy nó hay chúc đầu xuống, chổng đít lên. Một hình ảnh tự nhiên, đời thường của loài chim cu gáy nhưng nó đã được nhà văn Ký, nhân vật trong truyện biến thành vị cứu tinh cho ông B cán bộ tỉnh về hưu. Khi còn đương chức, ông B được nhiều người đến nhờ cậy, khom lưng, cúi lạy để ông ban phát cho bổng lộc dự án, cấp tiền ngân sách, thăng quan tiến chức nhưng đến khi ông về hưu rồi thì chả có ma nào đến lạy lục ông nữa. Đó là lẽ đương nhiên vì xưa kia họ đến lạy lục ông theo kiểu mua- bán sòng phẳng chứ không phải tình người giúp đỡ lẫn nhau cho nên ông về hưu chả ai đến mau ông nữa thế nhưng ông không hiểu điều này lại cho là thiện hạ ăn ở bạc bẽo với mình thế nên ông mắc chứng trầm uất, và mấy lầ toan tự tử. May sao bà vợ ông biết được nhà văn Ký có con chim cu gáy, nó không những hót hay mà còn có động tác cúi đầu chổng mông giống như hình ảnh nhiều kẻ đã quỳ lạy ông B ngày xưa. Bà vợ ông B hỏi mua con chim, giá trăm triệu cũng mua, nhà văn Ký không bán mà tặng bà. Quả nhiên khi bà vợ đem con chim cu gáy về treo trước của phòng ngủ của ông B, khi thấy nó vừa gáy vừa gập đầu, chổng đít, ông B đã phụ họa theo:

- Cúc cù cu, cu!

- Tuyệt, rất tuyệt!

 Đây không phải là âm thanh của tiếng chuông chùa, chỉ là tiếng đối thoại của chim và người nhưng nó xoáy sây, ngân nga không kém gì tiếng chuông trong tâm trí bạn đọc về cái bi, cài hài sâu sắc của những kẻ bị quyền lực ám ảnh, chi phối ngay cả khi đã bước khỏi chốn quan trường.

 Nếu trong truyện Con chim lạ, ông quan tỉnh B bị ám ảnh bởi sự lạy lục của kẻ dưới thì trong truyện ngắn Tây Thi tỉnh lẻ, ông quan huyện Hứa Bình lại bị sự ám ảnh, hành hạ trong từng bữa ăn, giấc ngủ về cặp vú của vợ mình. Xuất thân từ một gia đình bần nông nghèo khổ, nghe theo lời bố, ông Hứa Bình cưới con ông cán bộ xã giàu có, quyền thế, tất nhiên cô vợ ông rất xấu nên mới chấp nhận làm vợ một kẻ cùng đinh như ông. Cái mà ông Hứa Bình kỳ vọng nhất trên thân thể cô con gái ông cán bộ xã chính là đôi gò bồng căng mẩy của cô, chả là thủa bé, ông đã nhìn trộm ngực của một người đàn bà có cặp vú đẹp, trắng nên nó ám vào tâm trí ông. Thế nên đếm tôn hôn khi cô vợ cởi bỏ chiếc xu- chiêng cứng như mo lang ra để lộ cặp vú nhão nhoét vì bị mấy thằng chăn trâu hồi bé giày vò thì ông đã điên tiết tát cho cô một cái và đuổi về nhà bố mẹ. Chỉ một lúc sau, gia đình bố vợ đã cho giai nhân đến đè ông Hứa Bình ra đòi xẻo cái của quí của ông, ông sợ hãi xin tha lỗi và sang đón vợ về. Từ đó cho đến khi ông bước vào chốn quan trường rồi trở thành cán bộ chủ chốt của huyện nhưng sự ám ảnh bởi cặp vú của vợ vẫn mãi đeo bám ông, ông thèm khát được ngắm nhìn đôi gò bồng còn trinh nguyên căng cứng. Rồi cơ hội đó cũng đến khi mà huyện ông có cô Ái Linh là người trong huyện đã đạt giải Á khôi một cuộc thi hoa hậu. Nhìn thấy ảnh cô chụp trên trang bìa một tạp chí, có bộ ngực hở hang, đẹp hút hồn ông đã mê mẩn và ra lệnh cho Nguyễn Bâu là phó văn phòng tuyển cô về làm tạp vụ cho ông với ý đồ ông sẽ ngắm bằng được cặp vú trinh nguyên của cô để rồi chết ông cũng hả lòng hả dạ. Thế nhưng sau bao tháng chăm chút cô, đưa cô Ái Linh vào được khách sạn, ông Hứa Bình khóc nấc lên, quỳ xuống nói cho cô biết sự thật về nỗi ám ảnh cặp vú của vợ và nỗi thèm khát được một lần trong đời nhìn thấy cặp vú trinh trắng và xin cô cho ngắm đôi vú cô thì hỡi ôi hai vú cô đã thâm sì vì cô bị anh phó văn phòng Nguyễn Bâu lừa phỉnh làm cho cô có thai. Ông Hứa Bình ngã vật ra giường, đôi môi ông úp vào chiếc xê-chiêng trắng muốt của cô Ái Linh. Cái đoạn kết bằng hình ảnh úp mặt của ông Hứa Bình vào chiếc xê- chiêng của cô nhân viên đã lột tả lên được một hình ảnh của một người đàn ông làm quan cả đời chỉ đi tìm cái đẹp, ngắm được một lần thôi mà cũng không được. Thật là bi hài.

 Nhà văn Vũ Đảm thường có những kết của truyện rất ấn tượng và để lại trong tâm trí bạn đọc một sự khắc khoải, suy ngẫm nối tiếp cái tư tưởng của nhà văn. Trong truyện Tiến sĩ tập đếm cũng có cái kết độc đáo như vậy. Một tiến sĩ trẻ- xưng tôi trong truyện, bỗng nhiên vào một ngày đẹp trời được ông viện trưởng nhấc lên ghế viện phó để bồi dưỡng tài năng trẻ kế cận vì ông vừa đưa cháu vào thăm Văn Miếu- Quốc tử giám và ông đã đến tấm bia khắc lời của tiến sĩ Thân Nhân Trung, triều Lê:” Hiền tài là nguyên khí quốc gia...”. Ông muốn học tập cha ông, trọng dụng nhân tài, quyết định bổ nhiệm đã được ông ký cho tiến sĩ trẻ, có tài có đức nhưng đợi mãi chả thấy vị tiến sĩ này có thái độ gì nên cuối cùng ông viện trưởng đã bổ nhiệm cho một ông sắp về hưu, dốt nát nhưng lại có tiền. Vị tiến sĩ trẻ lên phòng tổ chức, chất vấn ông trưởng phòng tại sao lại không trao quyết định cho anh mà lại trao cho ông sắp về hưu thì được ông trưởng phòng nói rằng dến đứa cháu ngoại của ông muốn vào được trường Mần non điểm cũng phải cạnh tranh biết đếm bằng tiếng Anh nữa là. Anh tiến sĩ đi ra ngoài rồi chả hiểu sao anh lại đếm bậc cầu thang:” Một bậc, hai bậc, ba bậc”. Có vẻ như ngây thơ nhưng đằng sau bước chân đếm cầu thang của anh tiến sĩ là hồi chuông buồn về tệ nạn mua quan bán chức hiện nay. Dù anh có tài, có đức nhưng không có ô dù, không có tiền thì cũng đừng hòng mơ đến một chức vụ quan trọng nào đó để cống hiến, để phụng sự nhân dân.

 Cõi người, ôi cõi người mênh mông, phức tạp, nhân văn lắm nhưng độc ác cũng không ít đẩy con người vào vòng xoáy của cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn. Cõi người trong truyện ngắn Cõi người của nhà văn Vũ Đảm đã được đẩy đến đỉnh điểm về sự mưu mô, ham hố danh vọng, mê tín đến mù quáng của những kẻ lắm tiền; và cả bi kịch của những người nghèo. Kẻ lắm tiền, trọc phú muốn có danh với đời đã nghe theo lời một tay thầy địa lý xui mua đất của vợ một người nông dân nghèo rồi đặt mộ mẹ mình vào đất ấy thì sẽ trở thành người nổi tiếng hoặc làm quan to. Việc thi nhau xây mộ người thân thật to, thật đẹp; việc nhờ thầy tìm đất đặt mộ để phát quan phát lộc đang là cái mốt thời thượng. Người nông dân nghèo đã buộc phải bán chỗ đất với giá cao như đất mặt phố đang là nơi an nghỉ của vợ để chuyển mộ vợ ra chỗ khác, lấy tiền cho con trai ở Hà Nội mua nhà. Và để che mắt được dân làng, ông đã giả điên vì mồ mả bị động. Cả họ ông sợ đàn ông trong họ bị điên như ông đã hô hào con cháu trong họ di dời mộ ông ra chỗ trũng gần bờ sông. Thật đau lòng, xót xa và cõi người chỉ ấm áp lại khi hình ảnh nén hương trên ngội mộ mới của vợ người đàn ông bùng cháy như muốn nói rằng người vợ sẽ phù hộ cho chồng cho con về việc làm khổ tâm của mình.

 Đổ tiếng chuông chùa, truyện ngắn lấy tên cho cả tập là một truyện rất hiện thực trong đời sống hiện nay. Một ông cục trưởng tên Hộ có quyền lực, giàu có luôn luôn được các đối tác săn đón để được ông ban bố ngân sách, các dự án làm ăn béo bở. Họ quà cáp, lại quả cho ông bằng nhiều triệu đô la, bằng những bữa tiệc sang trọng và bằng cả những cô chân dài xinh đẹp. Trong một lần, cục trưởng được một đối tác dâng cho người đẹp gạo trắng nước trong miền sông nước còn trinh tiết với mục đích cái” ngàn vàng” của người đẹp sẽ đổi lấy mảnh đất ngàn vàng ở tỉnh nọ để làm khu du lịch cao cấp. Nào ngờ bị bọn Tú Bà dâng hàng rởm, người đẹp đã vá lại cái ngàn vàng của mình năm lần. Vì nạo thai nhiều lần, bác sĩ cảnh báo nếu cô nạo thai thêm một lần nữa sẽ vĩnh viễn không có con nên trước khi ân ái, người đẹp bắt cục trưởng phải viết giấy cam đoan, có thai sẽ bỏ vợ để cưới cô. Bị sắc đẹp trong trắng hút hồn, cục trưởng viết mấy chữ cam đoan. Người đẹp có thai, cục trưởng định dùng tiền mua chuộc cô nạo thai nhưng cô bay từ TP.HCM ra tận phòng làm việc của cục trưởng ở Hà Nội, bắt ông quỳ gối hứa bỏ vợ ngay để cưới cô nếu không cô sẽ mở cửa phòng làm việc, vạch váy cho thiên hạ biết cái thai trong bụng cô là tác giả của ông. Thật là khủng khiếp, cục trưởng Hộ đã quỳ gối, thỏa hiệp. Ngay sau đó ông đã quỳ gối van xin vợ cho ly hôn. Bà vợ vì chồng vì con đã đồng ý ly hôn và bỏ vào một ngôi chùa hoang ở ngoại thành để tu hành. Cục trưởng sau đó lên được chức thứ trưởng nhưng cô vợ trẻ đã cuỗm hết tiền bỏ đi với nhân tình, bỏ lại hai đứa con trai sinh đôi cho ông, và đau đớn hơn là để lại cho ông cả căn bệnh thế kỷ HIV. Cục trưởng đã đến chùa, van xin vợ quay về nuôi hai đứa con cho ông, may mà chúng không bị HIV, ông quỳ gối cầu Phật trong tiếng chuông chùa mà vợ ông vừa thỉnh. Tiếng chuông chùa ngân vang, thức tỉnh trong ông thứ trưởng sự ăn năn , hối cải muộn màng. Tiếng chuông chùa cũng cảnh tỉnh nhân gian về sự tha hóa của đạo đức, sự xuống cấp của văn hóa trong cuộc sống chốn quan trường hôm nay.

Trần Văn


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2045)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 1426)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2032)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1688)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2087)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1893)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 202611:15 CH(Xem: 1763)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 202610:39 CH(Xem: 1583)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2434)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
23 Tháng Tư 20264:50 CH(Xem: 2534)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9505)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16400)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15310)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15698)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 2045)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2032)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2087)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 2434)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4482)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 6290)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 5592)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 6188)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1688)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1893)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 2114)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1962)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1763)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1583)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1778)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1755)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12573)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28741)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35275)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 35141)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 10082)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12104)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1426)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2032)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 2434)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 2534)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2974)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7188)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6597)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8703)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.